1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Xu thế toàn cầu về kinh tế, khoa học và công nghệ, môi trường và biến đổi
khí hậu, giáo dục và phát triển kỹ năng, khủng hoảng tài chính và về việc cấp tài
chính cho đào tạo và nghiên cứu đã tác động mạnh mẽ đến giáo dục đại học Việt
Nam và một loạt các vấn đề cần giải quyết đặt ra cho các trường đại học Việt Nam.
Đó là các trường đại học Việt Nam cần chuẩn bị như thế nào để tham gia vào cuộc
chuyển đổi năng lượng, chống lại biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng cao. Xu
thế toàn cầu đòi hỏi các trường đại học hoạt động tích cực hơn, thể hiện vai trò tiên
phong trong sự hợp tác với các ngành công nghiệp, kinh tế và cộng đồng; và xã hội
kỳ vọng tỷ suất lợi nhuận lớn hơn trong đầu tư cho giáo dục. Các trường đại học là
một phần của hội nhập toàn cầu về văn hoá, kinh tế, công nghiệp và xã hội. Xu thế
toàn cầu trong cấp tài chính cho hoạt động đào tạo và nghiên cứu của trường đại học
là cơ sở để nhiều quốc gia chuyển đổi từ cơ cấu chi ngân sách cho giáo dục đại học
sang xu thế người học tự chi trả. Như vậy cải thiện quản trị đại học trong bối cảnh
mới là yêu cầu đặt ra cho các trường đại học Việt Nam, để tương xứng với vị trí của
nó và đáp ứng được yêu cầu của xã hội. Sự quan tâm đặc biệt của toàn xã hội cùng
với sự đầu tư và chính sách tài chính của chính phủ là nền tảng để công tác quản trị
của các trường đại học Việt Nam từng bước được đổi mới và cải thiện. Tuy nhiên,
công tác quản trị đại học ở nước ta vẫn còn bộc lộ nhiều yếu kém cần được khắc
phục, trong đó có công tác quản lý tài chính. Kế toán là hệ thống đắc lực trong hệ
thống công cụ quản lý tài chính. Điều này chỉ có thể thực hiện được khi tổ chức hợp
lý, khoa học công tác kế toán. Tổ chức công tác kế toán ở các trường đại học trong
xu thế hội nhập có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, là nền tảng thực hiện tốt công tác
quản trị đại học đối với mô hình đại học mới như các Đại học quốc gia và Đại học
Vùng.
Đại học Thái Nguyên là một Đại học khu vực đa ngành, đa lĩnh vực bao gồm
các trường đại học thành viên, được giao nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực phục vụ
3
- Đề xuất một số giải pháp cụ thể về việc đổi mới và từng bước hoàn thiện
công tác tổ chức kế toán tại các Trường Đại học thuộc Đại học Thái Nguyên.
- Kiến nghị các điều kiện tổ chức thực hiện các giải pháp để giải quyết những
đòi hỏi cấp bách về công tác tổ chức kế toán tại các Trường Đại học thuộc Đại học
Vùng hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận về tổ chức công tác kế toán trong các đơn vị sự
nghiệp có thu.
Nghiên cứu tổ chức công tác kế toán tại các trường đại học thuộc Đại học
Thái Nguyên.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Vì vấn đề có phạm vi và nội dung rộng, do vậy đề tài chỉ tập trung nghiên
cứu, khảo sát công tác tổ chức kế toán trong điều kiện thực hiện quyền tự chủ, tự
chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính tại
các trường đại học thuộc Đại học Thái Nguyên.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp duy vật biện chứng
Khi xem xét đánh giá bất cứ một vấn đề gì, một hiện tượng kinh tế - xã hội
nào, đều phải dựa trên quan niệm duy vật biện chứng để nhìn nhận. Nghĩa là phải
xem xét mọi vấn đề trong mối quan hệ hữu cơ, gắn bó và ràng buộc lẫn nhau.
Chúng có tác động qua lại, ảnh hưởng tới nhau trong quá trình tồn tại và phát triển.
4.2. Phương pháp chuyên khảo
Phương pháp này được sử dụng trong việc thu thập, lựa chọn các tài liệu
nghiên cứu có liên quan. Qua đó tiến hành tra cứu các kết quả đánh giá hiệu quả
kinh tế phù hợp với điều kiện và phạm vi nghiên cứu của Đề tài. Kết quả thu thập
Chương 1: Cở sở lý luận chung về tổ chức công tác kế toán trong các đơn vị
sự nghiệp có thu.
Chương 2: Thực trạng tổ chức công tác kế toán tại các trường đại học thuộc
Đại học Thái Nguyên.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán
tại các trường đại học thuộc Đại học Thái Nguyên.
5
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG
CÁC ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP CÓ THU
1.1. ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG VÀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA
CÁC ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP CÓ THU ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỔ
CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN
1.1.1. Khái niệm đơn vị sự nghiệp có thu
Hoạt động sự nghiệp ở nước ta là những hoạt động văn hoá thông tin, giáo
dục đào tạo, nghiên cứu khoa học, y tế, thể dục thể thao... được quy định tại Nghị
định số 73/CP ngày 24/12/1960 về điều lệ tài vụ sự nghiệp văn xã. Các đơn vị sự
nghiệp là những tổ chức được thành lập để thực hiện các hoạt động sự nghiệp, có
hai loại đơn vị sự nghiệp:
Đơn vị sự nghiệp thuần tuý là các đơn vị sự nghiệp do Nhà nước thành lập
không có nguồn thu, được Ngân sách Nhà nước bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động.
Đơn vị sự nghiệp có thu là những đơn vị sự nghiệp mà ngoài nguồn kinh phí
được Ngân sách Nhà nước cấp còn được Nhà nước cho phép thu một số khoản thu
phí, lệ phí hoặc một số khoản thu khác để phục vụ trong quá trình hoạt động của
đơn vị.
Các đơn vị sự nghiệp có thu hoạt động trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực
đơn vị dự toán cấp I và là đơn vị trung gian thực hiện các nhiệm vụ quản lý kinh phí
nối liền giữa đơn vị dự toán cấp I và các đơn vị dự toán cấp III.
(c) Đơn vị dự toán cấp III: là đơn vị trực tiếp sử dụng vốn ngân sách, nhận dự toán
ngân sách của đơn vị cấp II hoặc cấp I (nếu không có cấp II), có trách nhiệm tổ
chức, thực hiện công tác kế toán, quyết toán ngân sách của đơn vị mình và dự toán
đơn vị cấp dưới (nếu có). Đơn vị dự toán cấp III là đơn vị dự toán cấp cơ sở trực
tiếp chi tiêu kinh phí để phục vụ nhu cầu hoạt đọng của mình, đồng thời thực hiện
các nhiệm vụ quản lý kinh phí tại đơn vị dưới sự hướng dẫn của đơn vị dự toán cấp
trên. Đơn vị dự toán cấp III được nhận kinh phí để thực hiện phần công việc cụ thể,
khi chi tiêu phải thực hiện công tác kế toán, quyết toán với đơn vị dự toán cấp trên
như quy định đối với đơn vị dự toán cấp III với cấp II và cấp II với cấp I.
7
Căn cứ và nguồn thu sự nghiệp, đơn vị sự nghiệp có thu được phân loại để
thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính như quy định tại Nghị định
số 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 25/4/2006, gồm: (i) Đơn vị sự nghiệp có thu
tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự
bảo đảm chi phí hoạt động): là đơn vị có nguồn thu sự nghiệp bảo đảm toàn bộ chi
phí hoạt động thường xuyên, Ngân sách Nhà nước không phải cấp kinh phí bảo đảm
hoạt động thường xuyên cho đơn vị. (ii) Đơn vị sự nghiệp có thu tự bảo đảm một
phần chi phí hoạt động thường xuyên: là đơn vị có nguồn thu sự nghiệp chưa tự
trang trải được toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên, Ngân sách Nhà nước cấp
một phần chi phí hoạt động thường xuyên cho đơn vị (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự
bảo đảm một phần chi phí hoạt động).
Mức kinh phí tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên của đơn vị được
xác định theo công thức sau đây (nhỏ hơn 100%)”
(*)Mức tự đảm bảo chi phí hoạt động
thường xuyên của đơn vị sự nghiệp (%)
chế thường xuyên; ký hợp đồng và các hình thức hợp tác khác với chuyên gia, nhà
khoa học trong và ngoài nước để đáp ứng yêu cầu chuyên môn của đơn vị.
Về huy động vốn và vay vốn tín dụng: Đơn vị sự nghiệp có hoạt động dịch vụ
được vay vốn của các tổ chức tín dụng, được huy động vốn của cán bộ, viên chức
trong đơn vị để đầu tư mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động sự nghiệp, tổ
chức hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và tự chịu trách nhiệm trả
nợ vay theo quy định của pháp luật.
Về quản lý và sử dụng tài sản: Đơn vị thực hiện đầu tư, mua sắm, quản lý, sử
dụng tài sản nhà nước theo quy định của pháp luật về quản lý tài sản nhà nước tại
đơn vị sự nghiệp. Đối với tài sản cố định sử dụng vào hoạt động dịch vụ phải thực
hiện trích khấu hao thu hồi vốn theo quy định áp dụng cho các doanh nghiệp nhà
nước. Số tiền trích khấu hao tài sản cố định và tiền thu từ thanh lý tài sản thuộc
nguồn vốn ngân sách nhà nước đơn vị được để lại đầu tư tăng cường cơ sở vật chất,
đổi mới trang thiết bị của đơn vị.
Về việc mở tài khoản giao dịch: Đơn vị sự nghiệp mở tài khoản tại Kho bạc Nhà
nước để phản ánh các khoản kinh phí thuộc ngân sách nhà nước theo quy định của
Luật Ngân sách nhà nước; được mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng hoặc Kho bạc
Nhà nước để phản ánh các khoản thu, chi của hoạt động dịch vụ.
Đối với các khoản chi thường xuyên, căn cứ vào nhiệm vụ được giao và khả
năng nguồn tài chính, Thủ trưởng đơn vị được quyết định một số mức chi quản lý,
chi hoạt động nghiệp vụ cao hoặc thấp hơn mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm
quyền quy định và được quyết định phương thức khoán chi phí cho từng bộ phận,
đơn vị trực thuộc.
Về chế độ tiền lương, tiền công và thu nhập: Đơn vị sự nghiệp có thu được xác
định tổng quỹ lương để trả cho người lao động trên cơ sở tiền lương tối thiểu của
Nhà nước tăng không quá 2 lần (đối với đơn vị tự đảm bảo một phần kinh phí) và
không quá 2,5 lần (đối với đơn vị tự đảm bảo toàn bộ chi phí thường xuyên). Khi
9
10
Nguồn tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu bao gồm:
(i) Kinh phí do ngân sách nhà nước (NSNN) cấp: Kinh phí bảo đảm hoạt động
thường xuyên thực hiện chức năng, nhiệm vụ đói với đơn vị tự đảm bảo một phần
chi phí hoạt động, được cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp giao, trong phạm vi dự
toán được cấp có thẩm quyền giao. Kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học và công
nghệ (đối với đơn vị không phải là tổ chức khoa học và công nghệ). Kinh phí thực
hiện chương trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ, viên chức. Kinh phí thực hiện các
chương trình mục tiêu quốc gia. Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà
nước có thẩm quyền đặt hàng (điều tra, quy hoạch, khảo sát, nhiệm vụ khác). Kinh
phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao. Kinh phí thực hiện
chính sách tinh giản biên chế theo chế độ do nhà nước quy định (nếu có). Vốn đầu
tư xây dựng cơ bản, kinh phí mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố định
phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt trong
phạm vi dự toán được giao hàng năm. Vốn đối ứng thực hiện các dự án có nguồn
vốn nước ngoài được cấp có thẩm quyền phê duyệt và kinh phí khác (nếu có).
(ii) Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp, gồm: Phần được để lại từ số thu phí, lệ phí
thuộc ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật. Thu từ hoạt động dịch vụ.
Thu từ hoạt động sự nghiệp khác (nếu có). Lãi được chia từ các hoạt động liên
doanh, liên kết, lãi tiền gửi ngân hàng. Nguồn viện trợ, tài trợ, quà biếu, tặng, cho
theo quy định của pháp luật. Nguồn khác, gồm: Nguồn vốn vay của các tổ chức tín
dụng, vốn huy động của cán bộ, viên chức trong đơn vị. Nguồn vốn liên doanh, liên
kết của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật.
Đơn vị sự nghiệp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thu phí, lệ phí
phải thực hiện thu đúng, thu đủ theo mức thu và đối tượng thu do cơ quan nhà nước
có thẩm quyền quy định. Trường hợp nhà nước có thẩm quyền quy định khung mức
thu, đơn vị căn cứ nhu cầu chi phục vụ cho hoạt động, khả năng đóng góp của xã
định phương thức khoán chi phí cho từng bộ phận, đơn vị trực thuộc và Quyết định
đầu tư xây dựng, mua sắm mới và sửa chữa lớn tài sản thực hiện theo quy định của
pháp luật.
Nhà nước khuyến khích đơn vị sự nghiệp tăng thu, tiết kiệm chi, thực hiện
tinh giản biên chế, tăng thêm thu nhập cho người lao động trên cơ sở hoàn thành
nhiệm vụ được giao, sau khi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với ngân sách nhà nước; tuỳ
12
theo kết quả hoạt động tài chính trong năm, đơn vị được xác định tổng mức chi trả
thu nhập trong năm của đơn vị, trong đó:
Đơn vị tự bảo đảm chi phí hoạt động được quyết định tổng mức thu nhập
trong năm cho người lao động sau khi đã thực hiện trích lập quỹ phát triển hoạt
động sự nghiệp theo quy định.
Đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động, được quyết định
tổng mức thu nhập trong năm cho người lao động, nhưng tối đa không quá 3 lần
quỹ tiền lương cấp bậc, chức vụ trong năm do nhà nước quy định sau khi đã thực
hiện trích lập quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp theo quy định.
Việc sử dụng kết quả hoạt động tài chính trong năm được quy định: Hàng
năm sau khi trang trải các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộp khác theo quy
định, phần chênh lệch thu lớn hơn chi (nếu có), đơn vị được sử dụng theo trình tự
như sau:
Đối với đơn vị tự bảo đảm chi phí hoạt động:
- Trích tối thiểu 25% để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp;
- Trả thu nhập tăng thêm cho người lao động;
- Trích lập Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ dự phòng ổn định thu nhập.
Đối với 2 Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi, mức trích tối đa không quá 3 tháng
tiền lương, tiền công và thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện trong năm.
Đối với đơn vị tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động:
động thường xuyên của năm kế hoạch. Đối với kinh phí hoạt động không thường
xuyên, đơn vị lập dự toán theo quy định của Luật Ngân sách.
Đối với cơ quan quản lý cấp trên căn cứ vào dự toán thu, chi năm đầu thời kỳ
ổn định do đơn vị lập, cơ quan quản lý cấp trên dự kiến phân loại đơn vị sự nghiệp
trực thuộc và tổng hợp dự toán thu, dự toán ngân sách bảo đảm chi hoạt động
thường xuyên, không thường xuyên (nếu có) cho đơn vị gửi cơ quan tài chính cùng
cấp và các cơ quan liên quan theo quy định hiện hành.
Hàng năm, trong thời kỳ ổn định phân loại đơn vị sự nghiệp, cơ quan chủ
quản căn cứ vào dự toán thu, chi của đơn vị sự nghiệp lập, xem xét tổng hợp dự
toán ngân sách nhà nước, gửi cơ quan tài chính cùng cấp.
14
Giao dự toán thu, chi: Bộ chủ quản (đối với đơn vị sự nghiệp trực thuộc
Trung ương); cơ quan chủ quản địa phương (đối với đơn vị sự nghiệp trực thuộc địa
phương) quyết định giao dự toán thu, chi ngân sách năm đầu thời kỳ ổn định phân
loại cho đơn vị sự nghiệp, trong phạm vi dự toán thu, chi ngân sách được cấp có
thẩm quyền giao, sau khi có ý kiến thống nhất bằng văn bản của cơ quan tài chính
cùng cấp.
Hàng năm, trong thời kỳ ổn định phân loại đơn vị sự nghiệp, cơ quan chủ
quản quyết định giao dự toán thu, chi ngân sách cho đơn vị sự nghiệp, trong đó kinh
phí bảo đảm hoạt động thường xuyên theo mức năm trước liền kề và kinh phí được
tăng thêm (bao gồm cả kinh phí thực hiện nhiệm vụ tăng thêm) hoặc giảm theo quy
định của cấp có thẩm quyền (đối với đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí
hoạt động và đơn vị sự nghiệp do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ kinh phí
hoạt động) trong phạm vi dự toán thu, chi ngân sách được cấp có thẩm quyền giao,
sau khi có ý kiến thống nhất bằng văn bản của cơ quan tài chính cùng cấp.
Thực hiện dự toán thu, chi: Đối với kinh phí chi hoạt động thường xuyên:
trong quá trình thực hiện, đơn vị được điều chỉnh các nội dung chi, các nhóm mục
máy, biên chế và tài chính, làm căn cứ cho các đơn vị trực thuộc thực hiện. Xây
dựng, ban hành các tiêu chuẩn, định mức chi, định mức kinh tế - kỹ thuật, đơn giá
các sản phẩm nhà nước đặt hàng theo quy định. Xây dựng tiêu chí cụ thể để đánh
giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giao đối với các đơn vị sự nghiệp trên cơ sở
các tiêu chí đã được quy định.
1.2. VAI TRÒ, NGUYÊN TẮC VÀ NHIỆM VỤ CỦA TỔ CHỨC CÔNG TÁC
KẾ TOÁN TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU
1.2.1. Vai trò của tổ chức công tác kế toán
Hiện nay, khái niệm tổ chức công tác kế toán có rất nhiều quan điểm khác
nhau. Mỗi quan điểm thể hiện những cách tiếp cận khác nhau, có thể khái quát như sau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng tổ chức công tác kế toán thực chất là tổ chức
vận dụng hệ thống chứng từ kế toán, hệ thống tài khoản, hệ thống các phương pháp
tính giá và hệ thống báo cáo kế toán. Có nghĩa tổ chức công tác này là vận dụng các
phương pháp kế toán trong mối liên hệ ràng buộc giữa các yếu tố cấu thành nên bản
16
chất kế toán. Quan điểm này đề cao vai trò các phương pháp kế toán trong mối quan
hệ chặt chẽ từ khâu phát sinh nghiệp vụ kinh tế đến khi lập các báo cào tài chính;
thể hiện được sự vận dụng một cách khoa học các phương pháp kế toán vào thực tế.
Song, nếu chỉ là việc tổ chức vận dụng các phương pháp kế toán vào thực tế, cũng
có nghĩa là tổ chức việc vận dụng chế độ vào một đơn vị cụ thể mà không tính đến
một số vấn đề khác thì hiệu quả của kế toán sẽ không được như mong muốn và có
thể sẽ không đáp ứng được yêu cầu quản lý ngày càng cao hiện nay.
Quan điểm thứ hai xuất phát từ vai trò và nội đung của kế toán là khoa học
thu nhậ, xử lý và cung cấp thông tin về tình hình hoạt động kinh tế, tài chính của
dơn vị. Từ đó quan điểm này cho rằng, tổ chức công tác kế toán cần phải giải quyết
hai vấn đề là: tổ chức thực hiện các phương pháp kế toán trong đơn vị và tổ chức bộ
máy kế toán phù hợp với điều kiện về cơ sở vật chất và tính chất hoạt động của đơn
Tổ chức khoa học, hợp lý công tác kế toán phù hợp với đặc điểm của đơn vị
trên cơ sở những quy định, chế độ chung của Nhà nước về quản lý tài chính sẽ tạo
ra sự thống nhất trong quản lý, cung cấp thông tin tin cậy cho công tác quản lý vĩ
mô, giúp cho Nhà nước trong việc hoạch định chính sách, soạn thảo luật lệ thích hợp.
1.2.2. Nguyên tắc tổ chức công tác kế toán trong đơn vị sự nghiệp có thu
Như phần trên luận văn đã phân tích, tổ chức công tác kế toán có vai trò rất
quan trọng trong việc tiết kiệm nhân công, tiến độ thực hiện nhưng vẫn đảm bảo
thông tin kế toán chính xác, kịp thời, có tính quyết định cho sự thành công hay thất
bại trong các hoạt động của đơn vị. Muốn vậy trong hoạt động thực tiễn, tổ chức
công tác kế toán phải tuân theo những nguyên tắc nhất định giữa bản thân hoạt động
kế toán và quan hệ giữa kế toán với các bộ phận khác trong hệ thống quản lý. Các
nguyên tắc đó là:
Thứ nhất, nguyên tắc bảo đảm tuân thủ các chuẩn mực và chế độ kế toán
hiện hành. Chức năng của tổ chức công tác kế toán là cung cấp thông tin kịp thời,
đáng tin cậy cho người sử dụng. Nhằm tạo ra một khung pháp lý chung, một sự
hướng dẫn thống nhất, tiêu chuẩn cho tổ chức công tác kế toán, Nhà nước đã ban
hành Luật kế toán, các chuẩn mực, chế độ kế toán và đòi hỏi các đơn vị phải tuân
thủ. Thực hiện nguyên tắc này, khi triển khai tổ chức công tác kế toán, các đơn vị
18
phải nắm chắc và tuân thủ các chuẩn mực, chế độ kế toán của nhà nước, có như vậy
mới đảm bảo thực hiện tốt chức năng của tổ chức công tác kế toán.
Thứ hai, nguyên tắc thống nhất. Tổ chức công tác kế toán là một loại hình tổ
chức đặc thù. Tổ chức công tác kế toán không phải là sự lắp ghép tuỳ tiện hoặc gộp
lại một cách đơn giản các phần từ (đối tượng, phương pháp, mô hình, bộ máy kế
toán...) mà là sự kết hợp hữu cơ giữa chúng. Vì vậy, tổ chức công tác kế toán phải
đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống kế toán giữa đối tượng và phương pháp,
hình thức và bộ máy kế toán trong đơn vị kế toán.
Là một phân hệ thông tin trong hệ thống quản lý, công tác kế toán thu thập
và cung cấp thông tin về tài chính, về kết hoạt động tài chính làm cơ sở cho việc ra
những quyết định quản lý. Tổ chức công tác kế toán có ý nghĩa quan trọng, đảm bảo
thực hiện vai trò kế toán trong quản lý. Bởi vậy, tổ chức công tác kế toán cần thực
hiện những nhiệm vụ sau:
- Tổ chức khoa học và hợp lý công tác kế toán, tổ chức bộ máy kế toán phù
hợp với điều kiện cụ thể của đơn vị, thực hiện kế hoạch hoá công tác kế toán (xác
định nhiệm vụ, mối quan hệ của từng bộ phận, từng cán bộ nhân viên kế toán...)
đảm bảo công tác kế toán được thực hiện với chất lượng tốt, hiệu suất cao.
- Tổ chức áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật, khoa học quản lý tiên
tiến vào công tác kế toán, trang bị và ứng dụng phương tiện kỹ thuật ghi chép, tính
toán, thông tin hiện đại vào công tác kế toán, đảm bảo cho công tác kế toán được
tiến hành với những phương pháp kỹ thuật hạch toán tiên tiến nhất, đáp ứng kịp
thời, đầy đủ nhu cầu thông tin cho các đối tượng sử dụng thông tin, phục vụ cho
công tác quản lý, nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị.
- Hướng dẫn, kiểm tra cán bộ, công nhân viên chấp hành đúng các chính
sách, chế độ, thể lệ về kinh tế tài chính, kế toán, thực hiện kiểm tra kế toán.
1.3. NỘI DUNG CỦA TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG ĐƠN VỊ
SỰ NGHIỆP CÓ THU
1.3.1. Tổ chức vận dụng chứng từ kế toán
20
Chứng từ kế toán là những minh chứng bằng giấy tờ và vật mang tin chứng
minh các nghiệp vụ kinh tế tài chính đã phát sinh, đã thực sự hoàn thành theo thời
gian và địa điểm phát sinh, là căn cứ để ghi sổ kế toán và tổng hợp số liệu kế toán.
Tổ chức chứng từ kế toán là thiết lập các thủ tục cần thiết để hình thành bộ
chứng từ đầy đủ cho từng loại nghiệp vụ kinh tế phát sinh, nhằm thiết lập hệ thống
thông tin ban đầu hợp pháp, hợp lệ phục vụ cho quản lý và xử lý ghi sổ kế toán.
từng loại chứng từ.
Nội dung của tổ chức chứng từ kế toán tại đơn vị sự nghiệp có thu bao gồm:
Tổ chức hệ thống chứng từ kế toán và tổ chức luân chuyển chứng từ kế toán.
+ Tổ chức hệ thống chứng từ kế toán là việc lựa chọn số lượng, chủng loại
chứng từ căn cứ vào hệ thống biểu mẫu chứng từ thống nhất do Nhà nước ban hành,
đồng thời phù hợp với cơ cấu tài sản, nguồn vốn, đặc điểm hoạt động và trình độ
quản lý của đơn vị.
Chứng từ là phương pháp đầu tiên quan trọng của hệ thống phương pháp
hạch toán kế toán. Phương pháp chứng từ là phương pháp thông tin và kiểm tra về
trạng thái và sự biến động của đối tượng kế toán cụ thể nhằm phục vụ kịp thời cho
lãnh đạo nghiệp vụ và làm căn cứ phân loại, ghi sổ và tổng hợp kế toán.
Nội dung của chứng từ kế toán bao gồm:
- Tên và số hiệu của chứng từ kế toán
- Ngày, tháng, năm lập chứng từ kế toán
- Tên, địa chỉ của đơn vị hoặc cá nhân lập chứng từ kế toán
- Tên, địa chỉ của đơn vị hoặc cá nhân nhận chứng từ kế toán
- Nội dung nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh
- Số lượng, đơn giá, số tiền nghiệp vụ kinh tế, tài chính ghi bằng số; tổng số
tiền của chứng từ kế toán dùng để thu, chi tiền ghi bằng số và bằng chữ
- Chữ ký, họ và tên của người lập, người duyệt và những người có liên quan
đến chứng từ kế toán.
Ngoài những nội dung chủ yếu nói trên, chứng từ kế toán có thể có thêm
những nội dung khác theo từng loại chứng từ.
Tác dụng của chứng từ kế toán như sau:
22
Lập chứng từ là khởi điểm của tổ chức công tác kế toán và xây dựng hệ
thống kiểm soát nội bộ của đơn vị; không có chứng từ sẽ không thể thực hiện được
chứngtừ
từ
chứng
Bảoquản,
quản,lưu
lưutrữ
trữ
Bảo
vàhuỷ
huỷchứng
chứngtừtừ
và
Hình 1.1. Sơ đồ trình tự luân chuyển chứng từ trong các đơn vị sự nghiệp có thu
Bước 1: Lập chứng từ kế toán: Tuỳ thuộc theo nội dung kinh tế của nghiệp
vụ mà sử dụng chứng từ thích hợp. Khi lập chứng từ phải đảm bảo tuân thủ các quy
định sau:
Các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh liên quan đến hoạt động của đơn vị
kế toán đều phải lập chứng từ kế toán. Chứng từ kế toán chỉ được lập một lần cho
mỗi nghiệp vụ kinh tế, tài chính.
23
Chứng từ kế toán phải được lập rõ ràng, đầy đủ, kịp thời, chính xác theo nội
dung quy định trên mẫu. Trong trường hợp chứng từ kế toán chưa có quy định mẫu
thì đơn vị kế toán được tự lập chứng từ kế toán nhưng phải có đầy đủ các nội dung
theo quy định.
không đảm bảo thì phải báo cáo kịp thời cho kế toán trưởng và thủ trưởng đơn vị để
xử lý kịp thời.
Bước 3: Tổ chức quá trình sử dụng chứng từ kế toán để ghi sổ kế toán: Trước
khi ghi sổ kế toán, phải phân loại chứng từ theo nội dung kinh tế của nghiệp vụ phù
hợp với việc quản lý tài sản của đơn vị, theo tính chất của khoản chi, theo đối tượng
chịu chi phí hay theo địa điểm phát sinh của nghiệp vụ kinh tế. Dựa vào việc phân
loại này để xác định việc ghi sổ kế toán phù hợp bao gồm cả sổ tổng hợp và sổ chi tiết.
Phải ghi chép kịp thời, chính xác số liệu của chứng từ kế toán ứng với nội
dung của tài khoản tổng hợp hoặc phân tích nhằm cung cấp thông tin cho việc chỉ
đạo nghiệp vụ hoặc tích luỹ thông tin tổng hợp để ra quyết định.
Bước 4: Tổ chức quá trình bảo quản, lưu trữ chứng từ: Sau khi chứng từ đã
ghi sổ kế toán xong, chứng từ được chuyển sang giai đoạn bảo quản và lưu trữ.
Tài liệu kế toán phải được đơn vị kế toán bảo quản đầy đủ, an toàn trong quá
trình sử dụng và lưu trữ.
Tài liệu kế toán lưu trữ phải là bản chính. Trường hợp tài liệu kế toán bị tạm
giữ, bị tịch thu phải có biên bản kèm theo bản sao chụp có xác nhận; nếu bị mất
hoặc bị huỷ hoại thì phải có biên bản kèm theo bản sao chụp hoặc xác nhận.
Người đại diện theo pháp luật của đơn vị kế toán chịu trách nhiệm tổ chức
bảo quản, lưu trữ tài liệu kế toán.
Tài liệu kế toán phải được lưu trữ tối thiểu là năm năm đối với tài liệu kế
toán dùng cho quản lý, điều hành của đơn vị kế toán, gồm cả chứng từ kế toán
không sử dụng trực tiếp để ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính, tối thiểu mười
năm đối với chứng từ kế toán sử dụng trực tiếp để ghi sổ kế toán và lập BCTC, sổ
kế toán và báo cáo tài chính năm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác, lưu trữ
vĩnh viễn đối với các tài liệu kế toán có tính sử liệu, có ý nghĩa quan trọng về kinh
tế, an ninh, quốc phòng. Chính phủ quy định cụ thể từng loại tài liệu kế toán phải
25