ĐỀ TÀI: VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN LOẠI VĂN HÓA ĐỂ SO SÁNH
GIỮA VĂN HÓA VIỆT NAM VÀ VĂN HÓA MỸ
MỤC LỤC
Contents
I.
1.
Văn hóa
Khái niệm
Từ "văn hóa" có rất nhiều nghĩa. Trong tiếng Việt, văn hóa được dùng theo nghĩa
thông dụng để chỉ học thức (trình độ văn hóa), lối sống (nếp sống văn hóa); theo nghĩa
chuyên biệt để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn (văn hóa Đông Sơn)... Trong khi
theo nghĩa rộng thì văn hóa bao gồm tất cả, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại cho đến
tín ngưỡng, phong tục, lối sống, lao động... Chính với cách hiểu rộng này, văn hoá mới là
đối tượng đích thực của văn hóa học.Tuy nhiên, ngay cả với cách hiểu rộng này trên thế
giới cũng có hàng trăm định nghĩa khác nhau. Để định nghĩa một khái niệm, trước hết
cần xác định được những đặc trưng cơ bản của nó. Đó là những nét riêng biệt và tiêu
biểu, cần và đủ để phân biệt khái niệm (sự vật) ấy với khái niệm (sự vật) khác. Phân tích
các cách tiếp cận văn hóa phổ biến hiện nay (coi văn hóa như tập hợp, như hệ thống, như
giá trị, như hoạt động, như kí hiệu, như thuộc tính nhân cách, như thuộc tính xã hội...), có
1
thể xác định được 4 đặc trưng cơ bản mà tổng hợp lại, ta có thể nêu ra một định nghĩa
văn hoá như sau:
VĂN HOÁ : là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người
sáng tạovà tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người
môi trường tự nhiên và xã hội.
độ "giá trị" và “phi giá trị" của nó. Về mặt lịch đại, cùng một hiện tượng sẽ có thể có giá
trị hay không tùy thuộc vào chuẩn mực văn hóa của từng giai đoạn lịch sử. Áp dụng vào
Việt Nam, việc đánh giá chế độ phong kiến, vai trò của Nho giáo, các triều đại nhà Hồ,
nhà Nguyễn... đều đòi hỏimột tư duy biện chứng như thế. Nhờ thường xuyên xem xét các
giá trị mà văn hóa thực hiện được chức năng quan trọngthứ hai là chức năng điều chỉnh
xã hội, giúp cho xã hội duy trì được trạng thái cân bằng động, không ngừng tự hoàn thiện
và thích ứng với những biến đổi của môi trường, giúp định hướng các chuẩn mực, làm
động lực cho sự phát triển của xã hội
2
c.
Văn hóa mang tính nhân sinh
Tính nhân sinh cho phép phân biệt văn hoá như một hiện tượng xã hội (do con
ngườisáng tạo, nhân tạo) với các giá trị tự nhiên (thiên tạo). Văn hóa là cái tự nhiên được
biếnđổi bởi con người. Sự tác động của con người vào tự nhiên có thể mang tính vật
chất(như việc luyện quặng, đẽo gỗ...) hoặc tinh thần (như việc đặt tên, truyền thuyết cho
cáccảnh quan thiên nhiên...). Như vậy, văn hóa học không đồng nhất với đất nước học.
Nhiệm vụ của đất nước học là giới thiệu thiên nhiên - đất nước - con người. Đối tượng
của nó bao gồm cả các giá trị tự nhiên, và không nhất thiết chỉ bao gồm các giá trị. Về
mặt này thì nó rộng hơn văn hoá học. Mặt khác, đất nước học chủ yếu quan tâm đến các
vấn đề đương đại, về mặt này thì nó hẹp hơn văn hóa học.Do mang tính nhân sinh, văn
hóa trở thành sợi dây nối liền con người với con người, nó thực hiện chức năng giao tiếp
và có tác dụng liên kết họ lại với nhau. Nếu ngôn ngữ là hình thức của giao tiếp thì văn
hóa là nội dung của nó.
d. Văn hóa có tính lịch sử
Nó cho phép phân biệt văn hóa như sản phẩm của một quá trình và được tích luỹ
qua nhiều thế hệ với văn minh như sản phẩm cuối cùng, chỉ ra trình độ phát triển của
3.
Liệu môi trường điều khiển con người hay con người điều khiển môi trường hay con
người chỉ là một bộ phận của thiên nhiên?
Ở Việt Nam con người thường bị phụ thuộc nhiều vào sự thay đổi của môi trường. Do tư
duy kém phát triển, không lường trước được sự thay đổi của môi trường trong tương lai
nên luôn bị động khi môi trường biến đổi, luôn chịu sự chi phối của môi trường. Dù nhận
thấy những dấu hiệu của sự thay đổi đó nhưng vì tư duy "nước đến chân mới nhảy" nên
con người thường không chủ động trang bị sẵn, đổi mới để đương đầu với thay đổi, luôn
bị chậm hơn so với nhiều quốc gia khác biết nắm bắt cơ hội hơn
- Ví dụ như đối với việc Việt Nam gia nhập TPP. Từ tháng 10/2010 tại hội nghị
thượng đỉnh APEC, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã thông báo Việt Nam sẽ chính
thực tham gia hiệp định TPP, 13/11/2010 Việt Nam tuyên bố tham gia đàm phán với tư
cách thành viên đầy đủ trở thành thành viên chính thức thứ 9 của hiệp định. Đến
4/2/2016, Việt Nam chính thức ký kết để xác thực lời văn Hiệp định Đối tác xuyên Thái
Bình Dương (TPP). Vậy là các doanh nghiệp Việt Nam có đến 6 năm để chuẩn bị, lường
trước được sự thay đổi sau khi đàm phán các điều khoản và ký kết hiệp định, nhưng cho
đến nay số doanh nghiệp có tầm nhìn chiến lược, đã thay đổi để sẵn sàng đối mặt với cơ
hội và thách thức khi mở cửa là không nhiều. Còn các doanh nghiệp chưa kịp thay đổi sẽ
sớm bị đào thải trong nền kinh tế cạnh tranh gay găt này.
Văn hóa Mỹ mang tính năng động cao: Họ quan niệm là con người có thể kiểm soát
đối với tự nhiên, có thể làm thay đổi số phận chứ không phụ thuộc vào số phận. Họ đánh
giá thành tựu cá nhân, những người luôn vươn lên. Họ có định hướng tương lai, nghĩ
về tương lai. Họ luôn phân tích sự biến động của môi trường để chủ động đối mặt không
bị môi trường chi phối.
Con người chú ý đến các sự kiện của quá khứ, hiện tại hay những ý định tương lai trong
ở các doanh nghiệp Việt Nam thường có nhiều quy định hơn kèm theo đó là khen thưởng,
xử phạt để làm động lực cho người lao động
Các doanh nghiệp Mỹ nhìn chung khá linh động trong phong cách làm việc. Doanh
nghiệp Mỹ cho phép nhân viên làm việc tại nhà, ngay tại nơi làm việc họ cũng còn có
những phỏng nghỉ giúp nhân viên có được sự yên tĩnh và thoải mái cần thiết.
Họ luôn có quan niệm về sự bình đẳng trong công việc, chủ nghĩa cá nhân được đề cao
nên thay vì quản lý, giám sát người Mỹ luôn tin tưởng nhau trong công việc, họ lấy thành
tích để đánh giá năng lực mỗi người
Liệu con người có khao khát thành đạt trong cuộc sống, có cuộc sống vô tư hay cuộc
sống tôn giáo?
Người Việt dễ dàng hài lòng với những gì mình đang có. Chấp nhận hiện tại hơn là thay
đổi để đối mặt với khó khăn. Người Việt cần cù thông minh nhưng đôi khi chỉ vì chạy
theo bằng cấp mà quên mất kiến thức, không chủ động học hỏi vận dụng cái mới. Nhiều
người không có suy nghĩ học cho mình, vì tương lai của mình mà ngay từ khi chọn ngành
chọn nghề đã chịu sự chi phối của nhiều yếu tố, của những người xung quanh khiến cho
việc học không đem lại hứng thú và động lực, không đem lại kết quả mà chỉ tốn thời gian
và tiền bạc.
Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, tín ngưỡng. Người dân Việt Nam có truyền thống
sinh hoạt, hoạt động tín ngưỡng từ lâu đời. Các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt
Nam đều có những tín ngưỡng riêng gắn liền với đời sống kinh tế và tâm linh của mình.
Ở Việt Nam hiện có 06 tôn giáo lớn: Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo, Cao Đài,
Hoà Hảo chiếm khoảng 27% dân số.
Văn hóa Mỹ mang tính thực dụng định hướng mục tiêu và thành đạt. Tiêu chuẩn của chủ
nghĩa thực dụng là thành công, thành đạt: mục tiêu là đạt được lợi ích.
- Thời gian cho bản thân và gia đình được ưu tiên hàng đầu với người Mỹ. Họ
luôn hướng tới sự cân bằng và cho đó là việc cần thiết. Các nhu cầu của mỗi cá nhân và
sự riêng tư dược đề cao đúng mức. Văn hóa Mỹ nhấn mạnh đến tự do cá nhân.
- Hoa Kỳ là một trong số ít các quốc gia trên thế giới mà trong đó hiện diện đầy
đủ các giáo hội tôn giáo lớn nhỏ, Theo các cuộc thăm dò ý kiến năm 2014; 70,8% tổng số
dân Mỹ nhận họ theo Kitô giáo (trong đó: 46,7% theo Tin Lành; 20,8% theo Công giáo);
lên trên mối quan hệ tập thể. Tuy nhiên khi cần hợp tác, người Mỹ luôn thể hiện tốt tính
tập thể nhờ biết lắng nghe người khác giúp đạt hiệu suất cao trong công việc nhóm.
Con người thích hoạt động trong lĩnh vực công cộng hay lĩnh vực tư nhân?
Người Việt thường thích vào làm viêc tại các cơ quan nhà nước, thích làm công chức do
quan niệm được làm việc trong nhà nước đảm bảo sự ổn định lâu dài có chế độ đãi ngộ
cao, có hưu trí và quan trọng là làm trong nhà nước không bị áp lực về mặt công việc,
không đòi hỏi sự sáng tạo, nỗ lực của bản thân, khó bị đuổi việc.
Tuy nhiên trong thời buổi kinh tế hội nhập, đã có nhiều hơn những người tài giỏi, năng
động, sáng tạo lựa chọn làm việc trong các doanh nghiệp tư nhân để phát triển bản thân
cũng như đem lại nguồn thu nhập lớn hơn
Người Mỹ luôn yêu thích tự do, tôn trọng sự độc lập và tự chủ. Họ thích môi trường làm
việc năng động, sáng tạo không thích bị ràng buộc bởi các quy tắc, luật lệ nên các công ty
tư nhân luôn là sự lựa chọn tốt hơn so với doanh nghiệp nhà nước
III.
Phương pháp Hofstede
So sánh nền văn hóa Việt Nam và nền văn hóa Mỹ theo phương pháp hofstede
Các chiều văn hóa của Hofstede có thể được sử dụng nhằm phát triển một chiến
lược hiệu quả để hợp tác với những người ở nhiều nước khác nhau.
Bằng việc nghiên cứu các dữ liệu khảo sát về các giá trị nhân viên của IBM tại
hơn 50 quốc gia, Hofstede đã kết luận rằng có nhiều khác biệt lớn trong các giá trị văn
hóa này.
Ở nhiều nước, thách thức và rắc rối xung quanh các giá trị văn hóa này có vẻ
giống nhau nhưng cách giải thích và giải pháp sau đó lại khác xa nhau ở mỗi nước.
Mô hình của Hofstede giúp tương tác hiệu quả hơn với mọi người ở các nước
khác. Các loại giá trị được xác định trong nghiên cứu thể hiện bốn chiều của văn hóa.
6
•
Chỉ số khoảng cách quyền lực (Power distance index-PDI) là phạm vi mà các thành viên
ít quyền lực hơn trong tổ chức chấp nhận và kỳ vọng quyền lực được phân bố không
ngang bằng giữa các cá nhân.
Ở Mỹ, bình đẳng được coi như một mục đích chung của cả xã hội và việc một cá
nhân từ đáy tháp quyền lực leo lên đỉnh là chuyện bình thường. Một người dân có thể nói
chuyện bình thường với tổng thống, nhân viên có thể thẳng thắn nói suy nghĩ của mình
với sếp, con cái có thể tranh luận thoải mái và được nhìn nhận như người lớn có suy nghĩ
độc lập trong mắt của cha mẹ.
Việt Nam, nhân dân sẽ ngoan ngoãn phục tùng lãnh đạo, nhân viên làm theo lời
sếp, học sinh răm rắp nghe theo thầy cô, con cái không dám cãi cha mẹ - bởi họ coi đó là
bổn phận, là điều đương nhiên. Sự phân chia đẳng cấp rất rõ ràng. Việc một người ở đẳng
7
cấp thấp chuyển lên đăng cấp cao hơn là khó khăn (có thể hiểu như "con vua thì lại làm
vua, con sãi ở chùa lại quét lá đa").
•
Chủ nghĩa cá nhân (individualism- IDV) và chủ nghĩa tập thể, mô tả mối quan hệ giữa cá
nhân và tập thể phổ biến trong một quốc gia.
Chủ nghĩa cá nhân gắn liền với những xã hội trong đó sự ràng buộc giữa các cá
nhân hết sức lỏng lẻo. Mọi người đều chỉ mong chăm lo cho bản than và gia đình mình.
Chủ nghĩa tập thể gắn liền với những xã hội trong đó mọi người kết hợp trong những
nhóm lợi ích găn bó chặt chẻ.
Các nhóm lợi ích này bảo vệ không ngừng các thành viên trong nhóm suốt cuộc
đời họ để đổi lấy lòng trung thành tuyệt đối.
So với các công ty Việt Nam, các công ty của Mỹ hiện nay người ta có vẻ quan
tâm nhiều tới lợi ích bản thân hơn là sự toàn diện của nhóm.
Mỹ đề cao về Chủ nghĩa Cá Nhân có nghĩa là mỗi cá nhân và các quyền cá nhân
huống như vậy bằng phương pháp an ninh và an toàn. Thêm vào đó, các nền văn hóa này
được đặc trưng bởi việc sử dụng nhân viên lâu dài. Các nền văn hóa có UAI thấp có xu
hướng tương đối sẵn sàng chấp nhận rủi ro.
Chiều văn hóa này nói lên mức độ sẵn sàng chấp nhận những thay đổi, những
điều mới mẻ của một cộng đồng.
Một quốc gia có điểm số cao về tránh rủi ro như Việt Nam sẽ không sẵn sàng
chấp nhận những điều mới lạ, những thay đổi mà họ chưa từng trải nghiệm. Kết quả là
những xã hội như thế thường sống bằng truyền thống, bằng các luật định và suy nghĩ do
người xưa để lại. Các tư tưởng mới thường khó khăn khi xâm nhập vào quốc gia có điểm
số tránh rủi ro cao.
Một quốc gia có điểm số thấp về Tránh Rủi ro như là Mỹ sẽ không quan tâm lắm
đến rủi ro và những điều không lường trước được. Họ sẵn sàng chấp nhận thay đổi và thử
nghiệm. Trong xã hội như thế, các giá trị được coi là truyền thống sẽ thay đổi thường
xuyên, và ít gò bó bởi các luật định trước.
•
Định hướng dài hạn (long term orientation – LTO) đối lập với định hướng ngắn hạn. các
giá trị gắn kết với định hướng dài hạn là tiết kiệm và kiên trì.
Sau khi giáo sư Hofstede đưa ra bốn chiều văn hóa nêu trên, Michael
Harris Bond và các đồng nghiệp của mình ở Hồng Kông nhận thấy rằng, nếu chỉ dựa trên
4 chiều nói trên, thì khó lòng đánh giá được sự khác biệt giữa văn hóa Châu Âu và Châu
Á. Họ đã đưa ra chiều thứ năm, chiều mà ban đầu họ gọi là chiều "động lực Khổng Tử"
(Confucian dynamism). Giáo sư Hofstede sau đó đã đưa thêm chiều này vào nghiên cứu
ban đầu của mình với tên là chiều Hướng tương lai:
Định hướng tương lai mô tả cách nhìn của một xã hội là hướng tương lai, hay
sống chỉ hướng vào quá khứ và hiện tại. Trong xã hội hướng tương lai (long-term
orientation), người ta sẽ quý trọng sự bền bỉ (hay kiên nhẫn, bền chí), thích tiết kiệm, sắp
xếp các mối quan hệ theo thân phận hay đẳng cấp xã hội, có khái niệm về "xấu hổ". Nói
cách khác, các cá nhân trong xã hội hướng tương lai luôn lo lắng tương lai của mình sẽ
Nếu kết hợp hai phương pháp của Kluckhonh- Strodbeck và Hofstede chúng ta có
thể nhận biết qua 10 tiêu chí văn hóa ảnh hưởng tới các quyết định quản lý bao gồm việc
thiết lập các chương trình đào tạo nhân công, những hệ thống thưởng phạt và các cách
tiếp cận thuyên chuyển nhân sự trong công ty. Mười tiêu chí này cũng cho chúng ta thấy
cách thức trong đó con người liên hệ với người khác và thiết lập thể chế kinh doanh của
họ. Nếu xem xét sự khác nhau giữa các nền văn hóa theo một trong các tiêu chí quan
trọng là nhấn mạnh vào trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm nhóm chúng ta sẽ thấy được
các đặc điểm của nền văn hóa định hướng theo cá nhân và nền văn hóa định hướng theo
nhóm.
a.
Nền văn hóa định hướng theo cá nhân
10
Nền văn hóa trong đó mỗi các nhân có xu hướng chịu trách nhiệm cho sự sung
túc cá nhân được gọi là văn hóa định hướng theo cá nhân.
Mỹ là một trong những nước được đánh giá là nước có nền văn hóa chủ nghĩa cá
nhân cao nhất.
Thiết chế của một nền dân chủ, tự do là chất xúc tác để hình thành nên cá tính dân
tộc Mỹ và nó được biểu trưng bằng những cá nhân trong xã hội. Chủ nghĩa tự do Mỹ dựa
trên chủ nghĩa bình quân và thuyết đa nguyên cho thấy tiêu chí sinh tồn của một nước Mỹ
đa sắc tộc, đó là có lợi ích cá nhân thì mới có tiến bộ, sự bình đẳng về cơ hội cho phép ai
cũng có thể phát huy khả năng trong bối cảnh “trăm hoa đua nở”. Mỗi người Mỹ đều tự
khẳng định rằng, dù trong xã hội làm nghề gì, giàu hay nghèo, đã có những hành động
gì... thì chính tôi đã tự tạo ra bản sắc của tôi. Vì vậy, mỗi người Mỹ không chịu nhờ vả ai,
họ đi lên bằng chính đôi chân của mình bởi họ quan niệm rằng, “vận mệnh không ai trao
cho mình bằng chính mình tạo ra”. Với suy nghĩ đó, họ chấp nhận hứng trải cuộc sống
trong niềm tin, sự lạc quan về một kết cục tốt đẹp. ở Mỹ, chủ nghĩa tự do là cơ sở cho
Việt đặt nặng vấn đề sống hòa hợp và tránh làm mất mặt người khác.Trong xung đột, họ
muốn giải pháp hai bên cùng có đạt kết quả. Một đặc tính quan trọng của xã hội Việt là
không dám nói thẳng, bởi họ coi đó là việc làm mất mặt người khác.Bù lại, người Việt có
khiếu hài hước, và thường sử dụng những chuyện tếu táo để nói ra lòng mình. Văn hóa
Việt Nam thể hiện sự tránh thay đổi ở mức độ trung bình. Mọi người trong xã hội có cảm
giác bị đe dọa bởi các tình huống không rõ ràng (hay không biết trước kết quả), và cố gắn
tránh những tình huống như thế bằng cách tìm công việc ổn định, thiết lập các luật lệ chặt
chẽ và tránh những ý tưởng và hành vi mang tính đột biến.
12