ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
CẤP TRƯỜNG NĂM 2016
XÂY DỰNG CÁC BÀI THÍ NGHIỆM PHẦN CƠ HỌC THUỘC CHƯƠNG
TRÌNH VẬT LÝ TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT
TRIỂN NĂNG LỰC CỦA NGƯỜI HỌC
Mã số:T2016-03-11
Chủ nhiệm đề tài: Phan Liễn
Đà Nẵng, 11/2016
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
CẤP TRƯỜNG NĂM 2016
XÂY DỰNG CÁC BÀI THÍ NGHIỆM PHẦN CƠ HỌC THUỘC CHƯƠNG
TRÌNH VẬT LÝ TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT
TRIỂN NĂNG LỰC CỦA NGƯỜI HỌC
Mã số: T2016-03-11
Xác nhận của cơ quan chủ trì đề tài
(ký, họ và tên, đóng dấu)
NỘI DUNG................................................................................................................... 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG
THÍ NGHIỆM THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC.......................6
1.1. Đại cương về thí nghiệm vật lí.....................................................................6
1.1.1. Thí nghiệm vật lí.................................................................................6
1.1.2. Đặc điểm của thí nghiệm vật lí...........................................................8
1.1.3. Phân loại thí nghiệm Vật lý: có hai loại..............................................8
1.1.4. Các chức năng của thí nghiệm trong dạy học Vật lý...........................9
1.1.5. Vai trò của thí nghiệm trong tổ chức hoạt động nhận thức cho học
sinh........................................................................................................................ 9
1.2. Dạy học theo phát triển năng lực..............................................................10
1.2.1. Khái niệm về năng lực......................................................................10
1.2.2. Giáo dục định hướng phát triển năng lực..........................................12
1.3. Xác định các năng lực chung cốt lõi và chuyên biệt của môn Vật lý
cấp THPT...................................................................................................................17
1.3.1. Dạy học định hướng phát triển năng lực...........................................17
1.3.2. Các năng lực chuyên biệt trong bộ môn Vật lý.................................19
CHƯƠNG 2................................................................................................................26
XÂY DỰNG 5 BÀI THÍ NGHIỆM CƠ HỌC CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÝ
THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁY TRIỂN NĂNG LỰC CHO NGƯỜI
HỌC............................................................................................................................ 26
2.1. Thí nghiệm thực hành trong trường trung học phổ thông......................26
2.2. Xây dựng 5 bài thí nghiệm cơ học môn vật lý trung học phổ thông.......26
2.2.1. Khảo sát chuyển động thẳng đều trên máng nằm ngang...................26
2.2.2. Khảo sát chuyển động rơi tự do........................................................33
2.2.3. Khảo sát hệ số ma sát........................................................................37
2.2.4 Khảo sát thực nghiệm các định luật của con lắc đơn.........................43
2.2.5. Xác định tốc độ truyền âm................................................................49
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM.............................................................54
3.1. Mục đích và nhiệm vụ của việc thực nghiệm sư phạm............................54
TÓM TẮT
Phát triển năng lực là một định hướng chung trong giáo dục hiện nay, xuyên
suốt hoạt động dạy học các môn học, trong đó có hoạt động dạy học môn Vật lí.
Trong dạy học Vật lý năng lực thực nghiệm được xác định là một trong những năng
lực quan trọng của học sinh. Năng lực thực nghiệm có thể được bồi dưỡng và phát
triển thông qua việc sử dụng các thí nghiệm trong quá trình dạy và học môn Vật lí.
Tuy nhiên, nhiều giáo viên chưa thực sự chú trọng hoặc vẫn còn lúng túng trong
việc bồi dưỡng năng lực thực nghiệm cho học sinh. Chính vì vậy, trong bài viết này,
chúng tôi đã nghiên cứu và giới thiệu một bộ thí nghiệm phần cơ học trong dạy học
môn vật lí trung học phổ thông nhằm bồi dưỡng các kĩ năng theo hướng phát triển
năng lực thực nghiệm cho học sinh trong dạy học.
ABSTRACT
Capacity development is a general direction of current education, teaching
activities throughout the course, including teaching activities Physics subjects.
Physics teaching in experimental capacity was identified as one of the critical
capacity of the students. Experimental capacity can be fostered and developed
through the use of experiments in the teaching and learning process of Physics.
However, many teachers are not really focused on or are still confused in capacity
building for student experiments. Therefore, in this article, we have studied and
introduced a set of experiments in the mechanical physics teaching high school in
order to foster the development of skills in the direction of experimental capacity
for learning in teaching students.
MỞ ĐẦU
1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu.
Phát triển năng lực của HS có vai trò quyết định đến chất lượng và hiệu quả
của quá trình dạy học ở trường phổ thông. Việc tự học của HS trong dạy học vật lí ở
trường THPT, đã có một số tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Như
trị tư tưởng, nhân cách, khả năng tư duy sáng tạo và năng lực thực hành” [1]. Ở
nước ta cũng như các nước trên thế giới, mục đích giáo dục hiện nay không chỉ
dừng lại ở việc truyền thụ cho học sinh (HS) những kiến thức, kĩ năng loài người đã
tích lũy được mà còn đặt biệt quan tâm đến việc bồi dưỡng khả năng tư duy sáng
tạo, năng lực thực hành và năng lực giải quyết vấn đề. Một trong những biện pháp
quan trọng để thực hiện đường lối trên là đưa học sinh vào vị trí chủ thể của hoạt
động nhận thức, thông qua hoạt động tự lực của bản thân mà chiếm lĩnh kiến thức,
phát triển năng lực trí tuệ.
Luật giáo dục, điều 28.2 đã ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát
huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm
của tùng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo
nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm,
đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.[17]
Tình hình nghiên cứu, khai thác phương tiện dạy học hiện đại trên thế giới và
trong nước cho thấy dạy học Vật lí theo phát triển năng lực của HS là một xu hướng
đã và đang được các nhà khoa học quan tâm.
Trong dạy học vật lí (DHVL) ở trường phổ thông, các nội dung kiến thức chủ
yếu là thực nhiệm, hầu hết các khái niệm, định luật, thuyết vật lí … được rút ra trên
cơ sở khảo sát, phân tích các kết quả có được từ việc tiến hành thí nghiệm. Vì vậy,
dạy học vật lí không chỉ là đơn thuần cung cấp cho học sinh kiến thức mà điều quan
trọng là phải hình thành năng lực, những kỹ năng, kỹ xảo về thực hành như: gia
công, lắp ráp, tiến hành thí nghiệm để thu thập và xử lí kết quả… Thực trạng dạy
học hiện nay ở các trường phổ thông vẫn còn nặng về lý thuyết, thuyết trình và diễn
giải. Học sinh vẫn học tập theo lối ghi nhớ và tái hiện nên khả năng vận dụng kiến
thức vào thực tiễn vẫn còn hạn chế. Do đó, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học
cần thực hiện theo các định hướng cụ thể: tăng cường sử dụng các phương pháp dạy
học nhằm phát huy năng lực hình thành tính chủ động, sáng tạo của học sinh; tăng
cường học tập của cá nhân, phối hợp hài hòa việc học với học nhóm; coi trọng việc
bồi dưỡng phương pháp tự học và rèn luyện kỹ năng ngang tầm với việc truyền thụ
năng lực.
- Nghiên cứu nội dung, chương trình và sách giáo khoa vật lí THPT.
- Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc sử dụng thí nghiệm
để bồi dưỡng năng lực cho học sinh THPT
3
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá kết quả và rút ra kết luận.
6. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
6.1. Cách tiếp cận: Dựa trên khảo sát thực tế các bài thí nghiệm vật lí hiện có ở
phòng thí nghiệm của Trường Đại học Sư phạm -ĐHĐN, từ đó xây dựng quy
trìnhcác bài thí nghiệm phần cơ học chương trình phổ thông theo năng lực phát triển
của người học.
6.2. Phương pháp nghiên cứu
+ Nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu chương trình sách giáo khoa Vật lý THPT từ
đó đưa ra mục tiêu thí nghiệm cho các bài học. Nghiên cứu mục tiêu, nội dung và
nhiệm vụ dạy học thí nghiệm của môn vật lý ở trường THPT.
+ Nghiên cứu thực nghiệm: Khảo sát, tiến hành các bài thí nghiệm để biên soạn
tài liệu quy trình thí nghiệm.
+ Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phương pháp thống kê toán học để
xử lí số liệu và trình bày kết quả TNSP, có đánh giá kết quả và kiểm định về sự khác
biệt trong kết quả học tập của hai nhóm đối tượng (đối chứng và thực nghiệm
(TN)).
7. Cấu trúc của đề tài
Đề tài gồm 3 phần: Mở đầu, nội dung và kết luận
Mở đầu
Nội dung
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây dựng thí nghiệm theo định
hướng phát triển năng lực
Chương 2: Nghiên cứu và xây dựng 5thí nghiệm Phần cơ học theo định hướng
mà đối với học sinh. Chẳng hạn khi học về hiện tượng sự rơi tự do không ít học sinh
cho rằng vật nặng rơi nhanh hơn vật nhẹ. Vì vậy, khi giảng dạy giáo viên tận dụng
kinh nghiệm sống của học sinh, nhưng mặt khác phải chỉnh lý, hệ thống hoá kinh
nghiệm và nâng lên ở trình độ chính xác để tránh được tính chất giáo điều, hình
thức trong giảng dạy.
6
Thí nghiệm vật lý có tác dụng to lớn trong việc phát triển năng lực và nhận thức
của học sinh và giúp họp quen dần với phương pháp nghiên cứu khoa học. Vì qua
đó họ được tập quan sát, đo đạc, rèn luyện tính cẩn thận, kiên trì. Điều đo rất cần
cho việc giáo dục kỹ thuật tổng hợp, chuẩn bị cho học sinh tham gia thực tế. Do
được tận mắt quan sát sự hoạt động của máy móc, tự tay tháo lắp các thiết bị và đo
lường các đại lượng mà họ có thể nhanh chóng làm quen với những dụng cụ và thiết
bị dùng cho sản xuất sau này.
Tuy thế nhưng trong tự nhiên các hiện tượng vật lý lại vô cùng phức tạp và chằng
chịt lấy nhau, cho nên cùng một lúc không thể phân biệt được những tính chất đặc
trưng của từng hiện tượng, không thể cùng một lúc phân biệt ảnh hưởng của tính
chất này đến tính chất khác. Vì vậy, dùng thí nghiệm vật lý để làm nổi bật những
khía cạnh cần nghiên cứu của hiện tượng, tức là làm cho quá trình tự nhiên xảy ra ở
dạng rõ ràng nhất, ít bị ảnh hưởng các quá trình phức tạp, nhờ đó mà học sinh tận
dụng được tính chất đặc trưng của hiện tượng và mối liên hệ qua lại giữa các tính
chất đó.
Mặc dù có tác dụng lớn lao như vậy, thí nghiệm vật lý vẫn chưa chiếm được vị trí
thích đáng trong các nhà trường phổ thông hiện nay. Điều đó do một phần thiếu
thiết bị, một phần do nhà trường phổ thông chưa nhận thức được đầy đủ về vai trò
của thí nghiệm vật lý. Hơn nữa, tình hình kinh tế - xã hội đã có ảnh hưởng đến
nhiệt tình của thầy cô giáo,ít làm thí nghiệm, vì làm thí nghiệm sẽ mất nhiều thời
gian và suy nghĩ.
nhờ các giác quan của con người và sự hỗ trợ của các phương tiện quan sát, đo đạc.
- Với các thiết bị thí nghiệm, các điều kiện thí nghiệm như nhau thì khi bố trí lại
hệ thí nghiệm, tiến hành lại thí nghiệm, hiện tượng, quá trình vật lý phải diễn ra
trong thí nghiệm giống như ở các lần thí nghiệm trước.[8]
1.1.3. Phân loại thí nghiệm Vật lý: có hai loại [8]
- Thí nghiệm biểu diễn của giáo viên: Do giáo viên tiến hành nhằm giới thiệu
một cách tương đối nhanh với học sinh các hiện tượng, các quá trình và các quy luật
nghiên cứu.
8
- Thí nghiệm do học sinh thực hiện: Do học sinh tiến hành dưới sự tổ chức và
hướng dẫn của giáo viên để hình thành kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo cho bản thân.
1.1.4. Các chức năng của thí nghiệm trong dạy học Vật lý [8]
1.1.4.1. Chức năng của thí nghiệm theo quan điểm nhận thức.
- Thí nghiệm là phương tiện của việc thu nhận tri thức.
- Thí nghiệm là phương tiện để kiểm tra tính đúng đắn của tri thức thu được.
- Thí nghiệm là phương tiện để vận dụng tri thức đã thu được vào thực tiễn.
- Thí nghiệm là một bộ phận của các phương pháp nhận thức.
1.1.4.2. Chức năng của thí nghiệm theo quan lý luận dạy học.
- Thí nghiệm có thể được sử dụng ở tất cả các giai đoạn khác nhau của quá trình
dạy học.
- Thí nghiệm góp phần phát triển toàn diện của học sinh.
- Thí nghiệm góp phần đơn giản hoá các hiện tượng và quá trình Vật lý.
- Thí nghiệm là phương tiện góp phần quan trọng vào việc giáo dục kĩ thuật tổng
hợp cho học sinh.
- Thí nghiệm là phương tiện kích thích học tập của học sinh.
- Thí nghiệm là phương tiện tổ chức các hình thức hoạt động của học sinh.
Như vậy, trong dạy học Vật lý thí nghiệm là phần không thể thiếu và cần phải
tổ chức hoạt động nhận thức cho HS có hiệu quả hơn.
1.2.Dạy học theo phát triển năng lực
1.2.1. Khái niệm về năng lực
1.2.1.1. Định nghĩa năng lực
Năng lực có 2 định nghĩa phổ biến hiện nay: định nghĩa theo trường phái của
Anh và định nghĩa theo trường phái của Mỹ.
+ Năng lực theo trường phái của Anh: năng lực được hình thành bởi 3 yếu tố:
Kiến thức (Knowledge) – Kỹ năng (Skill) – Thái độ (Attitude). Đây còn gọi là mô
hình ASK.
+ Năng lực theo trường phái của Mỹ: Năng lực là bất kỳ yếu tố tâm lý của cá
nhân có thể giúp nhanh chóng hoàn thành công việc hay hành động nào đó một cách
hiệu quả.
Ngoài ra năng lực còn được định nghĩa theo tâm lý học, các nhà tâm lý học cho
rằng năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với
10
yếu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt
hiệu quả cao.
Theo Trần Khánh Đức thì năng lực là “khả năng tiếp nhận và vận dụng tổng hợp,
có hiệu quả mọi tiềm năng của con người (tri thức, kĩ năng, thái độ, thể lực, niềm
tin ...) để thực hiện công việc hoặc đối phó với một tình huống, trạng thái nào đó
trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp”.[18]
Có thể thấy dù cách phát biểu có khác nhau, nhưng các cách hiểu trên đều khẳng
định: Nói đến năng lực là phải nói đến khả năng thực hiện, là phải biết làm, chứ
không chỉ biết và hiểu. Các năng lực hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên
của cá nhân mới đóng vai trò quan trọng, năng lực của con người không phải hoàn
toàn đo tự nhiên mà có, phần lớn do công tác, do tập luyện mà có.
1.2.1.2. Đặc điểm của năng lực
cảm xúc – đạo đức và liên quan đến tư duy và hành động tự chịu trách nhiệm.
1.2.1.4.Các cấp độ của năng lực
L
( D
B
à
o
m
e
s
)
T h ể
( S h o w
h
i ệ n
h o w
i ế t
c á
( K n o w
1.2.2.1. Khái niệm năng lực trong dạy học định hướng phát triển năng lực [2]
Trong chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực, khái niệm năng lực
được sử dụng như sau:
- Năng lực liên quan đến bình diện mục tiêu của dạy học: mục tiêu dạy học
được mô tả thông qua các năng lực cần hình thành.
- Trong chương trình, những nội dung học tập và hoạt động cơ bản được liên
kết với nhau nhằm hình thành các năng lực.
- Năng lực là sự kết nối tri thức, hiểu biết, khả năng, mong muốn...
12
- Mục tiêu hình thành năng lực định hướng cho việc lựa chọn, đánh giá mức
độ quan trọng và cấu trúc hóa các nội dung và hoạt động và hành động dạy học về
mặt phương pháp.
- Năng lực mô tả việc giải quyết những đòi hỏi về nội dung trong các tình
huống...
- Các năng lực chung cùng với các năng lực chuyên môn tạo thành nền tảng
chung cho công việc giáo dục và dạy học.
- Mức độ đối với sự phát triển năng lực có thể được xác định trong các tiêu
chuẩn nghề; Đến một thời điểm nhất định nào đó, HS có thể/phải đạt được những
gì?
1.2.2.2. Chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực [2]
Chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực (định hướng phát triển
năng lực) nay còn gọi là dạy học định hướng kết quả đầu ra được bàn đến nhiều từ
những năm 90 của thế kỷ 20 và ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế.
Giáo dục định hướng phát triển năng lực nhằm mục tiêu phát triển năng lực người
học.
Giáo dục định hướng năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy
học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng
năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con
thống tri thức khoa học khách quan về nhiều lĩnh vực khác nhau. Việc quản lý chất
lượng giáo dục ở đây tập trung vào “điều khiển đầu vào” là nội dung dạy học.
Ưu điểm: truyền thụ cho người học một hệ thống tri thức khoa học và hệ thống.
Tuy nhiên ngày nay chương trình dạy học định hướng nội dung không còn thích
hợp vì:
- Chương trình dạy học nhanh bị lạc hậu so với tri thức hiện đại.
- Việc kiểm tra, đánh giá chủ yếu thiên về việc tái hiện các kiến thức đã học
mà chưa chú ý đến việc vận dụng, áp dụng những kiến thức đó vào trong thực tiễn.
- Người học thụ động, hạn chế khả năng sáng tạo và năng động.
b) So sánh chương trình định hướng nội dung và chương trình định hướng phát
triển năng lực
Khác với chương trình định hướng nội dung, chương trình dạy học định hướng
phát triển năng lực tập trung vào việc mô tả chất lượng đầu ra, có thể coi là ”sản
14
phẩm cuối cùng” của quá trình dạy học. Việc quản lý chất lượng dạy học chuyển từ
việc điều khiển “đầu vào” sang điều khiển “đầu ra”, tức là kết quả học tập của HS.
Bảng 1.1: So sánh một số đặc trưng cơ bản của chương trình định hướng nội
dung và chương trình định hướng phát triển năng lực [2]
Chương trình định hướng nội Chương trình định hướng
dung
phát triển năng lực
Mục tiêu dạy học được mô tả Kết quả học tập cần đạt được mô
Mục tiêu giáo
dục
không chi tiết và không nhất tả chi tiết và có thể quan sát,
thiết phải quan sát, đánh giá đánh giá được; thể hiện được
lớp học.
Hình
dạng; chú ý các hoạt động xã
hội, ngoại khóa, nghiên cứu
thức
khoa học, trải nghiệm sáng tạo;
dạy học
đẩy mạnh ứng dụng công nghệ
thông tin và truyền thông trong
dạy và học.
Đánh giá kết Tiêu chí đánh giá được xây Tiêu chí đánh giá dựa vào năng
15
dựng chủ yếu dựa trên sự ghi lực đầu ra, có tính đến sự tiến bộ
quả học tập nhớ và tái hiện nội dung đã trong quá trình học tập, chú
của HS
học.
trọng khả năng vận dụng trong
các tình huống thực tiễn.
chặt chẽ. Năng lực hành động được hình thành trên cơ sở có sự kết hợp các năng
lực này.
Nội dung dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ giới hạn
trong tri thức và kỹ năng chuyên môn mà gồm những nhóm nội dung nhằm phát
triển các lĩnh vực năng lực:
16
Bảng 1.2: Các loại năng lực
Học
nội
dung Học phương pháp Học giao tiếp
chuyên môn
-
Các
tri
- chiến lược
xã hội
– Học
tự
xã nhân.
tinh
thần
trách mực giá trị, đạo
- Các phương pháp nhiệm, khả năng đức và văn hoá,
chuyên môn.
giải
quyết
xung lòng tự trọng ...
đột.
Năng lực chuyên Năng lực phương
môn
pháp
Năng lực xã hội
Năng lực cá nhân
1.3. Xác định các năng lực chung cốt lõi và chuyên biệt của môn Vật lý cấp
THPT [2]
1.3.1. Dạy học định hướng phát triển năng lực
các năng lực chuyên biệt, các tác giả đều cụ thể hóa thành các năng lực thành phần,
những năng lực thành phần này được cụ thể hóa thành các thành tố liên quan đến
kiến thức, kĩ năng… để định hướng quá trình dạy học, kiểm tra đánh giá của GV
[...]
1.3.2. Các năng lực chuyên biệt trong bộ môn Vật lý
a) Xây dựng các năng lực chuyên biệt bằng cách cụ thể hóa các năng lực chung
Ở cách tiếp cận này, người ta xác định các năng lực chung trước, chúng là
các năng lực mà toàn bộ quá trình giáo dục ở trường phổ thông đều phải hướng tới
để hình thành ở HS. Sau đó, từng môn học sẽ xác định sự thể hiện cụ thể của các
năng lực chung ở trong môn học của mình như thế nào. Với cách tiếp cận như vậy,
18
từ các năng lực chung người ta đưa ra các năng lực chuyên biệt trong môn Vật lý
như ở bảng 2.
Bảng 1.3: Bảng năng lực chuyên biệt môn Vật lý được cụ thể hóa từ
năng lực chung [2]
Stt
1
Năng
lực
chung
Biểu hiện năng lực trong môn Vật lý
bằng con đường tạo và hoạt động như thế nào?
thực
nghiệm - Đưa ra được cách thức tìm ra câu trả lời cho các câu hỏi
hay còn gọi là đã đặt ra.
NL
nghiệm)
thực - Tiến hành thực hiện các cách thức tìm câu trả lời bằng
suy luận lí thuyết hoặc khảo sát thực nghiệm.
- Khái quát hóa rút ra kết luận từ kết quả thu được.
- Đánh giá độ tin cậy và kết quả thu được.
19
3
Năng lực sáng - Thiết kế được phương án thí nghiệm để kiểm tra giả
tạo
thuyết (hoặc dự đoán).
- Lựa chọn được phương án thí nghiệm tối ưu.
- Giải được bài tập sáng tạo.
- Lựa chọn được cách thức giải quyết vấn đề một cách tối
4
Năng
thông
truyền
8
(ICT)
Năng
tin
và - Sử dụng phần mềm mô phỏng để mô tả đối tượng vật lý.
thông
lực
sử - Sử dụng ngôn ngữ khoa học để diễn tả quy luật vật lý.
dụng ngôn ngữ
9
- Sử dụng bảng biểu, đồ thị để diễn tả quy luật vật lý.
- Đọc hiểu được đồ thị, bảng biểu.
Năng lực tính - Mô hình hóa quy luật vật lý bằng các công thức toán học.
toán
- Sử dụng toán học để suy luận từ kiến thức đã biết ra hệ
quả hoặc ra kiến thức mới.
b) Xây dựng các năng lực chuyên biệt dựa trên đặc thù môn học