VÀO PHỦ CHÚA TRỊNH (Trích Thượng kinh kí sự) Lê Hữu Trác
1. Tác phẩm Thượng kinh kí sự-Đoạn trích
a. Thời gian sáng tác và xuất xứ: Tác phẩm hoàn thành vào năm 1783, được xếp ở cuối bộ Hải Thượng y tông
tâm lĩnh.
b. Văn tự và thể loại:
- Tác phẩm được viết bằnh chữ Hán.
- Thể loại: kí sự ( ghi chép sự việc có thật).
c. Nội dung chính: Tác giả ghi chép lại tỉ mỉ những điều mắt thấy tai nghe cùng những cảm nhận của bản thân
trong một chuyến đi từ Hương Sơn ra kinh đô Thăng Long chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán và chúa Trịnh Sâm.
Tác phẩm cho thấy một cách chân thực về cuộc sống xa hoa, uy quyền nơi phủ chúa, đồng thời bộc lộ thái độ
xem thườngdanh lợi và khẳng định y đức của tác giả.
d. Đoạn trích nói lên những chứng kiến của tác giả khi được dẫn vào phủ chúa để bắt mạch kê đơn cho thế tử
Trịnh Cán, qua đó tác giả bộc lộ thái độ và tâm sự của mình.
2. Quang cảnh, cung cách sinh hoạt trong phủ chúa và giá trị hiện thực của tác phẩm:
a. Quang cảnh trong phủ chúa:
- Phải qua nhiều lần cửa và những dãy hành lang quanh co nối nhau liên tiếp.
- Mỗi cửa đều có vệ sĩ canh gác, người giữ cửa truyền báo rộn ràng, người có việc quan qua lại như mắc cửi . . .
- Ở vườn hoa, đâu đâu cũng là cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm, gió đưa thoang thoảng mùi
hương . . .
- Có điếm “Hậu mã quân túc trực” để chúa sai phái đi truyền lệnh được kiến trúc công phu: được làm bên cái hồ,
có những cây lạ lùng và những hòn đá kì lạ, cột và bao lơn lượn vòng, kiểu cách thật là xinh đẹp.
- Có nhà Đại đường, Gác tía với kiệu son, võng điều, đồ nghi trượng sơn son thiếp vàng và những đồ đạc nhân
gian chưa từng thấy.
- Đồ dùng tiếp khách ăn uống toàn là những mâm vàng, chén bạc.
- Phải qua năm, sáu lần trướng gấm mới tới phòng thế tử ở.
- Quang cảnh trong phòng: thắp nến, có sập thếp vàng dành cho thế tử ngồi, có ghế rồng sơn son thiếp vàng và
bày nệm gấm, có màn che ngang sân, xung quanh lấp lánh, hương hoa ngào ngạt.
Quang cảnh ở phủ chúa cực kì tráng lệ, lộng lẫy, không đâu sánh bằng.
b. Cung cách sinh hoạt:
- Có thánh chỉ của chúa thì tất cả mọi người phải nhất tề khẩn trương thi hành: tên đầy tớ chạy đằng trước hét
đường, và cáng chạy như ngựa lồng, người giữ cửa truyền báo rộn ràng… Chúa giữ vị trí trọng yếu và quyền uy tối
1
b. Thể hiện trực tiếp qua những lời nhận xét, bình luận của tác giả:
- Khi vừa vào đến phủ chúa, tác giả đã đưa ra lời nận xét: “Bước chân đến đây mới hay cảnh giàu sang của vua
chúa thực khác hẳn người thường!” và vịnh một bài thơ để tả hết cái sang trọng, vương giả ở nơi đây.
- Khi được mời ăn cơm sáng, tác giả nhận xét: “Mâm vàng, chén bạc, đồ ăn toàn là của ngon vật lạ, tôi bấy giờ
mới biết cái phong vị của nhà đại gia’
- Khi vào nội cung thế tử, tác giả cảm nhận; “Ở trong tối om, không thấy cửa ngõ gì cả…”
- Khi nói về bệnh trạng của thế tử, tác giả nhận xét: “Vì thế tử ở trong chốn màn che trướng phủ, ăn quá no,
mặc quá ấm nên tạng phủ yếu đi…”
Qua những chi tiết trên, ta thấy: Mặc dù khen cái đẹp, cái sang nơi phủ chúa nhưng tác giả tỏ ra dửng dưng
trước những quyến rũ vật chất nơi đây và không đồng tình với cuộc sống quá no đủ, tiện nghi nhưng thiếu khí trời và
không khí tự do.
4. Cách chữa bệnh và diễn biến tâm trạng của tác giả khi kê đơn cho thế tử:
a. Tác giả lí giải bệnh tình của thế tử:
- “Vì thế tử ở trong chốn màn che trướng phủ, ăn quá no, mặc quá ấm nên tạng phủ yếu đi” Tác giả có ý
ngầm phê phán: căn bệnh có nguồn gốc từ cuộc sống xa hoa, hưởng lạc trong phủ chúa.
- “Bệnh mắc đã lâu, tính khí khô hết, da mặt khô, rốn lồi to, gân thời xanh, chân tay gầy gò. Đó là vì nguyên
khí đã hao mòn, thương tổn quá mức” Tác giả cũng băn khoăn về hình ảnh của kẻ trị vì thiên hạ trong tương lai.
- Cuối cùng tác giả kết luận: “Bệnh thế này không bổ thì không được” Là thầy thuốc giàu kinh nghiệm, tác
giả đã tìm ra cách chữa bệnh cho thế tử.
b. Diễn biến tâm trạng của tác giả khi kê đơn cho thế tử:
Lê Hữu Trác có sự giằng co giữa hai tâm trạng:
- Ban đầu: Ông không muốn chữa bệnh cho thế tử có kết quả ngay nên chọn giiải pháp “ dùng phương thuốc
hòa hoãn, nếu không trúng thì cũng không sai bao nhiêu”.
- Nhưng sau đó: Ông dám nói thẳng và kê đơn tận tình, chính xác để chữa bệnh cho thế tử.
Lí do: Ông muốn làm đúng trách nhiệm và lương tâm của người thầy thuốc chân chính để khỏi phụ tấm lòng
của cha ông.
c. Phẩm chất của Lê Hữu Trác bộc lộ qua việc chữa bệnh cho thế tử;
Từ “cái” đi kèm với từ “hồng nhan” cho thấy nhà thơ cảm nhận về sự rẻ rung của thân phận.
Hình ảnh đối lập giữa một cá thể nhỏ bé với vũ trụ bao la: “cái hồng nhan” - trơ ra – “với nước non”
Điều này nói lên sự nhỏ nhoi, cô đơn của thân phận của nhà thơ trước cuộc đời đầy sóng gió.
2. Hai câu thực:
Tâm trạng của nhà thơ trong hoàn cảnh cô đơn.
2
Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.
Cụm từ “say lại tỉnh” cũng giàu sắc thái ý nghĩa:
+ Gợi lên cái vòng quẩn quanh, không lối thoát của tâm trạng.
+ Nhà thơ cố tìm đến chén rượu để giải khuây nhưng càng say lại càng tỉnh, nghĩa là càng thấm thía hơn nỗi
đau thân phận.
- Hình ảnh vầng trăng sắp tàn (bóng xế) mà vẫn “khuyết chưa tròn”gợi liên tưởng đến chính thân phận của nhà
thơ: tuổi xuân đã trôi qua mà tình duyên không trọn vẹn, phải đem thân đi làm lẽ, phải chịu cảnh “lấy chồng chung”.
Hai câu thơ thấm đẫm nỗi chua chát ngậm ngùi.
3. Hai câu luận:
Nỗi niềm phẫn uất và sự khao khát hạnh phúc của nhà thơ,
Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám,
Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.
Biện pháp đảo ngữ ở hai câu thơ và việc sử dụng những động từ mạnh (xiên ngang, đâm toạc) có tác
dụng diễn tả:
+ Sự phẫn uất của cây cỏ, đất đá trước thiên nhiên đất trời.
+ Sức sống của vạn vật: muốn vươn lên, muốn vượt ra ngoài để tìm sự sống.
Hình ảnh sự vật thiên nhiên ấy như mang nỗi niềm của con người: phẫn uất trước cuộc đời, đồng thời
cũng bộc lộ niềm khát khao hạnh phúc đến cháy bỏng.
4. Hai câu kết:
Tâm trạng chán chường, buồn tủi của nhà thơ khi đối diện với thực tại.
+ Đường nét, chuyển động: sóng “hơi gợn tí”, lá vàng “khẽ đưa vèo”, tầng mây “lơ lửng”…thể hiện đặc trưng
của gió thu: gió heo may thổi nhẹ.
+ Hòa sắc, tạo hình: màu xanh bao trùm có điểm xuyến màu vàng của những chiếc lá thu rơi; sự hòa hợp của
hình ảnh sự vật: ao thu nhỏ thuyền bé tẻo teo dáng người thu nhỏ lại.
Cảnh thu mang những nét đặc trưng của làng quê Bắc Bộ.
Đặc điểm về không gian mùa thu trong bài thơ: tĩnh lặng, vắng người, vắng tiếng.
+ Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.
+ Các chuyển động đều rất nhẹ, rất khẽ: sóng “hơi gợn tí”, mây chỉ “lơ lửng”, lá “khẽ đưa”.
+ Tiếng cá đớp mồi càng làm tăng sự yên ắng, tĩnh mịch của cảnh vật.
3
3.
Tình cảm và tâm trạng của nhà thơ qua bức tranh thu:
Đằng sau bức tranh thu được cảm nhận tinh tế bằng những nét vẽ đặc trưng nhất, ta hiểu được tình cảm nhà thơ:
tình yêu thiên nhiên đất nước, sự gắn bó thiết tha với những gì bình dị ở quê hương.
THƯƠNG VỢ
Trần Tế Xương
1. Cảm nhận của nhà thơ về hình ảnh bà Tú:
a. Nhà thơ thấu hiểu nỗi vất vả, gian truân của vợ:
Quanh năm buôn bán ở mom sông
Từ “quanh năm” (chỉ thời gian), “mom sông” (chỉ không gian) cho thấy hoàn cảnh công việc
vất vả, lam lũ của bà Tú: buôn bán quanh năm suốt tháng mà chỉ ở một không gian chật hẹp, chênh
vênh, nguy hiếm.
Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
Nhà thơ mượn hình ảnh con cò trong ca dao để nói về người vợ của mình.
Đi xa hơn, nhà thơ còn chửi cả “thói đời” bạc bẽo: đó là cái xã hội đương thời đã làm cho
tầng lớp nho sĩ như ông trở thành những người vô tích sự. Đây chính là lời lên án đối với xã hội thực
dân nửa phong kiến.
* Luyện tập: Sự sáng tạo của tác giả trong việc vận dụng hình ảnh:
+ Hình ảnh con cò trong ca dao nhiều khi nói về thân phận người phụ nữ lam lũ, vất vả,
chịu thương, chịu khó.
4
+ Hình ảnh con cò trong bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương nói về bà Tú có phần xót
xa, tội nghiệp hơn hình ảnh con cò trong ca dao.
+ Sự sáng tạo của tác giả trong việc vận dụng từ ngữ: thành ngữ “năm nắng mười mưa”.
BÀI CA NGẤT NGƯỞNG
Nguyễn Công Trứ
1. Thời điểm sáng tác - Thể thơ
- Sáng tác lúc Nguyễn Công Trứ đã cáo quan về hưu ở quê nhà (từ sau năm 1848).
- Thể hát nói.
2. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ:
- Cảm hứng chủ đạo của bài thơ tập trung ở từ “ngất ngưởng” (xuất hiện bốn lần). “Ngất
ngưởng” ở đây thể hiện một phong cách sống, một thái độ sống khác đời của một con người có cá
tính, có bản lĩnh cá nhân, vượt lên trên thế tục trong lúc làm quan và cả khi nghỉ hưu, trở về cuộc
sống đời thường.
3. Thái độ và phong cách sống của nhà thơ qua những lời tự thuật:
a. Lời tự thuật của nhà thơ về quãng đời từ lúc ra làm quan:
- Xem việc làm quan là gò bó, mất tự do (vào lồng) nhưng vẫn chọn con đường làm quan. Lí
do:
+ Nhà thơ xem việc làm quan là điều kiện, là phương tiện để thể hiện hoài bão và tài
năng của mình.
+ Xem việc làm quan là để thực hiện trách nhiệm của kẻ sĩ đối với đời: “Vũ trụ nội mạc
(SA HÀNH ĐOẢN CA)
Cao Bá Quát
1. Hoàn cảnh ra đời -Thể thơ
- Sau khi thi đỗ cử nhân năm 1831, Cao Bá Quát nhiều lần từ Hà Nội vào kinh đô Huế để thi
Hội. Nhìn hình ảnh những bãi cát dài ở các tỉnh miền Trung, nhà thơ liên tưởng và suy ngẫm đến
việc đời.
- Bài thơ được viết theo thể hành (ca hành).
2. Ý nghĩa tả thực và ý nghĩa trượng trưng của hình ảnh người đi trên bãi cát:
a. Ý nghĩa tả thực:
- Hình ảnh “bãi cát” là hình ảnh thực mà tác giả từng chứng kiến trên hành trình từ Hà Nội
vào Huế.
- Hình ảnh người đi trên bãi cát: đi trong hoàn cảnh khó khăn:
+ Đi một bước như lùi một bước.
+ Không gian: đường xa, không gian lại bị bao vây bởi núi, sông, biển.
+ Thời gian: Mặt trời lặn mà vẫn tất tả đi.
b. Ý nghĩa tượng trưng:
- Hình ảnh người đi trên bãi cát tượng trưng cho con người đi trên con đường danh lợi:
+ Con đường danh lợi đầy nhọc nhằn, khó khăn.
+ Con đường danh lợi đã lôi kéo con người, nhiều lúc làm cho con người mê muội.
- Con đường trên bãi cát còn tượng trưng cho đường đời bế tắc của tác giả nói riêng và của
tầng lớp trí thức đương thời nói chung.
3. Tác giả cảm nhận về con đường danh lợi của người đời xưa nay:
Không học được tiên ông phép ngủ
Trèo non, lội suối, giận khôn vơi!
- Thể hiện nổi chán chường vì tự mình phải hành hạ thân xác để theo đuổi công danh.
Xưa nay, phường danh lợi,
Tất tả trên đường đời,
Đầu gió hơi men thơm quán rượu,
Người say vô số, tỉnh bao người?
- Tác giả muốn nói lên sự cám dỗ của cái bả công danh đối với người đời xưa nay:
- Nhân vật trong tác phẩm được khắc hoạ chủ yếu qua hành động, cử chỉ và ngôn ngữ. Những
nhân vật tiêu biểu: Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga, ông Quán, ông Ngư, ông Tiều, Vương Tử Trực,
Hớn Minh, Tiểu Đồng, Trịnh Hâm, Bùi Kiệm, Võ Công, Võ Thể Loan…
2. Lẽ ghét thương của ông Quán và quan niệm, tình cảm của tác giả:
a. Lẽ ghét của ông Quán:
- Những đối tượng mà ông Quán ghét:
+ Vua Kiệt, Trụ hoang dâm vô độ.
+ Đời vua U, Lệ thì đa đoan, lắm chuyện rắc rối.
+ Đời Ngũ Bá, thúc quý thì lộn xộn, chia lìa, đổ nát, chiến tranh liên miên.
Điểm chung giữa các đời vua: chính sự suy tàn, vua chúa thì say đắm tửu sắc, không chăm lo
đến đời sống của dân.
- Lí do mà ông Quán ghét: Các triều đại đó đã làm cho dân phải gánh chịu mọi tai ách, khổ sở
trăm chiều.
Ông Quán (cũng chính là tác giả) đã xuất phát từ quyền lợi của nhân dân mà phẩm bình lịch
sử.
b. Lẽ thương của ông Quán:
- Những đối tượng mà ông Quán thương: đức thánh nhân Khổng Tử, Nhan Tử, Khổng Minh
Gia Cát Lượng, Đổng Tử, Nguyên Lượng, Liêm, Lạc…
Điểm chung: Họ là những người có tài đức và nhất là có chí muốn hành đạo giúp đời, giúp
dân nhưng không đạt sở nguyện.
- Lí do mà ông Quán thương: Những con người hiền tài ấy biết vì dân mà không gặp thời vận.
c. Kết luận về cơ sở của lẽ ghét thương của Nguyễn Đình Chiểu:
Qua nhân vật ông Quán, ta có thể rút ra cơ sở của lẽ ghét thương của Nguyễn Đình Chiểu:
Xuất phát từ tình cảm yêu thương nhân dân, mong muốn nhân dân được sống bình yên và hạnh
phúc, mong những người có tài đức có điều kiện thực hiện chí nguyện.
3. Mối quan hệ giữa hai tình cảm “ghét – thương” trong tâm hồn tác giả:
Vì chưng hay ghét cũng là hay thương.
Nửa phần lại ghét, nửa phần lại thương.
Càng xót thương nhân dân phải chịu cảnh lầm than, thương những người tài đức bị vùi dập,
tác giả càng căm ghét những kẻ làm hại dân, đẩy con người vào những cảnh éo le, oan nghiệt.
Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.
b. Những tác phẩm chính:
- Giai đoạn trước khi thực dân Pháp xâm lược: có hai truyện thơ dài:
+ Truyện Lục Vân Tiên (gồm 2082 câu thơ lục bát).
+ Dương Từ - Hà Mậu (gồm 3456 câu thơ lục bát, có phụ 35 bài thơ Đường luật xướng
hoạ).
- Giai đoạn sau khi thực dân Pháp xâm lược:
+ Chạy giặc.
+ Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc.
+ Thơ điếu Trương Định.
+ Thơ điếu Phan Tòng.
+ Văn tế nghĩa sĩ trận vong lục tỉnh.
+ Truyện thơ Ngư Tiều y thuật vấn đáp (gồm 3642 câu thơ lục bát và 21 bài thơ do các
nhân vật xướng hoạ).
c. Nội dung thơ văn:
- Lí tưởng đạo đức, nhân nghĩa: Lí tưởng đạo đức, nhân nghĩa trong thơ văn Nguyễn Đình
Chiểu mang tinh thần nho giáo nhưng lại rất đậm đà tính nhân dân và truyền thống dân tộc.
- Lòng yêu nước, thương dân:
+ Ghi lại chân thực thảm họa của đất nước trước nạn ngoại xâm.
+ Tố cáo tội ác của thực dân Pháp và nguyền rủa bọn tay sai bán nước.
+ Biểu dương, ca ngợi những bậc anh hùng cứu nước lúc bấy giờ: lãnh tụ kháng chiến,
người nông dân đánh giặc, người trí thức giàu nhân cách và trước sau giữ trọn khí tiết…
3. Nghệ thuật thơ văn:
- Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu phần lớn mang tính chất trữ tình – đạo đức.
- Vẻ đẹp thơ văn Nguyễn Đình Chiểu không phát lộ rực rỡ ở bề ngoài mà tiềm ẩn trong
tầng sâu cảm xúc, suy ngẫm.
8
- Tác giả khẳng định: người nghĩa sĩ đã hi sinh vì đại nghĩa và cái chết của họ đã trở thành bất
tử.
3. Bức tượng đài nghệ thuật về hình ảnh người nông dân – nghĩa sĩ:
a. Hoàn cảnh xuất thân (câu 3,4,5):
- Họ vốn là những người nông dân từng âm thầm chịu đựng cuộc sống nghèo khổ: cui cút làm
ăn, toan lo nghèo khó.
- Họ chỉ biết công việc đồng án trong một không gian nhỏ hẹp, hoàn toàn xa lạ với công việc
binh đao.
Hoàn cảnh xuất thân này càng tôn cao tầm vóc anh hùng của họ.
b. Quá trình chuyển biến từ những người nônng dân thành những người nghĩa sĩ (câu
6,7,8,9)
- Khi giặc đến xâm lược, họ trông chờ vào triều đình nhưng vô vọng.
- Nhìn thấy sự xấu xa của giặc, họ nung nấu căm thù: muốn tới ăn gan, muốn ra cắn cổ, đâu
dung lũ treo dê bán chó…
- Ý thức được trách nhiệm đối với sự nghiệp cứu nước: một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém
rắn đưổi hươu…
- Cuối cùng, họ đã tự nguyện ra đi đánh giặc và trở thành nghĩa binh: nào đợi ai đòi ai bắt, ra
sức đoạn kình, ra tay bộ hổ…
c. Vẻ đẹp hào hùng của người nghĩa sĩ trong “trận nghĩa đánh Tây” (câu 10 – câu 15):
- Họ bước vào cuộc chiến đấu trong hoàn cảnh khó khăn thiếu thốn:
+ Không được tập binh thư, binh pháp.
9
+ Trang bị vũ khí chỉ là những vật dụng thường nhật trong gia đình và trong sản xuất: manh áo
vải, rơm con cúi, dao phay, ngọn tầm vông…
Ở đây, hình ảnh người nghĩa sĩ hiện lên với một vẻ đẹp giản dị mà toát lên khí chất anh hùng
bởi tấm lòng mến nghĩa và coi thường khó khăn gian khổ.
- Đặc biệt, họ đã chiến đấu trong một trận công đồn với khí thế vũ bão và nhất thời:
+ Hàng loạt động từ mạnh: đốt, chém, đạp, lướt, xô, xông, đâm…diễn tả khí thế tấn công dồn
- Ngôn ngữ giản dị nhưng được chọn lọc tinh tế, có sức biểu cảm lớn và giá trị thẩm mĩ
cao.
- Nhiều biện pháp tu từ được tác giả sử dụng khá thành công.
c. Giọng điệu thay đổi theo dòng cảm xúc: lúc hào hứng như reo vui cùng chiến thắng của
nghĩa quân; lúc trầm lắng, thống thiết như nức nở, xót xa; có lúc như tiếng kêu thương ai
oán; có lúc trang nghiêm như một lời khấn nguyện thiêng liêng.
* Luyện tập
Bài tập 2 sgk
Gợi ý: Đoạn văn trình bày cần đảm bảo hai nội dung chính sau:
- Giải thích nhận định của giáo sư Trần Văn Giàu (Lưu ý: bối cảnh lịch sử cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp những năm cuối thế kỉ XIX; mối tương quan giữa sự sống – cái chết của cá
nhân với lẽ nhục – vinh; quan niệm về lẽ nhục - vinh ở thời đại đó).
- Học sinh tìm và phân tích những câu mà bản thân mình cho là hay và thể hiện đầy đủ, sâu
sắc quan niệm sống đó.
10
CHIẾU CẦU HIỀN
(Cầu hiền chiếu)
Ngô Thì Nhậm
1.
Hoàn cảnh ra đời - Thể loại - Đối tượng hướng tới của bài chiếu
- Năm 1789, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế đem quân ra Bắc quét sạch hai mươi vạn quân
Thanh cùng bọn tay sai. Lê Chiêu Thống bỏ chạy, triều Lê hoàn toàn sụp đổ, triều đại Tây Sơn lên
thay. Lúc bấy gờ, một số bề tôi của nhà Lê còn mang nặng tư tưởng trung quân lỗi thời, đã bất hợp
tác với triều đại mới. Trước tình hình đó, Quang Trung giao cho Ngô Thì Nhậm thay mình viết
Chiếu cầu hiền nhằm thuyết phục sĩ phu Bắc Hà ra cộng tác với triều Tây Sơn.
- Thể chiếu – một loại công văn thời xưa mà nhà vua dùng để ban bố mệnh lệnh cho bề tôi
hoặc chỉ thị cho mọi người.
- Nho sĩ Bắc Hà – những tri thức có học vấn uyên bác.
I.
Nội dung
1. Những biểu hiện của nội dung yêu nước trong văn học Việt Nam từ thế kỉ XVIII đến
hết thế kỉ XIX:
a.Mang những nội dung yêu nước đã có trong hai giai đoạn văn học trước đó: ý thức độc lập,
tự chủ, tự cường, tự hào dân tộc; lòng căm thù giặc; tinh thần quyết chiến thắng kẻ thù; tự hào trước
những chiến công của thời đại; tự hào trước truyền thống lịch sử; tình yêu thiên nhiên đất nước…
b.
Xuất hiện thêm những nội dung mới:
- Ý thức thu phục hiền tài để chăm lo xây dựng đất nước (Chiếu cầu hiền – Ngô Thì Nhậm).
11
Thiết tha và tâm huyết đối với tư tưởng canh tân đất nước (Xin lập khoa luật – Nguyễn
Trường Tộ).
c.Những biểu hiện của nội dung yêu nước qua các tác phẩm, đoạn trích (đã học lớp 11)
- Chạy giặc (Nguyễn Đình Chiểu): bày tỏ cảm xúc và tâm trạng trước tình cảnh đất nước và
nhân dân khi giặc Pháp xâm lược; xót xa và thương cảm đối với nhân dân trong hoàn cảnh giặc giã,
loạn li...
- Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Nguyễn đình Chiểu): Ca ngợi những người nông dân – nghĩa sĩ
hết lòng vì nước; đau đớn tiếc thương trước sự hi sinh cao cả của những con người vì đại nghĩa; trút
căm hờn vào kẻ thù xâm lược và kêu gọi tinh thần đấu tranh đánh giặc đến cùng.
- Xin lập khoa luật (Nguyễn Trường Tộ): Biết lo cho sơn hà xã tắc bằng tâm huyết điều trần,
thể hiện tư tưởng canh tân đất nước.
- Bài ca phong cảnh Hương Sơn (Chu Mạnh Trinh): Yêu quý và tự hào về cảnh thiên nhiên đất
nước, mong muốn đất nước được chủ quyền để mọi người ra sức xây dựng…
- Câu cá mùa thu (Nguyễn Khuyến): Cảm nhận tinh tế cảnh đẹp thiên nhiên của đất nước, thể
hiện tâm sự kín đáo về thời thế, về đất nước.
- Vịnh khoa thi Hương (Trần Tế Xương): thể hiện nỗi đau của kẻ sĩ trước nỗi nhục mất nước.
2. Chủ nghĩa nhân đạo trong văn học Việt Nam giai đoạn từ thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ
- Trước Nguyễn Đình Chiểu, văn học dân tộc chưa có một hình tượng hoàn chỉnh về người
anh hùng nông dân – nghĩa sĩ.
- Đến Nguyễn Đình Chiểu, lần đầu tiên trong văn học Việt Nam, người nông dân chống
ngoại xâm mới có thể chiếm lĩnh trọn vẹn trong một tác phẩm với vóc dáng đích thực
của mình và được ngợi ca như những anh hùng của thời đại.
-
12
Hình tượng người anh hùng nông dân – nghĩa sĩ mang vẻ đẹp bi tráng bởi hình tượng này
có sự kết hợp giữa yếu tố “bi” và yếu tố “tráng”.
II.
Nghệ thuật
1. Đặc điểm về tư duy nghệ thuật của văn học trung đại Việt Nam: thường nghĩ theo kiểu mẫu
nghệ thuật có sẵn đã thành công thức (tính qui phạm) và cũng dần từng bước phá vỡ tính qui phạm.
2. Quan niệm thẩm mĩ của văn học trung đại Việt Nam: hướng về cái đẹp trong quá khứ, thiên
về cái cao cả, tao nhã, ưa sử dụng những điển tích, điển cố, những thi liệu Hán học.
3. Bút pháp miêu tả của văn học trung đại thiên về bút pháp ước lệ, tượng trưng.
4. Thể loại:
a. Những trường hợp tên thể loại gắn với tên tác phẩm: Thiên đô chiếu, cầu hiền chiếu,
Hịch tướng sĩ, Bình Ngô đại cáo, Bạch Đằng giang phú, Sa hành đoản ca, Văn tế nghĩa sĩ
cần Giuộc…
b. Đặc điểm về hình thức nghệ thuật của thơ Đường luật: thể thất ngôn bát cú:
- Số câu, số chữ: mỗi bài tám câu, mỗi câu tám chữ.
- Về gieo vần: dùng một vần (độc vận) và thường là vần bằng, gieo ở cuối câu 1, 2, 4, 6, 8
(cước vận).
- Về đối: câu 3 đối với câu 4, câu 5 đối với câu 6.
- Bố cục: đề, thực, luận, kết.
-
- Các cuộc vận động văn hóa mới đã dấy lên chống lại lễ giáo phong kiến, đòi giải phóng cá
nhân.
13
1.2 Khái niệm “hiện đại hóa”:
Hiện đại hóa là quá trình làm cho văn học thoát khỏi hệ thống thi pháp văn học trung đại và
đổi mới theo hình thức của văn học phương Tây, có thể hội nhập với nền văn học hiện đại trên thế
giới.
1.3 Quá trình hiện đại hoá: Diễn ra qua ba giai đoạn:
a. Giai đoạn thứ nhất (từ đầu thế kỉ XX đến khoảng năm 1920)
- Chữ Quốc ngữ được phổ biến ngày càng rộng rãi.
- Báo chí và phong trào dịch thuật đã tác động tới việc hình thành và phát triển nền văn xuôi
quốc ngữ. Nhiều tác phẩm văn xuôi bằng chữ quốc ngữ ra đời.
- Thơ văn của một số chí sĩ cách mạng có những đổi mới nhất định về nội dung tư tưởng.
b. Giai đoạn thứ hai (khoảng từ năm 1920 đến năm 1930)
- Xuất hiện những tác phẩm văn xuôi và thơ ca bước đầu có những cách tân: tiểu thuyết của
Hồ Biểu Chánh, truyện ngắn của Phạm Duy Tốn, thơ của Tản Đà, Trần Tuấn Khải…
- Xuất hiện thể loại mới: kịch của Vũ Đình Long, Vi Huyền Đắc, Nam Xương…
- Xuất hiện một số truyện kí của Nguyễn Ái Quốc viết bằng tiếng Pháp có tính chiến đấu cao
và bút pháp hiện đại, điêu luyện.
c. Giai đoạn thứ ba (khoảng từ năm 1930 đến năm 1945)
- Truyện ngắn và tiểu thuyết được viết theo lối mới do học tập được lối viết truyện của phương
Tây.
- Thơ ca: sự ra đời của phong trào Thơ mới (1932 – 1945) được xem là “một cuộc cách mạng
trong thơ ca”.
- Những thể loại mới xuất hiện nhiều: kịch nói, phóng sự, phê bình văn học…
2. Văn học hình thành hai bộ phận và phân hóa thành nhiều xu hướng, vừa đấu tranh với
nhau, vừa bổ sung cho nhau để cùng phát triển
2.1 Bộ phận văn học công khai (văn học hợp pháp)
sĩ và các chiến sĩ cách mạng sáng tác ở trong tù.
- Đặc trưng về quan điểm sáng tác của văn học cách mạng: xem thơ văn là một vũ khí chống
giặc, là phương tiện để truyền bá tư tưởng yêu nước và cách mạng.
3. Văn học phát triển với một tốc độ hết sức nhanh chóng
a. Những biểu hiện cho thấy tốc độ phát triển của văn học:
- Số lượng tác giả và tác phẩm ngày càng tăng.
- Sự hình thành, đổi mới nhiều thể loại văn học và bất kì thể loại nào cũng phát triển ngày
càng mạnh mẽ.
- Sự gia tăng nhịp độ cách tân, trưởng thành và nhịp độ kết tinh ở những cây bút có tài năng.
b. Nguyên nhân làm cho văn học phát triển với tốc độ nhanh chóng:
- Do sự thúc bách của yêu cầu thời đại.
- Sự vận động tự thân của nền văn học dân tộc (nguyên nhân chính).
- Sự thức tỉnh mạnh mẽ, trỗi dậy của “cái tôi” cá nhân ở những người cầm bút.
- Những cuộc cách tân văn học đã cởi trói và mở đường cho những tài năng.
II.
Những thành tựu chủ yếu của văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến cách mạng
tháng tám năm 1945
1. Những thành tựu về nội dung tư tưởng:
a. Chủ nghĩa yêu nước: yêu nước không còn gắn với hai chữ “trung quân”, mà gắn liền với
dân, với lí tưởng xã hội chủ nghĩa và tinh thần quốc tế vô sản.
b. Chủ nghĩa nhân đạo:
- Văn học hướng thẳng đến những con người bình thường trong xã hội, nhất là tầng lớp nhân
dân cực khổ, lầm than.
- Chủ nghĩa nhân đạo gắn liền với sự thức tỉnh ý thức cá nhân.
2. Những thành tựu về mặt nghệ thuật:
a. Thể loại:
- Xuất hiện nhiều thể loại mới góp phần làm phong phú hệ thống thể loại của nền văn học dân
tộc: kịch nói, phóng sự, lí luận phê bình văn học.
- Các thể loại ở lĩnh vực văn xuôi từng bước và tiến đến đổi mới sâu sắc phương thức sáng tác
và cách thức thể hiện.
+ Tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông… các ngõ vào làng lại càng sẫm đen hơn
nữa.
+ Trống cầm canh…rồi chìm ngay vào bóng tối.
+ Tiếng vang động của xe hoả… và mất dần trong bóng tối.
+ Cũng yên tĩnh như đêm ở phố, tịch mịch và đầy bóng tối.
Dụng ý của tác giả khi miêu tả hình ảnh bóng tối:
- Hình ảnh bóng tối như một cái nền không gian nghệ thuật của tác phẩm.
- Hình ảnh bóng tối có ý nghĩa chỉ không gian xã hội tối tăm, như một ám ảnh đè nặng lên
con người và cảnh vật.
b. Hình ảnh ánh sáng:
- Ánh sáng được miêu tả rất hiếm hoi và đơn độc:
+ Ánh đèn của bác Siêu: một chấm lửa nhỏ…
+ Ánh đèn trong cửa hàng của Liên: thưa thớt từng hột sáng…
+ Đèn của các cửa hàng còn thức: chỉ để hé một khe sáng…
Ánh sáng ở đây chỉ là thứ ánh sáng le lói, nó không đủ sức xua tan bóng tối, mà trái lại nó
càng làm cho bóng tối thêm mịt mùng hơn.
- Đặc biệt, ánh sáng leo lét của ngọn đèn con nơi hàng nước của chị Tí: trở đi trở lại 7 lần
trong tác phẩm gợi lên hình ảnh những kiếp người nghèo khổ sống leo lét trong màn
đêm của xã hội thực dân nửa phong kiến.
2. Cuộc sống của những kiếp người nhỏ bé nơi phố huyện nghèo và khát vọng của họ:
a. Hình ảnh những kiếp người tàn tạ trong khoảnh khắc của ngày tàn,chợ tàn:
- Một vài người bán hàng do bận rộn lo toan nên phải về muộn.
- Những đứa trẻ con nhà nghèo ven chợ lom khom nhặt nhạnh những gì còn sót lại của
một cái chợ nghèo.
Dấu hiệu của sự nghèo nàn ở nơi phố huyện bắt đầu xuất hiện.
b. Hình ảnh những kiếp người lặng lẽ kiếm sống trong đêm:
- Mẹ con chị Tí:
+ Cuộc sống nhàm chán cứ lặp đi lặp lại: ban ngày mò cua bắt tép, tối đến lại dọn hàng
bán nước bên ngọn đèn dầu leo lét.
+ Chẳng kiếm được bao nhiêu nhưng tối nào cũng dọn hàng đợi khách.
trẻ.
b. Khi màn đêm buông xuống:
- Có cái nhìn đầy xót xa thương cảm đối với những người dân nghèo phố huyện (ẩn chứa
qua lời hỏi thăm chị Tí, qua việc rót rượu đầy cho cụ Thi, qua việc ngồi trên chõng dõi
theo cuộc sống sinh hoạt của những người nghèo trong đêm…).
- Cảm thấy buồn chán trước cuộc sồng quẩn quanh, đơn điệu của những con người nhỏ
nhoi, lầm lũi kiếm ăn trong đêm dày.
4. Hình ảnh đoàn tàu và tâm trạng đợi tàu của hai chị em:
a. Hình ảnh đoàn tàu:
- Hình ảnh đoàn tàu đi ngang qua phố huyện trong đêm trở thành niềm khao khát và khắc
khoải chờ đợi của hai đứa trẻ:
+ Liên buồn ngủ ríu cả mắt nhưng vẫn thức đợi.
+ An không quên dặn chị phải đánh thức mình dậy khi tàu đến.
- Bởi thế, hình ảnh đoàn tàu được tác giả tập trung bút lực miêu tả một cách tỉ mỉ theo trình tự
thời gian:
+ Đầu tiên, đoàn tàu được báo trước với anh đèn của người gác ghi và tiếng còi từ xa vọng lại.
+ Đoàn tàu đang đi tới với tiếng dồn dập, tiếng xe rít mạnh vào ghi kèm theo một làn khói
trắng, rồi tiếng hành khách ồn ào.
+ Cuối cùng, đoàn tàu xa dần và mất hút trong đêm tối mênh mông.
Hình ành đoàn tàu là biểu tượng của sự sống mạnh mẽ, sự giàu sang đối lập với cuộc sống
mòn mỏi, tối tăm, quẩn quanh của người dân phố huyện.
b. Lí do hai chị em Liên và An cố thức để đợi tàu:
- Muốn sống dù chỉ trong khoảnh khắc một thế giới tưng bừng hơn, sáng sủa hơn cái thế giới
nghèo, tăm tối nơi phố huyện Thể hiện niềm khao khát muốn thoát khỏi cuộc sống buồn chán hiện
tại.
- Muốn được sống trong hoài niệm về một quá khứ êm đềm đã mất.
5. Những đặc sắc về nghệ thuật của truyện:
a.
Tác phẩm thuộc loại truyện ngắn trữ tình:
- Truyện ngắn như một bài thơ trữ tình đượm buồn, ít sự kiện, hành động nhưng đầy ắp suy tư.
Tập truyện Vang bóng một thời và truyện ngắn Chữ người tử tù
- Tập truyện gồm 11 truyện ngắn viết về “một thời” đã xa, nay chỉ còn “vang bóng”: thời
nhà Nguyễn suy tàn, thực dân Pháp xâm lược nước ta, những nho sĩ cuối mùa trở thành lớp người
lạc lõng. Trong hoàn cảnh Tây Tàu nhố nhăng, những con người tài hoa bất đắc chí ấy muốn giữ lại
những vẻ đẹp xưa: thưởng hoa uống rượu, nhấm nháp chén trà buổi sớm với tất cả những nghi lễ
thiêng liêng; cố giữ “thiên lương” và sự trong sạch của tâm hồn.
- Truyện ngắn lúc đầu có tên là “Dòng chữ cuối cùng” in năm 1938 trên tạp chí Tao Đàn. Về
sau, khi được tuyển in trong tập truyện Vang bóng một thời, tác giả đổi thành Chữ người tử tù. Tác
giả xây dựng nhân vật chính của tác phẩm (Huấn Cao) dựa vào nguyên mẫu là Cao Bá Quát ở thế kỉ
XIX: một nhà nho có tài thơ văn, viết chữ đẹp nổi tiếng một thời và cũng là người từng tham gia
lãnh đạo nông dân khởi nghĩa chống lại triều đình nhà Nguyễn.
2.
Tình huống truyện độc đáo
Tác giả đặt hai nhân vật: Huấn Cao – viên quản ngục, trong mối quan hệ đặc biệt éo le, đầy
trớ trêu:
- Hai con người đối lập nhau về địa vị xã hội lại có điểm gặp gỡ chung:
+ Đối lập về địa vị xã hội: Huấn Cao bị xem là tên “đại nghịch” của triều đình, còn quản
ngục là đại diện cho trật tự xã hội đương thời.
+ Điểm gặp gỡ: Huấn Cao là người sáng tạo ra cái đẹp, quản ngục là người biết trân
trọng và thưởng thức cái đẹp.
- Nơi mà hai tâm hồn tri kỉ gặp nhau lại là chốn ngục tù tối tăm, dơ bẩn.
- Tác giả đã đặt hai nhân vật trong một tình thế đối nghịch: người cho chữ là một tử tù, còn
người xin chữ lại là một quản ngục.
Chính tình huống độc đáo này đã làm nổi bật vẻ đẹp hình tượng nhân vật Huấn Cao, làm
sáng tỏ tấm lòng “biệt nhỡn liên tài” của quản ngục, đồng thời góp phần thể hiện sâu sắc chủ đề tác
phẩm.
3.
Vẻ đẹp của hình tượng nhân vật Huấn Cao
a. Huấn Cao là một nghệ sĩ tài hoa:
- Có tài về nghệ thuật thư pháp:
đi đôi với cái tâm, đặc biệt là cái đẹp và cái thiện không thể tách rời nhau.
4.
Nhân vật quản ngục:
- Tuy không phải là người làm nghệ thuật nhưng có tâm hồn cao quí và rất nghệ sĩ: say mê và
quí trọng cái tài, cái đẹp.
- Trước thái độ khinh bạc cố ý của Huấn Cao, ông vẫn chân thành, cung kính và tìm cách biệt
đãi.
- Trước những lời khuyên đầy tâm huyết của Huấn Cao, ông vô cùng tôn kính và cảm phục,
thể hiện qua hành động chắp tay vái người tù một vái và nghẹn ngào nói: “Kẻ mê muội này xin bái
lĩnh”.
Viên quản ngục sống và làm việc ở nơi u tối nhưng vẫn có được những vẻ đẹp đáng quí, vẫn
giữ được “thiên lương”, Tác giả coi đó là “cái thuần khiết giữa một đống căn bã”, “một thanh âm
trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ”.
5.
Cảnh Huấn Cao cho chữ viên quản ngục trong nhà lao
Đây là “một cảnh tượng xưa nay chưa từng có”:
- Không gian khác thường: việc cho chữ vốn là một việc thanh cao, một sáng tạo nghệ thuật
nhưng lại diễn ra trong phòng giam tử tù: “Một buồng tối chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện,
đất bừa bãi phân chuột, phân gián…”.
- Thời gian khác thường: không diễn ra giữa thanh thiên bạch nhật mà lại diễn ra giữa đêm
khuya “bí mật”, lúc trại giam “chỉ còn văng vẳng tiếng mõ trên vọng canh”.
- Người xin chữ và người cho chữ cũng khác thường:
+ Người xin chữ: viên quan coi ngục – đại diện cho quyền lực thống trị.
+ Người cho chữ: là người tử tù đang trong cảnh “cổ đeo gông, chân vướng xiềng”.
- Trật tự kỉ cương khác thường: Tù nhân trở thành người làm chủ tình thế ban phát cái đẹp, răn
dạy ngục quan; còn quản ngục thì khúm núm vái lạy tù nhân.
Cảnh tượng cho chữ được xây dựng bằng thủ pháp nghệ thuật tương phản, ngôn ngữ trang
trọng cổ kính và giàu giá trị tạo hình.
Qua cảnh tượng này, chủ đề của tác phẩm được thể hiện sâu sắc: đó là sự chiến thắng của ánh
sáng đối với bóng tối, của cái đẹp đối với cái xấu xa, của cái thiện đối với cái ác…
- Nhan đề của truyện nghe rất lạ, rất giật gân, gây sự chú ý cho người đọc. Nhan đề này gợi ra
một nghịch lí:
+ Theo lẽ thường: tang gia đồng nghĩa với sự mất mát, đau buồn – như người đời thường nói
“tang gia bối rối’.
+ Nhưng ở đây, các nhân vật của tang gia lại sống trong niềm hạnh phúc. Đó là hạnh phúc của
một gia đình vô phúc, niềm vui của một lũ con cháu đại bất hiếu.
Tác giả khai thác những nghịch lí, những mâu thuẫn để tạo nên tình huống trào phúng độc
đáo.
3. Niềm “hạnh phúc” của những người thân trong gia đình trước cái chết của cụ cố tổ:
a. Niềm hạnh phúc chung của đám con cháu:
Vui sướng vì tờ di chúc của cụ cố tổ đã tới lúc được thực hiện, “chứ không còn là lí
thuyết viển vông nữa”. Nghĩa là mọi người sẽ được chia tài sản.
b. Ngoài niềm vui chung, mỗi thành viên trong gia đình còn có những niềm vui riêng rất đa
dạng:
- Cụ cố Hồng (con trai cụ cố tổ):
+ Được dịp đóng vai già yếu để mọi người gọi là cụ cố.
+ Sung sướng mơ màng nghĩ đến cảnh được mặc đồ xô gai, lụ khụ chống gậy, vừa ho
khạc vừa khóc mếu để cho thiên hạ trầm trồ, bình phẩm, ngợi khen: “Úi kìa, con giai nhớn đã già
đến thế kia kìa!”.
- Ông Văn Minh (cháu nội cụ cố tổ): Được dịp lăng-xê các mốt tang phục táo bạo nhất để
thăm dò dư luận.
20
Bà Văn Minh (cháu dâu cụ cố tổ): Sung sướng vì sẽ được dịp “mặc đồ xô gai tân thời, cái
mũ mấn trắng viền đen” để lăng-xê mốt tang phục cho tiệm may Âu hoá.
- Cô Tuyết (cháu nội cụ cố tổ): Được dịp mặc bộ y phục “Ngây thơ” bằng voan mỏng để cho
thiên hạ phải biết rằng mình “chưa đánh mất cả chữ trinh”.
- Cậu tú Tân (cháu nội cụ cố tổ): Sung sướng vì được dịp dùng đến cái máy ảnh mới mua và là
cơ hội hiếm có để cậu giải trí và chứng tỏ tài nghệ chụp ảnh của mình.
Miêu tả cảnh đám tang, tác giả cũng nhằm phơi bày bộ mặt bịp bợm, vô lương tâm của đám
người đồi bại đương thời.
* Luyện tập:
Hãy chỉ ra những mâu thuẫn và những chân dung trào phúng ở đoạn trích Hạnh phúc của một
tang gia (Học sinh xem lại nội dung bài học).
-
CHÍ PHÈO
Nam Cao
PHẦN MỘT: TÁC GIẢ
1. Đặc điểm con người
21
Bề ngoài lạnh lùng, ít nói nhưng có đời sống nội tâm phong phú. Ông luôn nghiêm khắc với
bản thân để thoát khỏi lối sống tầm thường nhỏ hẹp, vươn tới một cuộc sống cao đẹp xứng đáng với
danh hiệu con người.
- Có tấm lòng đôn hậu, gắn bó sâu nặng với quê hương và những người nông dân nghèo khổ
bị áp bức và khinh miệt trong xã hội cũ.
- Ông luôn suy nghĩ về nhiều vấn đề trong đời sống để rút ra những nhận xét có tầm triết lí sâu
sắc và mới mẻ.
- Trước cách mạng, ông có tâm trạng bất hoà sâu sắc đối với xã hội thực dân nửa phong kiến
đương thời.
2. Sự nghiệp văn học
a. Quan điểm nghệ thuật
“Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa
dối, nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than” (Trăng sáng) Nghệ
thuật nói chung, văn chương nói riêng phải gắn bó với đời sống, phải phản ánh chân thật đời sống,
làm nguyên mẫu để sáng tác.
+ Nội dung phản ánh: Nói lên cuộc sống tối tăm, cực nhục và nhiều lúc dẫn đến tình trạng tha
hóa của người nông dân do xã hội thực dân nửa phong kiến gây ra. Đồng thời phát hiện, khẳng định,
ca ngợi phẩm chất lương thiện, tốt đẹp bên trong của người nông dân.
+ Các tác phẩm tiêu biểu: Chí Phèo, Lão Hạc, Dì Hảo, Lang Rận, Một bữa no, Một đám
cưới…
Kết luận chung: Dù viết về người trí thức nghèo hay người nông dân cùng khổ, Nam cao đều
đặc biệt quan tâm đến đời sống tinh thần của con người, luôn đau đớn trước tình trạng con người bị
rơi vào thảm cảnh sống mòn, bị xói mòn về nhân phẩm, bị huỷ hoại về nhân tính.
-
22
Giai đoạn sau Cách mạng tháng Tám
* Vị trí: Nam cao là cây bút tiêu biểu ở chặng đường đầu của nền văn học mới sau cách mạng.
* Nội dung: Khẳng định lập trường và tinh thần phục vụ kháng chiến của người trí thức sau
cách mạng.
* Tác phẩm tiêu biểu: Truyện ngắn Đôi mắt, nhật kí Ở rừng, tập kí sự Chuyện biên giới.
c. Phong cách nghệ thuật
- Ông luôn đề cao con người tư tưởng, đặc biệt chú ý đến hoạt động bên trong, đời sống tinh
thần của con người. Bởi vậy, trong nhiều sáng tác, ông thường đi sâu vào thế giới nội tâm, tâm lí
nhân vật.
- Ông là nhà văn có biệt tài diễn tả, phân tích tâm lí nhân vật.
- Từ những sự việc quen thuộc, tầm thường trong đời sống hàng ngày, nhà văn đã đặt ra những
vấn đề xã hội có ý nghĩa to lớn, thể hiện những triết lí sâu sắc về con người, về cuộc sống và về
nghệ thuật.
- Nam Cao là nhà văn có giọng điệu riêng: buồn thương chua chát; dửng dưng lạnh lùng mà
đầy thương cảm, đằm thắm yêu thương…
PHẦN HAI: TÁC PHẨM
Ý nghĩa khái quát: Hình ảnh làng Vũ Đại được miêu tả trong truyện là hình ảnh thu nhỏ của
nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám.
4. Hình tượng nhân vật Chí Phèo
a. Cách giới thiệu nhân vật của tác giả ở đầu tác phẩm:
23
“Hắn vừa đi vừa chửi… cả làng Vũ Đại cũng không ai biết…”
- Cách giới thiệu sống động, hấp dẫn, giúp người đọc hình dung một cách bao quát về chân
dung, số phận và tính cách của nhân vật trung tâm.
- Tiếng chửi của Chí hàm chứa nhiều ý nghĩa:
+ Đó là phản ứng của Chí với toàn bộ cuộc đời: bộc lộ tâm trạng bất mãn của một con người ít
nhiều ý thức được mình đã bị xã hội phi nhân tính gạt ra khỏi thế giới loài người
+ Đó là dấu hiệu tuyệt vọng về một kiếp sống cô độc của người nông dân bị tha hóa, không
còn được làm người.
b. Các giai đoạn trong cuộc đời Chí Phèo:
* Trước khi vào tù:
- Hoàn cảnh xuất thân:
+ Chí xuất hiện đầu tiên trong một cái váy đụp vứt ở lò gạch cũ bỏ hoang, rồi trở thành đứa trẻ
chuyền tay từ người này đến người khác.
+ Tuổi thơ, Chí sống bơ vơ, bất hạnh: không biết cha mẹ, không người thân thích, không nhà
cửa, không một tấc đất cắm dùi…; hết đi ở cho nhà này, lại đi ở cho nhà nọ.
+ Đến năm 20 tuổi, Chí làm canh điền cho nhà bá Kiến.
- Bản chất vốn có của Chí:
+ Là một người lương thiện, có ước mơ bình dị: muốn sống hạnh phúc bằng chính sức lao
động của mình “Hình như có một thời hắn đã ao ước có một gia đình nho nhỏ. Chồng cuốc mướn,
cày thuê, vợ dệt vải. Chúng lại bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm ba sào
ruộng làm”.
+ Là người rất coi trọng nhân phẩm, biết phân biệt được tình yêu chân chính và thói dâm tục
xấu xa …
Viết về sự thức tỉnh linh hồn của Chí Phèo, nhà văn Nam Cao thể hiện một tư tưởng nhân
đạo mới mẻ: niềm tin vào bản chất tốt đẹp của người nông dân dù xã hội thực dân nửa phong kiến
cố tình huỷ diệt.
* Bi kịch tinh thần của Chí Phèo khi thị Nở cắt đứt mối tình:
Biểu hiện của bi kịch:
+ Bà cô thị Nở không cho cháu bà lấy Chí Phèo. Bà ta cũng như cả làng Vũ Đại đã quen coi
Chí là quỷ dữ từ lâu rồi. Linh hồn Chí đã trở về nhưng không ai nhận ra.
+ Chí rơi vào bi kịch tinh thần đau đớn, tuyệt vọng: sinh ra là người, nhưng lại không được
làm người.
+ Vì tuyệt vọng nên Chí lại uống rượu, nhưng “nhưng càng uống lại càng tỉnh ra”.
+ Vì ý thức được nỗi đau nên Chí “ôm mặt khóc rưng rức” và cứ “thoang thoảng thấy hơi
cháo hành”.
- Con đường giải quyết bi kịch:
+ Trở về với cuộc sống lương thiện: không được (vì thị Nở đã cắt đứt mối tình).
+ Trở về với cuộc sống quỷ dữ trước kia: Chí không muốn (vì đã ý thức được nỗi đau).
+ Trong cơn khủng hoảng và bế tắc, Chí Phèo chỉ còn một cách giải quyết cuối cùng: giết kẻ
đã cướp đi nhân hình, nhân tính của mình và kết liễu cuộc đời.
Hành động Chí Phèo giết bá Kiến và tự kết liễu cuộc đời toát lên nhiều ý nghĩa:
+ Đây là hành động lấy máu rửa thù của người nông dân một khi họ đã thức tỉnh về quyền
sống.
+ Tình trạng xung đột giai cấp ở nông thôn Việt Nam là hết sức gay gắt và đã đến lúc giai
cấp thống trị phải đền tội.
+ Cái chết của Chí Phèo có ý nghĩa tố cáo xã hội thực dân nửa phong kiến: không những
đẩy người nông dân lương thiện vào con đường bần cùng hóa, lưu manh hóa mà còn đẩy họ vào
chỗ chết.
5. Hình tượng nhân vật bá Kiến – điển hình cho bọn cường hào ở nông thôn:
a. Là một tên cường hào có bản chất gian hùng:
- Thể hiện ở giọng quát “rất sang’, lối nói ngọt nhạt, “cái cười Tào Tháo”.
- Thể hiện ở phương sách thống trị nông dân:
+ Mềm nắn rắn buông.