Luận văn thạc sỹ - Hoàn thiện tổ chức kế toán tại bệnh viện Phụ sản Hà Nội - Pdf 54

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
----------------------------------------

HOÀN THIỆN TỔ CHỨC KẾ TOÁN TẠI
BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN

HÀ NỘI - NĂM 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
----------------------------------------

HOÀN THIỆN TỔ CHỨC KẾ TOÁN TẠI
BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HÀ NỘI
CHUYÊN NGÀNH: KẾ TOÁN, KIỂM TOÁN VÀ PHÂN TÍCH
MÃ NGÀNH: 8340301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS NGUYỄN THỊ THU LIÊN

HÀ NỘI - NĂM 2018


LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU..........................................1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài.....................................................................................1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu.............................................................................................3
1.3. Câu hỏi nghiên cứu..............................................................................................3
1.4. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu........................................................................4
1.5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn............................................................4
1.6. Kết cấu của luận văn............................................................................................4
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ
CHỨC KẾ TOÁN TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP TỰ CHỦ TÀI CHÍNH.............5
2.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu..................................................................5
2.2. Cơ sở lý luận về tổ chức kế toán trong đơn vị sự nghiệp tự chủ tài chính.........6
2.2.1. Khái niệm và đặc điểm của đơn vị sự nghiệp tự chủ tài chính.......................6
2.2.2. Bản chất, yêu cầu, nguyên tắc của tổ chức bộ máy kế toán trong đơn vị sự
nghiệp tự chủ tài chính........................................................................................11
2.2.3. Nội dung tổ chức kế toán trong đơn vị sự nghiệp tự chủ tài chính...............15
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2..........................................................................................35
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU......................................................36
3.1. Qui trình nghiên cứu..........................................................................................36
3.2. Phương pháp thu thập dữ liệu...........................................................................37
3.2.1. Phương pháp nghiên cứu...........................................................................37
3.3. Phương pháp thu thập dữ liệu...........................................................................37
3.4. Phương pháp xử lý dữ liệu.................................................................................38
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3..........................................................................................39
CHƯƠNG 4: NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG TỔ CHỨC KẾ TOÁN TẠI BỆNH
VIỆN PHỤ SẢN HÀ NỘI.........................................................................................40
4.1. Tổng quan chung về bệnh viện phụ sản Hà Nội................................................40

: Bảo hiểm thất nghiệp

BHXH

: Bảo hiểm xã hội

BHYT

: Bảo hiểm y tế

CBVC

: Cán bộ viên chức

HCSN

: Hành chính sự nghiệp

KPCĐ

: Kinh phí công đoàn

NSNN

: Ngân sách Nhà nước

PSHN

: Phụ sản Hà Nội


Mẫu giấy báo hỏng, mất công cụ, dụng cụ (C22-HD) ....................84

Bảng 5.2:

Mẫu bảng kê các khoản trích nộp theo lương (C11-HD)................ 85

Bảng 5.3:

Mẫu báo cáo chi tiết tình hình tăng giảm tài sản............................ 92

BIỂU
Biểu 4.1:

Bảng kê chi phí khám chữa bệnh nội trú ........................................57

Biểu 4.2:

Bảng kê chi phí khám chữa bệnh có BHYT................................... 60

Biểu 4.3:

Phiếu thanh toán ra viện ................................................................63

Biểu 4.4:

Báo cáo chi phí khám chữa bệnh BHYT nội trú ............................71

SƠ ĐỒ
Sơ đồ 3.1:


Chuyển sang nền kinh tế thị trường, chúng ta đã có những thay đổi căn bản
trong nhận thức, quan điểm về ngành y tế. Y tế được coi là một ngành trong hệ
thống kinh tế quốc dân và thuộc nhóm ngành dịch vụ phục vụ các nhu cầu có tính
chất phúc lợi xã hội, và như vậy ngành y tế có đóng góp vào GDP của đất nước, đầu
tư cho y tế là đầu tư cơ bản, đầu tư cho phát triển. Bệnh viện là một đơn vị kinh tế
dịch vụ nhưng khác với các đơn vị kinh doanh dịch vụ bởi hoạt động cung cấp dịch
vụ của bệnh viện không đặt mục tiêu lợi nhuận làm mục tiêu quan trọng nhất, mà
thông qua các hoạt động dịch vụ của mình để có thu nhập và tích cực hoạt động
không vì mục tiêu lợi nhuận.
Theo nghị quyết số 46/NQ-TW của Bộ chính trị chiến lược về công tác chăm
sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới chỉ ra rằng đầu tư
cho hoạt động sức khỏe nhân dân là trực tiếp đảm bảo nguồn lực cho sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc, là chính sách ưu tiên hàng đầu của Đảng và Nhà nước.
Tham gia và hoạt động bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân có sự đóng
góp của nhiều tổ chức, lực lượng xã hội và các tầng lớp nhân dân như Nhà nước, cơ
sở khám chữa bệnh, các tổ chức phi lợi nhuận…Trong đó các CSYT chính là bộ
phận trung tâm trực tiếp quyết định mức độ hiệu quả của công tác này. Thực tế đòi
hỏi quản lý tài chính trong bệnh viện vừa phải đảm bảo các mục tiêu tài chính vừa
đảm bảo tính hiệu quả, công bằng trong chăm sóc sức khoẻ.
Công tác tài chính và quản lý tài chính là một trong những yếu tố quyết định
sự thành công hay thất bại của quản lý các cơ sở y tế công lập. Để tăng cường quản


2
lý và sử dụng các nguồn tài chính đúng mục đích, đạt hiệu quả cao, các đơn vị có
thể sử dụng nhiều công cụ khác nhau nhưng một trong những công cụ hữu hiệu nhất
là kế toán. Kế toán có vai trò rất quan trọng trong quản lý tài chính của các đơn vị
sự nghiệp tự chủ tài chính nói chung và Bệnh viện phụ sản Hà Nội nói riêng, là công
cụ quan trọng thực hiện quản lý, điều hành, kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh tế
trong các đơn vị. Để phát huy vai trò quan trọng đó, vấn đề có tính chất quyết định là

chưa sáng tạo và chưa chú trọng đến việc tập huấn, hướng dẫn cho toàn thể cán bộ
nhân viên làm tổ chức kế toán trong đơn vị nên trong xử lý nghiệp vụ kế toán của các
nhân viên kế toán còn hạn chế, lúng túng. Chế độ chứng từ và hạch toán ban đầu
nhằm thu nhận thông tin về các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh của Bệnh viện
Phụ sản Hà Nội chưa thực sự phản ánh hết các nghiệp vụ kinh tế mới phát sinh;
chưa quy định thống nhất về phương pháp ghi chép một số chỉ tiêu trên chứng từ;
Việc mở sổ chưa đầy đủ, cụ thể là các sổ chi tiết liên quan đến vật tư thuốc và giá trị
hao mòn TSCĐ hay các sổ kế toán khác theo chế độ hiện…
Qua thời gian tìm hiểu và nghiên cứu thực trạng tại bệnh viện Phụ sản Hà Nội,
được sự giúp đỡ tận tình của các cô chú anh chị trong phòng kế toán của Bệnh viện
cùng với sự hướng dẫn tỉ mỉ của PGS - TS Nguyễn Thị Thu Liên, tôi đã chọn đề tài:
“Hoàn thiện tổ chức kế toán tại bệnh viện Phụ sản Hà Nội” làm luận văn cao học.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Từ sự cần thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu của luận văn là:
* Mục tiêu tổng quát:
Hoàn thiện tổ chức kế toán tại Bệnh viện phụ sản Hà Nội.
* Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về tổ chức kế toán trong đơn vị sự nghiệp tự chủ
tài chính.
- Nghiên cứu thực trạng tổ chức kế toán tại bệnh viện Phụ sản Hà Nội, chỉ rõ
những thành tựu đạt được, những hạn chế trong tổ chức kế toán tại Bệnh viện Phụ
sản Hà Nội.
- Nêu phương hướng và đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức kế
toán tại bệnh viện Phụ sản Hà Nội trong điều kiện tự chủ tài chính hoàn toàn.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu
- Thế nào là đơn vị sự nghiệp tự chủ tài chính, đặc điểm của các đơn vị đó
là gì?
- Tổ chức kế toán tại đơn vị sự nghiệp tự chủ tài chính cần đáp ứng yêu cầu gì



5

CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP
TỰ CHỦ TÀI CHÍNH
2.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu
Hiện nay, có rất nhiều các công trình nghiên cứ về tổ chức kế toán tại các đơn
vị sự nghiệp tự chủ tài chính, tiêu biểu như:
Luận án Tiến sĩ Kinh tế “Hoàn thiện Tổ chức kế toán trong các bệnh viện
trực thuộc Bộ Y tế ở Việt Nam” của tác giả Lê Thị Thanh Hương (2012), Trường
Đại học Thương mại. Trong công trình này tác giả đã phân tích đặc điểm tổ chức
đơn vị sự nghiệp tự chủ tài chính có thu công lập (so sánh với đơn vị sự nghiệp tự
chủ tài chính có thu ngoài công lập, so sánh hoạt động dịch vụ trong đơn vị sự
nghiệp tự chủ tài chính có thu công lập và trong doanh nghiệp) chi phối đến cơ chế
quản lý tài chính và tổ chức kế toán trong loại hình đơn vị này. Luận văn đã có tập
trung phân tích, đánh giá thực tiễn và đề xuất các giải pháp để hoàn thiện tổ chức kế
toán đối với loại hình đơn vị sự nghiệp tự chủ tài chính có thu nói chung và các
bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế nói riêng.
Luận văn thạc sỹ Kinh tế “Tổ chức kế toán tại Bệnh viện Mắt TP. Đà Nẵng”
của tác giả Hồ Thị Như Minh (2014), Trường Đại học Đà Nẵng. Qua nghiên cứu lý
luận và khảo sát thực trạng tổ chức kế toán tại bệnh viện Mắt Thành phố Đà Nẵng,
luận văn đã bổ sung một số lý luận về tổ chức kế toán cũng như những đặc điểm về
cơ chế quản lý của các đơn vị sự nghiệp tự chủ tài chính trong giai đoạn hiện nay.
Đồng thời, luận văn cũng đã làm rõ thực trạng tổ chức kế toán tại bệnh viện và chỉ
ra những mặt còn hạn chế trong tổ chức kế toán của đơn vị. Trên cơ sở đó, luận văn
đã đề xuất những giải pháp cụ thể cũng như những kiến nghị về việc đổi mới, hoàn
thiện tổ chức kế toán và cơ chế tài chính của bệnh viện.
Luận văn thạc sỹ kinh tế “Hoàn thiện tổ chức tổ chức kế toán theo mô hình
đơn vị tự chủ tài chính tại Trường Đại học Công đoàn Việt Nam” của tác giả Vũ

2.2.1.1. Khái niệm
Theo Nghị định Số: 16/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015 của Chính
phủ, nghị định này quy định các nguyên tắc, quy định chung về cơ chế tự chủ
của đơn vị sự nghiệp tự chủ tài chính công lập: Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ


7
chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính
trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp
dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước trong các lĩnh vực như giáo dục, đào
tạo, y tế, nghiên cứu khoa học, văn hóa, thể dục thể thao, du lịch, lao động thương binh và xã hội, thông tin truyền thông và các lĩnh vực sự nghiệp khác
được pháp luật quy định.
Cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp được hiểu là cơ chế theo
đó các đơn vị sự nghiệp tự chủ tài chính công được trao quyền tự quyết định, tự
chịu trách nhiệm về các khoản thu, khoản chi của đơn vị mình nhưng không vượt
quá mức khung do Nhà nước quy định. Hiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn
vị sự nghiệp tự chủ tài chính công đang được thực thi theo Nghị định Số:
16/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ, nghị định này quy định
các nguyên tắc, quy định chung về cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp tự chủ tài
chính công lập trong các lĩnh vực: Giáo dục đào tạo; dạy nghề; y tế; văn hóa, thể
thao và du lịch; thông tin truyền thông và báo chí; khoa học và công nghệ; sự
nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác…
Đối tượng thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính là các
đơn vị sự nghiệp công lập do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành
lập (đơn vị dự toán độc lập, có con dấu và tài khoản riêng, tổ chức bộ máy kế toán
theo quy định của Luật kế toán), hoạt động trong các lĩnh vực sự nghiệp Giáo dụcĐào tạo và Dạy nghề; sự nghiệp Y tế, Đảm bảo xã hội; sự nghiệp Văn hoá-Thông
tin (bao gồm cả đơn vị phát thanh truyền hình ở địa phương), sự nghiệp Thể dụcThể thao, sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác.
Căn cứ vào quyền tự chủ của đơn vị sự nghiệp tự chủ tài chính để phân chia
như sau:
- Đơn vị sự nghiệp tự chủ tài chính được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực

số nội dung trong các đơn vị sự nghiệp tự chủ tài chính như sau:
Cơ chế tự chủ về các khoản thu, mức thu:
Đơn vị sự nghiệp tự chủ tài chính được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao
thu phí, lệ phí phải thực hiện thu đúng, thu đủ theo mức thu và đối tượng thu do cơ
quan nhà nước có thẩm quyền quy định. Đối với sản phẩm hàng hoá, dịch vụ được
cơ quan nhà nước đặt hàng thì mức thu theo đơn giá do cơ quan nhà nước có thẩm
quyền quy định; trường hợp ngược lại, mức thu được xác định trên cơ sở dự toán


9
chi phí được cơ quan tài chính cùng cấp thẩm định chấp thuận. Đối với những hoạt
động dịch vụ theo hợp đồng với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, các hoạt
động liên doanh, liên kết, đơn vị được quyết định các khoản thu, mức thu cụ thể
theo nguyên tắc bảo đảm đủ bù đắp chi phí và có tích luỹ.
Cơ chế tiền lương, tiền công và thu nhập:
Đối với những hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ nhà nước giao, chi
phí tiền lương, tiền công cho cán bộ, viên chức và người lao động (gọi tắt là người
lao động), đơn vị tính theo lương cấp bậc, chức vụ do nhà nước quy định; đối với
những hoạt động cung cấp sản phẩm do nhà nước đặt hàng có đơn giá tiền lương
trong đơn giá sản phẩm được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, đơn vị tính theo
đơn giá tiền lương quy định. Trường hợp ngược lại tính theo lương cấp bậc, chức vụ
do nhà nước quy định; đối với những hoạt động dịch vụ có hạch toán chi phí riêng,
thì chi phí tiền lương, tiền công cho người lao động được áp dụng theo chế độ
tiền lương trong doanh nghiệp nhà nước, ngược lại, đơn vị tính theo lương cấp
bậc, chức vụ do nhà nước quy định.
Nhà nước khuyến khích đơn vị sự nghiệp tự chủ tài chính tăng thu, tiết kiệm
chi, thực hiện tinh giản biên chế, tăng thêm thu nhập cho người lao động trên cơ sở
hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Sử dụng kết quả hoạt động tài chính trong năm
Hàng năm, sau khi trang trải các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộp

luật; xây dựng phương án sắp xếp lại các đơn vị cấu thành trình cơ quan có thẩm
quyền quyết định.
Riêng đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm một phần chi thường xuyên và đơn vị
sự nghiệp công do ngân sách nhà nước bảo đảm chi thường xuyên: Xây dựng
phương án sắp xếp, kiện toàn cơ cấu tổ chức của đơn vị trình cơ quan có thẩm
quyền quyết định.
Tự chủ về nhân sự
Đơn vị sự nghiệp công xây dựng vị trí việc làm và cơ cấu viên chức theo chức
danh nghề nghiệp trình cấp có thẩm quyền phê duyệt; tuyển dụng, sử dụng, bổ
nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật và quản lý viên chức, người lao động theo
quy định của pháp luật; thuê hợp đồng lao động để thực hiện nhiệm vụ.
Đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư và đơn vị
sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên quyết định số lượng người làm việc;


11
đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm một phần chi thường xuyên đề xuất số lượng
người làm việc của đơn vị trình cơ quan có thẩm quyền quyết định; đơn vị sự
nghiệp công do ngân sách nhà nước bảo đảm chi thường xuyên đề xuất số lượng
người làm việc trên cơ sở định biên bình quân 05 năm trước và không cao hơn số
định biên hiện có của đơn vị, trình cơ quan có thẩm quyền quyết định (đối với các
đơn vị sự nghiệp công mới thành lập, thời gian hoạt động chưa đủ 05 năm thì tính
bình quân cả quá trình hoạt động).
Trường hợp đơn vị sự nghiệp công chưa xây dựng được vị trí việc làm và cơ
cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp, số lượng người làm việc được xác định
trên cơ sở định biên bình quân các năm trước theo hướng dẫn của Bộ Nội vụ.
2.2.2. Bản chất, yêu cầu, nguyên tắc của tổ chức bộ máy kế toán trong đơn
vị sự nghiệp tự chủ tài chính
2.2.2.1. Bản chất
Tổ chức kế toán được hiểu là một hệ thống các yếu tố cấu thành, bao gồm tổ

hợp lý, bởi vì công việc tổ chức là yếu tố quyết định đến chất lượng và hiệu quả của
công tác. Do đó, tổ chức kế toán phải tuân thủ theo những nguyên tắc, chính sách,
chế độ, thể lệ, quy chế về kinh tế, tài chính, kế toán,… Vì thế, tổ chức kế toán ở đơn
vị sự nghiệp tự chủ tài chính không chỉ cần tính khoa học, hợp lý mà còn phải dựa
trên cơ sở chấp hành đúng các quy định có tính nguyên tắc, các chính sách, chế độ
hiện hành liên quan của Nhà nước.
Tổ chức kế toán khoa học, hợp lý là một trong những tiền đề quan trọng để kế
toán thực hiện tốt vai trò của mình trong công tác quản lý. Kế toán là khoa học quản
lý, có tính khoa học, đồng thời phải được ứng dụng phù hợp với điều kiện, hoàn
cảnh cụ thể của từng đơn vị thì mới phát huy được vai trò tích cực của chúng. Mặt
khác, tổ chức kế toán phải do một bộ máy với nhiều người, nhiều khâu đảm nhận,
do vậy , khi tổ chức kế toán, phải đề cập đến tổ chức bộ máy kế toán, phải có kế
hoạch cụ thể theo thời gian, phân công, phân nhiệm cụ thể cho từng bộ phận, từng
cán bộ, nhân viên kế toán thì mới đảm bảo chất lượng và hiệu quả.
Thứ hai, tổ chức kế toán ở đơn vị phải đảm bảo phù hợp với đặc điểm tổ chức
quản lý, quy mô và địa bàn hoạt động của đơn vị.
Mỗi đơn vị có đặc điểm, điều kiện thực tế khác nhau về tổ chức hoạt động, tổ
chức quản lý, quy mô và trình độ quản lý,… Do vậy, tổ chức kế toán ở đơn vị sự
nghiệp tự chủ tài chính muốn phát huy tốt tác dụng thì phải được tổ chức phù hợp
với điều kiện thực tế của đơn vị.


13
Tổ chức hợp lý bộ máy kế toán ở đơn vị phù hợp với đặc điểm, điều kiện tổ
chức hoạt động, tổ chức quản lý và phân cấp quản lý tài chính ở đơn vị, đảm bảo đủ
số lượng, có chất lượng, đảm bảo hoàn thành mọi nội dung công việc kế toán của
đơn vị với chi phí tiết kiệm nhất. Thực hiện kế hoạch hóa tổ chức kế toán, có sự phân
công, phân nhiệm rõ ràng cho từng nhân viên kế toán. Xác định được mối quan hệ
công việc giữa bộ phận kế toán với các bộ phận quản lý khác trong đơn vị.
Thứ ba, tổ chức kế toán ở đơn vị phải phù hợp với biên chế đội ngũ và khả

quản trị trong đơn vị, đòi hỏi có sự liên quan và phối kết hợp giữa các bộ phận chức
năng trong toàn đơn vị. Mỗi bộ phận có nhiệm vụ riêng, tuy nhiên, chúng có liên
quan và có mối quan hệ tạo thành bộ máy quản lý toàn đơn vị. Do vậy, khi tổ chức
bộ máy kế toán cần xác định rõ nhiệm vụ và mối quan hệ về cung cấp thông tin giữa
bộ phận kế toán với các bộ phận chức năng liên quan trong toàn đơn vị.
2.2.2.3. Nguyên tắc
Xuất phát từ các yêu cầu trên, để tổ chức kế toán khoa học cần phải tuân thủ
các nguyên tắc cơ bản sau:
Thứ nhất, tổ chức công tác trong đơn vị phải đảm bảo tuân thủ các quy định
của pháp luật về kế toán.
Nhằm tạo ra môi trường pháp lý cho hoạt động của kế toán, mỗi quốc gia sẽ
ban hành một hệ thống các quy định pháp luật cho hoạt động của kế toán. Vì vậy, để
đảm bảo tuân thủ luật pháp tổ chức kế toán phải đảm bảo tuân thủ các quy định về
pháp luật kế toán của từng quốc gia mà đơn vị đang hoạt động.
Tại Việt Nam hiện nay, hầu hết các quy định về kế toán đều được thực hiện
bằng các quy định của Pháp luật, vì vậy việc tổ chức kế toán phải tuân thủ Luật Kế
toán, chế độ kế toán và các quy định pháp luật có liên quan khác.
Thứ hai, tổ chức kế toán phải đảm bảo nguyên tắc thống nhất.
Tổ chức kế toán trong đơn vị sự nghiệp tự chủ tài chính phải đảm bảo sự
thống nhất giữa các bộ phận kế toán trong đơn vị, giữa đơn vị chính với các đơn vị
thành viên và các đơn vị nội bộ.
Tổ chức kế toán trong đơn vị phải đảm bảo sự thống nhất giữa kế toán và các
bộ phận quản lý khác trong đơn vị. Kế toán là một trong các công cụ quản lý thuộc
hệ thống các công cụ quản lý chung của toàn đơn vị. Vì vậy, để phát huy hết vai trò
và nhiệm vụ của kế toán trong hệ thống quản lý chung khi tổ chức kế toán phải chú
ý đến mối quan hệ của kế toán với các bộ phận quản lý khác nhằm đảm bảo tính


15
thống nhất trong xử lý, cung cấp thông tin, kiểm soát, điều hành các hoạt động của


16
yêu cầu về trình độ nghề nghiệp; bố trí và phân công nhân viên thực hiện các công
việc cụ thể; xác lập mối quan hệ giữa các bộ phận kế toán với nhau cũng như giữa
bộ phận kế toán với các bộ phận quản lý khác có liên quan, kế hoạch công tác và
việc kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch;…
Như vậy, để tổ chức bộ máy kế toán cần phải căn cứ vào hình thức tổ chức kế
toán (tập trung, phân tán hay kết hợp giữa tập trung và phân tán), vào đặc điểm tổ
chức và quy mô hoạt động của đơn vị, vào tình hình phân cấp quản lý, khối lượng,
tính chất và mức độ phức tạp của các nghiệp vụ kinh tế, tài chính cũng như yêu cầu,
trình độ của cán bộ quản lý, cán bộ kế toán. Cụ thể căn cứ vào các nội dung sau:
Một là, tổ chức quản lý của đơn vị. Tổ chức bộ máy kế toán trong đơn vị sự
nghiệp tự chủ tài chính cần phù hợp với cơ cấu tổ chức quản lý của đơn vị (như quy
mô của đơn vị và các đơn vị phụ thuộc, cơ cấu các bộ phận phòng ban trong đơn vị,
cơ cấu tổ chức bộ phận tài chính kế toán).
Hai là, căn cứ khối lượng công việc kế toán. Khối lượng công việc bộ máy kế
toán của đơn vị sự nghiệp tự chủ tài chính cần đảm nhiệm những nội dung như đảm
bảo cung cấp đầy đủ thông tin kế toán theo yêu cầu, theo dõi, ghi chép các đối
tượng kế toán và đối tượng quản lý chi tiết, xử lý hệ thống chứng từ kế toán, khối
lượng dữ liệu cần xử lý, hạch toán trên các tài khoản kế toán cho các nghiệp vụ kinh
tế tài chính phát sinh, lập và gửi báo cáo kế toán theo quy định,… Khối lượng công
việc kế toán được ước tính dựa trên đặc điểm hoạt động của đơn vị, mức độ phức
tạp của hoạt động, của yêu cầu thông tin và yêu cầu quản lý trong đơn vị. Căn cứ
vào khối lượng công việc và mức độ phức tạp của công việc để có kế hoạch tuyển
dụng nhân viên. Đồng thời sắp xếp, bố trí nhân sự cho phù hợp. Sau khi phân tích
khối lượng công việc dựa vào các chính sách kế toán đã được xây dựng, các báo cáo
cần được lập, người chịu trách nhiệm tổ chức bộ máy kế toán cũng sẽ xác định đầy
đủ các chức năng kế toán cần có để từ đó có định hướng xây dựng bộ máy kế toán.
Ba là, đặc điểm và định hướng ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác
quản lý của đơn vị sự nghiệp tự chủ tài chính. Công nghệ thông tin làm thay đổi cơ

phù hợp với những đơn vị có phạm vi hoạt động rộng, các cơ sở của đơn vị phụ
thuộc đặt ở xa đơn vị trung tâm. Đối với những đơn vị sự nghiệp tự chủ tài chính có
địa bàn hoạt động phân tán thì việc kiểm tra, giám sát tại chỗ của kế toán đối với
các hoạt động của các cơ sở phụ thuộc phần nào bị hạn chế, thông tin kinh tế do kế
toán cung cấp cho lãnh đạo các cơ sở phụ thuộc thường không kịp thời ảnh hưởng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status