Một số lợi ích đối với các công ty nước ngoài khi niêm yết trên thị trường chứng khoán Mỹ
Khoảng giữa năm 2006 CAVICO bỗng trở thành một hiện tượng thu hút
sự chú ý của công chúng đầu tư khi công bố kế hoạch trở thành doanh
nghiệp Việt Nam đầu tiên niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng
khoán Hoa Kỳ. Cho tới thời điểm tháng 7/2007 thì sự thực là CAVICO
đang được giao dịch trên thị trường chứng khoán Mỹ nhưng là thị
trường OTC. Chưa biết các bước chiến lược tiếp theo của CAVICO như
thế nào, nhưng rõ ràng là họ đã có được một cơ hội quảng bá hình ảnh
khá ngoạn mục
Tuy nhiên, ngoài việc quảng bá hình ảnh như vậy thì việc niêm yết cổ phiếu trên thị trường Mỹ còn
có thể mang lại những lợi ích gì nữa? Bài viết này sẽ đề cập tới một số lợi ích đối với các công ty
nước ngoài khi có cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Mỹ (bao gồm tất cả các sàn giao
dịch chính thức và phi chính thức). Trước hết xin bắt đầu với một số thông tin khái quát về các
hình thức niêm yết cổ phiếu của các công ty nước ngoài trên thị trường chứng khoán lớn nhất thế
giới này.
Các hình thức niêm yết của các công ty nước ngoài trên thị trường chứng khoán Mỹ
Hầu hết các công ty nước ngoài niêm yết trên thị trường chứng khoán Mỹ sử dụng một công cụ tài
chính gọi là ADRs – American Depository Receipts. Cổ phiếu của các doanh nghiệp này không
được bán trực tiếp cho các nhà đầu tư Mỹ mà do một số ngân hàng (gọi là depository bank) nắm
giữ. Các ngân hàng này sau đó phát hành các ADRs và bán cho các nhà đầu tư. Mỗi ADR tương
đương với một giấy chứng nhận sở hữu một số lượng cổ phiếu nhất định. Như vậy thực chất các
nhà đầu tư không mua cổ phiếu mà chỉ mua các chứng chỉ sở hữu cổ phiếu của các doanh nghiệp
nước ngoài.
Có 3 loại ADRs được chia theo cấp độ.
* Cấp độ 1 (Level I ADR) bao gồm các cổ phiếu được giao dịch trên thị trường OTC. Ở cấp độ
này, các công ty không phải tuân thủ các quy định khắt khe như khi niêm yết trên các thị trường
chính thức, trong đó quan trọng nhất là không phải tuân thủ các chuẩn mực kế toán Mỹ (U.S.
GAAP). Tuy nhiên, tính thanh khoản của các cổ phiếu này cũng thấp hơn.
* Cấp độ 2 (Level II ADR) bao gồm các cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán chính thức,
ví dụ như NYSE hay AMEX, nhưng công ty niêm yết không được phát hành cổ phiếu mới trên thị
trường. Ở cấp độ này, các công ty không phải tuân thủ hoàn toàn nhưng phải chuyển đổi một số
đến một quy mô nhất định thì việc đưa cổ phiếu sang niêm yết trực tiếp tại Mỹ có thể trở nên cần
thiết.
* Tận dụng những ưu thế riêng có của thị trường chứng khoán Mỹ: với ưu thế của một thị trường
chứng khoán lớn và uy tín hàng đầu thế giới, tính thanh khoản cao, niêm yết trên thị trường này
cho phép các công ty có thể huy động vốn với giá rẻ hơn, huy động số vốn lớn một cách dễ dàng
hơn. Uy tín và hình ảnh của công ty trên thị trường quốc tế cũng như nội địa cũng được cải thiện
đáng kể.
* Do đặc thù ngành đòi hỏi phải niêm yết trên thị trường Mỹ: đối với các doanh nghiệp trong một số
ngành đặc thù như công nghệ cao, công nghệ sinh học thì thông thường để phân tích, đánh giá
tiềm năng của họ đòi hỏi phải có các chuyên gia am hiểu về các ngành đó, cũng như có các doanh
nghiệp tương tự để làm cơ sở so sánh. Sự thiếu vắng các chuyên gia cũng như các doanh nghiệp
trong cùng ngành để so sánh khiến cho các nhà đầu tư phải chịu rủi ro cao hơn, theo đó họ sẽ yêu
cầu mức lợi tức cao hơn. Hệ quả là chi phí vốn cho doanh nghiệp tăng lên. Do đó, các doanh
nghiệp trong các ngành này có thể sẽ có lợi hơn khi niêm yết trên thị trường Mỹ.
* Mở rộng mạng lưới cổ đông (shareholder base): một số công ty nước ngoài có thể muốn niêm
yết trên thị trường chứng khoán Mỹ nhằm thu hút các nhà đầu tư Mỹ, mở rộng mạng lưới cổ đông,
qua đó giảm rủi ro, tăng giá trị cổ phiếu.
Liệu cross-list có thực sự mang lại hiệu quả mong muốn?
Như vậy có thể thấy các doanh nghiệp có rất nhiều mục đích khi niêm yết trên thị trường chứng
khoán Mỹ. Tuy nhiên, đứng từ góc độ nhà đầu tư thì dù mục tiêu là gì, điều quan trọng nhất vẫn là
liệu việc niêm yết trên thị trường Mỹ có giúp cho giá trị của doanh nghiệp tăng lên hay không?
Câu trả lời là có. Nghiên cứu của Doidge, Karolyi, Stulz (2004) đối với các doanh nghiệp (đến từ
40 nước) có cổ phiếu giao dịch trên thị trường chứng khoán Mỹ tại thời điểm 31/12/1997 cho thấy
các công ty này có giá trị trung bình cao hơn 16% so với các công ty khác thuộc cùng quốc gia
nhưng không niêm yết tại Mỹ. Mức chênh lệch giá trị thậm chí lên tới 37% cho các công ty niêm
yết trên các thị trường chính thức (cấp độ II và III).
Một số lý giải vì sao các công ty cross-list có giá trị cao hơn
Giá trị của một doanh nghiệp phụ thuộc vào hai yếu tố: khả năng sinh lợi và chi phí vốn. Doanh
nghiệp niêm yết trên thị trường Mỹ có giá trị cao hơn có thể do khả năng sinh lợi tăng, hoặc chi phí
vốn giảm, hoặc đồng thời cả hai. Việc tăng khả năng khả năng sinh lời là có thể hiểu được do việc
định của SEC, sự giám sát của công chúng đầu tư, các phương tiện thông tin đại chúng. Điều này
góp phần tạo sự bình đẳng, giảm mâu thuẫn lợi ích giữa các nhà đầu tư nhỏ (minority investors)
và các nhà đầu tư lớn, có vai trò chi phối trong các công ty (controlling shareholders). Do đó các
nhà đầu tư nhỏ sẽ chịu ít rủi ro hơn, và họ sẽ chấp nhận một mức lợi tức yêu cầu thấp hơn. Kết
quả là chi phí vốn của doanh nghiệp giảm xuống.
Tóm lại, có thể thấy các doanh nghiệp có rất nhiều lợi thế khi có cổ phiếu niêm yết trên thị trường
chứng khoán Mỹ. Tất nhiên, để đáp ứng đủ các tiêu chuẩn niêm yết của thị trường này cũng
không phải là đơn giản. Trong nhiều trường hợp chi phí rất tốn kém. Đặc biệt, sau một loạt bê bối
tài chính xảy ra đối với các ông kẹ như WorldCom và Enron, đạo luật Sarbane-Oxley ra đời càng
thắt chặt thêm các yêu cầu đối với các công ty nước ngoài muốn niêm yết trên thị trường này. Hy
vọng trong một ngày không xa sẽ có thêm nhiều CAVICO mới xuất hiện trên thị trường Mỹ như
một sự khẳng định vị thế mới của các doanh nghiệp Việt Nam trên trường quốc tế.
Trần Đức Nam
(VACO)