MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC SƠ ĐỒ
TÓM TẮT LUẬN VĂN
6. Bộ Tài chính (2007), Quyết định số 49/2007/QĐ-BTC ngày 15
tháng 6 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về Chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Cục Thuế trực thuộc Tổng Cục
Thuế và chức năng, nhiệm vụ của các Phòng thuộc Cục Thuế, Hà Nội.
1
7. Bộ Tài chính (2007), Thông tư 53/2006/TT-BTC ngày 12/06/2006
Bộ Tài chính về hướng dấn áp dụng kế toán quản trị trong doanh
nghiệp, Hà Nội 1
16.Tổng cục Thuế (2007), Quyết định số 729/QĐ-TCT ngày 18 tháng
6 năm 2007 của Tổng cục Trưởng Tổng cục Thuế về chức năng,
nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Chi cục Thuế trực thuộc Cục Thuế và
chức năng, nhiệm vụ của các Đội thuế thuộc Chi cục Thuế, Hà Nội 2
18. Tổng cục Thuế (2008), Báo cáo thường niên các năm 2006, 2007,
2008, Hà Nội 2
19. Tổng cục Thuế (2007), Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng
dẫn thi hành, Nhà xuất bản Tài chính 2
20. Tổng cục Thuế (2008), Tài liệu hội nghị: Tổng kết công tác Thuế
năm 2008. Nhiệm vụ, giải pháp công tác Thuế năm 2009, Hà Nội 2
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
HCSN Hành chính sự nghiệp
KBNN Kho bạc nhà nước
TSCĐ Tài sản cố định
NSNN Ngân sách Nhà nước
CSDL Cơ sở dữ liệu
MLNSNN Mục lục Ngân sách nhà nước
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngân sách nhà nước là nguồn chính để phát triển kinh tế xã hội, cải
thiện đời sống nhân dân, đáp ứng được các nhu cầu văn hóa, dịch vụ; trong đó
Thuế là nguồn thu chính làm gia tăng ngân sách nhà nước. Trong những năm
qua, được sự quan tâm mãnh mẽ của Đảng, Nhà nước và các tổ chức quốc tế,
ngành Thuế đã có sự phát triển vượt bậc, hàng năm đóng góp trên 70% tổng
nguồn thu của ngân sách nhà nước. Do vậy, để tăng cường vai trò quản lý của
nhà nước về lĩnh vực Thuế thì việc tổ chức hạch toán kế toán của ngành Thuế
cần phải hoàn thiện hơn nữa, đảm bảo hiệu quả các khoản thu, chi; số liệu báo
cáo kế toán của ngành cung cấp cho các cơ quan quản lý nhà nước được chính
xác và kịp thời. Thông qua đó, cơ quan quản lý nhà nước có cơ chế quản lý tài
chính thích hợp, nâng cao hiệu quả sử dụng kinh phí và tăng nguồn thu cho
ngân sách nhà nước.
Bên cạnh đó, tổ chức hạch toán kế toán của ngành Thuế Việt Nam hiện
nay được tuân thủ theo chế độ kế toán của đơn vị hành chính sự nghiệp,
nhưng do đặc thù riêng của ngành nên việc tổ chức hạch toán kế toán cũng có
một số vấn đề cần phải xem xét. Xuất phát từ lý luận và thực tiễn trên, tôi
chọn đề tài “Hoàn thiện tổ chức hạch toán kế toán tại ngành Thuế Việt
Nam”. Luận văn góp phần hoàn thiện tổ chức hạch toán kế toán và nâng cao
hiệu quả quản lý tài chính tại ngành Thuế Việt Nam.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Làm rõ cơ sở lý luận về tổ chức hạch toán kế toán trong các đơn vị
hành chính sự nghiệp.
Nghiên cứu, đánh giá thực trạng tổ chức hạch toán kế toán tại ngành
Thuế Việt Nam.
1
Đề xuất các phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức hạch
toán kế toán tại ngành Thuế Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Chương 2: Thực trạng tổ chức hạch toán tại ngành Thuế Việt Nam.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện tổ chức hạch
toán kế toán tại ngành Thuế Việt Nam.
3
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC
HẠCH TOÁN KẾ TOÁN TRONG CÁC ĐƠN VỊ
HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP
1.1. Tổng quan về các đơn vị hành chính sự nghiệp
1.1.1. Các loại hình đơn vị hành chính sự nghiệp
Đơn vị hành chính sự nghiệp là đơn vị do Nhà nước quyết định thành
lập để thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn, quản lý nhà nước về hoạt động
nào đó. Các đơn vị hành chính sự nghiệp có đặc trưng cơ bản là được trang
trải các chi phí hoạt động bằng nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước. Vì vậy
việc quản lý chi phải đúng mục đích, đúng dự toán được phê duyệt theo từng
nguồn kinh phí, định mức nhà nước quy định.
Các đơn vị hành chính sự nghiệp gồm có:
- Cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức có sử dụng kinh phí
ngân sách nhà nước, gồm:
+ Cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ thu, chi ngân sách nhà nước các cấp;
+ Văn phòng Quốc hội;
+ Văn phòng Chủ tịch nước;
+ Văn phòng Chính phủ
+ Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân các cấp;
+ Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
+ Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, huyện;
+ Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; tổ chức chính trị - xã hội
nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp có sử dụng kinh phí
ngân sách nhà nước;
và thực hiện các nhiệm vụ chính trị được giao. Các đơn vị hành chính sự
5
nghiệp phải chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của nhà nước về kế toán,
kiểm toán, thanh tra….Đồng thời các đơn vị hành chính sự nghiệp phải tổ
chức hạch toán kế toán, quản lý chi tiêu đúng mục đích và trong phạm vi dự
toán được duyệt. Việc quản lý tốt và kiểm tra việc sử dụng có hiệu quả chi
ngân sách nhà nước giúp nhà nước tiết kiệm được chi ngân sách tạo điều kiện
tăng đầu tư cho xã hội, cải thiện đời sống nhân dân….
Theo luật ngân sách nhà nước thì các đơn vị hành chính sự nghiệp được
tổ chức theo hệ thống dọc tương ứng với từng cấp ngân sách sao cho phù hợp
với việc chấp hành ngân sách đó. Tổ chức hạch toán kế toán đơn vị hành
chính sự nghiệp được tổ chức phù hợp với các cấp dự toán, cụ thể:
* Đơn vị dự toán cấp 1 (Tổ chức hạch toán kế toán cấp 1): đó là các
đơn vị tiếp nhận dự toán kinh phí ngân sách cấp hàng năm từ Bộ Tài chính,
phân bổ kinh phí ngân sách cho các đơn vị dự toán cấp dưới, chịu trách nhiệm
trước nhà nước về việc tổ chức hạch toán kế toán và quyết toán ngân sách của
cấp mình và của đơn vị dự toán cấp dưới trực thuộc. Các đơn vị dự toán cấp 1
có quan hệ với các cơ quan tài chính như: Bộ Tài chính, Sở tài chính, phòng
tài chính.
* Đơn vị dự toán cấp 2 (Tổ chức hạch toán kế toán cấp 2): là đơn vị
nhận dự toán kinh phí ngân sách cấp từ đơn vị dự toán cấp 1 và phân bổ kinh
phí ngân sách cho ngân sách cho đơn vị dự toán cấp 3, có mối quan hệ với
đơn vị dự toán cấp 1, chịu trách nhiệm về tổ chức hạch toán kế toán và quyết
toán ngân sách của cấp mình và của các đơn vị dự toán cấp dưới.
* Đơn vị dự toán cấp 3 (Tổ chức hạch toán kế toán cấp 3): là đơn vị
trực tiếp thực hiện dự toán thu, chi, trực tiếp sử dụng dự toán ngân sách, tiếp
nhận từ đơn vị dự toán cấp 2 hoặc cấp 1 (trong trường hợp không có đơn vị
dự toán cấp 2). Có mối quan hệ trực tiếp với đơn vị dự toán cấp 2, có trách
nhiệm tổ chức hạch toán và quyết toán ngân sách của đơn vị mình.
+ Tổ chức vận dụng chứng từ kế toán
+ Tổ chức vận dụng hệ thống sổ kế toán
+ Tổ chức hệ thống báo cáo kế toán.
Từ các quan điểm về tổ chức hạch toán kế toán trên ta có thể khái quát
về tổ chức hạch toán kế toán: là việc sắp xếp hợp lý giữa khối lượng hạch
toán kế toán và bộ máy kế toán theo một mô hình nhất định trên cơ sở thực
hiện đầy đủ các nguyên tắc, phương pháp của kế toán nhằm thu nhận, xử lý và
cung cấp thông tin được trung thực, kịp thời, đầy đủ. Đồng thời, để thiết lập
mối quan hệ giữa đối tượng và phương pháp hạch toán kế toán để vận dụng
chế độ kế toán trong thực tế đơn vị.
1.2.2. Vai trò của tổ chức hạch toán kế toán trong hoạt động quản lý
của các đơn vị hành chính sự nghiệp
Tổ chức hạch toán đã góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả quản lý
của các đơn vị hành chính sự nghiệp, cụ thể:
+ Tổ chức hạch toán kế toán khoa học, hợp lý sẽ góp phần đưa ra
những thông tin kế toán chính xác, kịp thời phục vụ nhu cầu quản lý.
+ Đánh giá tình hình tài chính thực tế, chi phí, tình hình hoạt động tại
các đơn vị hành chính sự nghiệp.
+ Giúp nhà quản lý trong việc hoạch định chính sách, cơ chế quản lý tài
chính phù hợp.
1.2.3. Nguyên tắc của tổ chức hạch toán kế toán
Nguyên tắc kế toán là những tuyên bố chung như các chuẩn mực và
những sự hướng dẫn để phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính phục vụ cho
các yêu cầu của công tác quản lý của đơn vị. Việc tổ chức hạch toán kế toán
phải tuân theo các nguyên tắc sau đây:
Thứ nhất, nguyên tắc phù hợp: Việc tổ chức hạch toán kế toán trong
8
các đơn vị HCSN phải phù hợp với từng cấp dự toán (cấp I, cấp II, cấp III) và
kế toán và báo cáo quyết toán phải phù hợp với đặc điểm, quy mô hoạt động,
tổ chức quản lý của các đơn vị trong ngành.
+ Đảm bảo tính thống nhất giữa kế toán với quản lý. Cung cấp thông
tin kế toán một cách nhanh chóng, đầy đủ kịp thời về tất cả nghiệp vụ kinh tế
xảy ra tại đơn vị cho nhà quản lý.
+ Đảm bảo việc chi tiêu của các đơn vị đúng mục đích, chế độ của Nhà
nước. Hạch toán chính xác số tiền thuế thu được vào NSNN.
Do tầm ảnh hưởng của tổ chức hạch toán kế toán đến hoạt động quản lý
như thế đòi hỏi công tác tổ chức hạch toán kế toán phải thực hiện những
nhiệm vụ sau:
+ Cung cấp kịp thời, chính xác và đầy đủ các tài liệu về tình hình sử
dụng từng loại tài sản trong mối quan hệ với nguồn hình thành từng loại tài
sản đó. Có như thế thì tài sản sử dụng mới đúng mục đích, đúng đối tượng và
mới được sử dụng hiệu quả.
+ Giám sát tình hình sử dụng nguồn kinh phí của đơn vị, chi phí phát
sinh, để quản lý hiệu quả nguồn vốn.
+ Theo dõi tình hình huy động và sử dụng nguồn hình thành tài sản của
đơn vị sao cho đạt hiệu quả kinh tế cao.
1.3. Nội dung của tổ chức hạch toán kế toán trong các đơn vị hành
chính sự nghiệp
1.3.1. Tổ chức bộ máy kế toán
Tổ chức bộ máy kế toán là khâu quan trọng trong công tác hạch toán kế
toán. Tuỳ thuộc vào đặc điểm, quy mô hoạt động của các đơn vị hành chính
sự nghiệp mà các đơn vị này tổ chức bộ máy kế toán sao cho phù hợp với tình
hình tại đơn vị. Mô hình tổ chức bộ máy kế toán gồm hai mặt:
10
+ Là quan hệ giữa các cấp quản lý của một tổ chức;
+ Là quan hệ về bố trí nhân sự kế toán giữa các cấp quản lý phù hợp
với quan hệ về tổ chức hạch toán kế toán đã xác định.
+ Kế toán vốn bằng tiền, nguồn kinh phí, vốn quỹ: theo dõi số hiện có và
tình hình phát sinh các loại vốn bằng tiền, các nguồn kinh phí đã hình thành tài
sản cố định, kinh phí đầu tư xây dựng cơ bản, vốn, quỹ của đơn vị và tại kho
bạc.
+ Kế toán thanh toán: có nhiệm vụ theo dõi công nợ, các khoản phải
thu, phải trả của các đối tượng trong và ngoài đơn vị.
+ Kế toán vật tư, tài sản: theo dõi số lượng, giá trị hiện có, tình hình
biến động vật tư, tài sản, phản ánh số lượng, nguyên giá và giá trị hao mòn tài
sản của đơn vị.
* Một số hình thức tổ chức bộ máy kế toán
- Bộ máy kế toán tổ chức theo kiểu trực tuyến: kế toán trưởng trực
tiếp điều hành các nhân viên kế toán phần hành không thông qua khâu trung
gian nhận lệnh. Bộ máy kế toán theo kiểu này đơn giản, áp dụng trong một
cấp kế toán tập trung, quy mô nhỏ.
- Bộ máy kế toán theo kiểu trực tuyến tham mưu: bộ máy kế toán
được hình thành trên mối liên hệ trực tuyến như phương thức trực tuyến, đồng
thời mối liên hệ có tính chất tham mưu giữa kế toán trưởng và các kế toán
phần hành, giữa kế toán trưởng và bộ phận tham mưu.
- Bộ máy kế toán tổ chức theo kiểu chức năng: theo kiểu này bộ máy
kế toán được chia thành những bộ phận độc lập đảm nhận hoạt động riêng rẽ
thường gọi là ban, phòng kế toán. Kế toán trưởng của đơn vị chỉ đạo kế toán
nghiệp vụ thông qua các trưởng ban, trưởng phòng kế toán. Theo kiểu này, công
12
việc của kế toán trưởng được giảm thiểu và tập trung hơn so với bộ máy kế toán
tổ chức theo kiểu trực tuyến và bộ máy kế toán theo kiểu trực tuyến tham mưu.
Một số mô hình tổ chức bộ máy kế toán:
- Mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung:
Theo hình thức này, toàn bộ đơn vị chỉ tổ chức một phòng kế toán tập
trung, mọi công việc kế toán đều được thực hiện tập trung tại phòng kế toán - tổ
và kế toán bộ phận các đơn vị trực thuộc. Kế toán đơn vị trực thuộc phải mở
sổ kế toán, thực hiện toàn bộ khối lượng công tác kế toán phần hành, thu thập,
xử lý, kiểm tra các chứng từ ban đầu, hạch toán chi tiết, tổng hợp các hoạt
động ở các đơn vị trực thuộc theo sự phân cấp theo quy định, rồi định kỳ lập
báo cáo kế toán lên kế toán trung tâm. Kế toán trung tâm thực hiện tổng hợp
số liệu báo cáo của đơn vị trực thuộc, lập báo cáo cho cơ quan quản lý, chịu
trách nhiệm về số liệu trên báo cáo.
Ưu điểm của mô hình này là tạo thuận lợi cho việc kiểm tra, chỉ đạo
hoạt động ở các đơn vị trực thuộc; đồng thời phát huy được chức năng, vai trò
của kế toán ở các bộ phận trực thuộc.
Tuy nhiên hình thức này lại có nhược điểm là việc tổng hợp số liệu,
cung cấp thông tin, lập báo cáo toàn đơn vị thường bị chậm, tốn kém, kế toán
cồng kềnh. Hình thức này phù hợp với các đơn vị có quy mô lớn, địa bàn hoạt
động phân tán, các đơn vị trực thuộc hoạt động độc lập.
14Sơ đồ 1.2: Mô hình kế toán phân tán
- Mô hình tổ chức bộ máy kế toán hỗn hợp:
Theo hình thức này, mô hình kế toán nửa tập trung, nửa phân tán, là sự
kết hợp đặc trưng của cả mô hình kế toán tập trung và cả mô hình kế toán
phân tán. Toàn bộ khối lượng kế toán thực hiện tại kế toán trung tâm được đặt
tại đơn vị cấp trên. Đối với đơn vị trực thuộc chưa có đủ điều kiện nhận vốn,
tự chủ trong quản lý thì không cần tổ chức bộ máy kế toán; còn đối với những
đơn vị có đủ điều kiện về tổ chức, quản lý thì tổ chức bộ máy kế toán tại đơn
vị, sau đó gửi báo cáo của đơn vị lên kế toán trung tâm.
Hình thức tổ chức bộ máy kế toán vừa tập trung vừa phân tán khắc
phục được những hạn chế của hai hình thức trên, tạo điều kiện thuận lợi cho
hạch toán kế toán ở các đơn vị trực thuộc lớn.
15
1.3.2.1. Tổ chức hệ thống chứng từ kế toán
Theo điều 4 của luật kế toán: “ Chứng từ kế toán là những giấy tờ và
vật mang tin phản ánh nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh và đã hoàn thành,
làm căn cứ ghi sổ kế toán”. Chứng từ kế toán là phương tiện quan trọng để
truyền đạt mệnh lệnh, ý kiến chỉ đạo của ban lãnh đạo, đồng thời cũng là để
thực hiện các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong đơn vị và kiểm tra các nghiệp
vụ kinh tế đó. Do đó, chứng từ kế toán là căn cứ không thể thiếu trong công
16
Kế toán đơn vị cấp trên
Kế toán trưởng
Kế toán
các hoạt
động tại
cấp trên
Kế toán các đơn
vị trực thuộc
hạch toán tập
trung
Bộ phận tổng
hợp báo cáo
từ đơn vị
trực thuộc
Bộ phận
kiểm tra
kế toán
Đơn vị kinh tế trực thuộc
Nhân viên
hạch toán ban
đầu tại cơ sở
trực thuộc
17
chứng từ phải giống nhau.
Các chứng từ kế toán được lập bằng máy vi tính phải đảm bảo nội dung
quy định và tính pháp lý cho chứng từ kế toán. Các chứng từ kế toán dùng
làm căn cứ trực tiếp để ghi sổ kế toán phải có định khoản kế toán.
- Mọi chứng từ kế toán phải có đủ chữ ký theo chức danh quy định trên
chứng từ mới có giá trị thực hiện. Riêng chứng từ điện tử phải có chữ ký
điện tử theo quy định của pháp luật. Tất cả các chữ ký trên chứng từ kế
toán đều phải ký bằng bút bi hoặc bút mực, không được ký bằng mực đỏ,
bằng bút chì, hoặc dấu khắc sẵn chữ ký, chữ ký trên chứng từ kế toán dùng
để chi tiền phải ký theo từng liên. Chữ ký trên chứng từ kế toán của một
người phải thống nhất và phải giống với chữ ký đã đăng ký theo quy định,
trường hợp không đăng ký chữ ký thì chữ ký lần sau phải thống nhất với
chữ ký các lần trước đó.
- Tất cả các đơn vị hành chính sự nghiệp đều phải sử dụng thống nhất
mẫu chứng từ kế toán thuộc loại bắt buộc quy định trong chế độ kế toán này.
Trong quá trình thực hiện, các đơn vị không được sửa đổi biểu mẫu chứng từ
thuộc loại bắt buộc. Đối với mẫu chứng từ kế toán thuộc loại hướng dẫn thì
ngoài các nội dung quy định trên mẫu, đơn vị kế toán có thể bổ sung thêm chỉ
tiêu hoặc thay đổi hình thức mẫu biểu cho phù hợp với việc ghi chép và yêu
cầu quản lý của đơn vị.
* Nội dung tổ chức chứng từ kế toán
Những yếu tố cơ bản của chứng từ kế toán bắt buộc phải được lập
đầy đủ được quy định trong Luật kế toán là: Tên và số hiệu của chứng từ;
ngày, tháng, năm lập chứng từ kế toán; tên, địa chỉ của đơn vị hoặc cá nhân
lập chứng từ kế toán và đơn vị hoặc cá nhân nhận chứng từ kế toán; nội dung
nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh; Số lượng, đơn giá và số tiền của nghiệp
vụ kinh tế, tài chính ghi bằng số, tổng số tiền của chứng từ kế toán dùng để
18
có);
- Phân loại, sắp xếp chứng từ kế toán, định khoản và ghi sổ kế toán;
- Lưu trữ, bảo quản chứng từ kế toán.
* Trình tự kiểm tra chứng từ kế toán:
- Kiểm tra tính rõ ràng, trung thực, đầy đủ của các chỉ tiêu, các yếu tố
ghi chép trên chứng từ kế toán;
- Kiểm tra tính hợp pháp của nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh đã
ghi trên chứng từ kế toán; Đối chiếu chứng từ kế toán với các tài liệu khác có
liên quan;
- Kiểm tra tính chính xác của số liệu, thông tin trên chứng từ kế toán.
Khi kiểm tra chứng từ kế toán nếu phát hiện có hành vi vi phạm chính
sách, chế độ, các quy định về quản lý kinh tế, tài chính của Nhà nước, phải từ
chối thực hiện (xuất quỹ, thanh toán, xuất kho, ) đồng thời báo cáo ngay
bằng văn bản cho Thủ trưởng đơn vị biết để xử lý kịp thời theo đúng pháp
luật hiện hành.
Đối với những chứng từ kế toán lập không đúng thủ tục, nội dung và
chữ số không rõ ràng thì người chịu trách nhiệm kiểm tra hoặc ghi sổ phải trả
lại, yêu cầu làm thêm thủ tục và điều chỉnh sau đó mới làm căn cứ ghi sổ.
Như vậy, căn cứ vào hệ thống chứng từ kế toán quy định trong các văn
bản pháp lý, các đơn vị cần lựa chọn những chứng từ kế toán cần thiết, phù
hợp với đặc điểm, quy mô từng đơn vị. Bộ phận kế toán phải kiểm tra toàn bộ
chứng từ kế toán đó (kiểm tra tính trung thực, đầy đủ của các chỉ tiêu, số liệu,
các yếu tố ghi chép trên chứng từ, kiểm tra tính hợp pháp của nghiệp vụ kinh
tế phát sinh trên chứng từ), đối chiếu chứng từ kế toán với tài liệu kế toán có
liên quan, từ đó làm cơ sở tin cậy để ghi sổ kế toán.
20