Bài thu hoạch lớp bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp Giáo viên THPT hạng II - Pdf 50

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

BÀI THU HOẠCH
LỚP BỒI DƯỠNG THEO TIÊU CHUẨN
CHỨC DANH NGHỀ NGHIỆP GIÁO VIÊN
THPT HẠNG II

Họ viên: Lê Trường Thọ

HÀ NỘI THÁNG 7 NĂM 2018
0


PHẦN MỞ ĐẦU
Qua quá trình học tập và nghiên cứu cũng như sự hướng dẫn, truyền đạt
của các thầy, cô giáo trường Đại học Quy Nhơn phụ trách giảng dạy Chương
trình bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên THPT hạng II,
tôi nắm bắt được các nội dung như sau:
Nắm bắt xu hướng phát triển của giáo dục, tinh thần đổi mới căn bản và
toàn diện giáo dục theo tinh thần nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4 tháng 11 năm
2013 của hội nghị lần thứ 8 khóa XI, các mô hình trường học mới. Những mặt
đạt được và mặt hạn chế của các mô hình trường học đó. Vận dụng sáng tạo và
đánh giá được việc vận dụng những kiến thức về giáo dục học, nhất là đổi mới
phương pháp dạy học, hình thức dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng
phát triển năng lực người học và tâm sinh lý lứa tuổi vào thực tiễn giáo dục học
sinh THPT của bản thân và đồng nghiệp. Chủ động, tích cực phối hợp với đồng
nghiệp, cha mẹ học sinh và cộng đồng để nâng cao chất lượng giáo dục học sinh
THPT.
Nắm vững và vận dụng tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước, những quy định và yêu cầu của ngành, địa phương về
giáo dục THPT; chủ động tuyên truyền và vận động đồng nghiệp cùng thực hiện

hệ thống Toà án) thực hiện. Ở nước ta: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự
phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện
các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” (Điều 2-Hiến pháp nước CHXHCN
VN, 2013). Theo cơ chế đó, quyền lập pháp được trao cho một cơ quan duy nhất
thực hiện là Quốc hội. Ngoài chức năng chủ yếu là lập pháp (ban hành và sửa
đổi Hiến pháp, luật và các bộ luật), Quốc hội ở nước ta còn thực hiện hai nhiệm
2


vụ quan trọng khác là giám sát tối cao đối với mọi hoạt động của Nhà nước và
quyết định những chính sách cơ bản về đối nội, đối ngoại, chiến lược phát triển
kinh tế-xã hội, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy
nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân. Quyền hành pháp được
trao cho Chính phủ và bộ máy hành chính địa phương thực hiện bao gồm quyền
lập quy và điều hành hành chính. Quyền tư pháp được trao cho hệ thống Viện
kiểm sát nhân dân các cấp và hệ thống Toà án nhân dân các cấp thực hiện.
Hành chính được hiểu là hoạt động chấp hành và điều hành trong việc
quản lý một hệ thống theo những quy định định trước nhằm giúp cho hệ thống
đó hoàn thành mục tiêu của mình. Trong hoạt động của nhà nước, hoạt động
hành chính nhà nước gắn liền với việc thực hiện một bộ phận quan trọng của
quyền lực nhà nước là quyền hành pháp – thực thi pháp luật. Như vậy, hành
chính nhà nước được hiểu là một bộ phận của quản lý nhà nước.
2. Chiến lược và chính sách phát triển giáo dục và đào tạo
Từ trước đến nay, về cơ bản chương trình giáo dục phổ thông vẫn được
xây dựng theo cách tiếp cận nội dung. Chương trình thường chỉ nêu ra một danh
mục đề tài, chủ đề của môn học nào đó cần dạy và học; tập trung trả lời câu hỏi:
Chúng ta muốn học sinh biết những gì? Vì thế thường chạy theo khối lượng kiến
thức, ít chú ý dạy cách học, đáp ứng nhu cầu, hứng thú của người học… Chương
trình mới chuyển sang cách tiếp cận năng lực. Đó là cách tiếp cận nêu rõ học
sinh sẽ làm được gì và làm như thế nào vào cuối mỗi giai đoạn học tập. Cách

chủ đạo, chịu trách nhiệm chính trước nhân dân; trước Đảng, Nhà nước và Quốc
hội. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã và đang khẩn trương, tích cực triển khai các
công việc nhằm thực hiện chủ trương, định hướng mà Nghị quyết Đại hội lần
thứ XII của Đảng đã xác định. Để thực hiện tốt nghị quyết, một trong những nội
dung quan trọng cần nhận thức đúng chính là xác định rõ các yếu tố cơ bản của
giáo dục, đào tạo cần đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ, theo hướng phát triển phẩm
chất và năng lực người học. Mục tiêu của đổi mới là xây dựng nền giáo dục mở,
thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lí tốt; có cơ cấu và phương thức

4


giáo dục hợp lí, gắn với xây dựng xã hội học tập; đảm bảo các điều kiện nâng
cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập
quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và
bản sắc dân tộc.
Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi
dưỡng nhân tài gắn với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Đổi
mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, chủ động phát huy mặt tích cực, hội nhập
quốc tế.
3. Quản lý giáo dục và chính sách phát triển giáo dục trong cơ chế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
3.1. Ảnh hưởng tích cực, tiêu cực của cơ chế thị trường với giáo dục
Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8, khóa XI
đã chỉ rõ: Chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị
trường, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục và đào
tạo. Vậy, tại sao phải chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của
cơ chế thị trường và phải bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa. Vì cơ chế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa chi phối ảnh hưởng tới toàn bộ các hoạt
động của đất nước ta, trong đó có giáo dục và đào tạo. Thành công của quá trình

3.2. Thực hiện hệ thống giáo dục mở
Nghị quyết cũng đề ra yêu cầu và mục tiêu hướng tới của nền giáo dục
Việt Nam là xây dựng hệ thống giáo dục mở. Tức là hệ thống giáo dục linh hoạt,
liên thông giữa các yếu tố: nội dung, phương pháp, phương thức, thời gian,
không gian, chủ thể giáo dục… của hệ thống và liên thông với môi trường bên
ngoài hệ thống. Tuy nhiên, hệ thống này phải bảo đảm tính sáng tạo cho việc
xây dựng, tổ chức các nội dung, hình thức giáo dục; đồng thời tạo cơ hội tiếp
cận giáo dục cho mọi người; tận dụng các nguồn lực cho giáo dục và bảo đảm
tính hiệu quả, phát triển bền vững của hệ thống.
Nói cách khác, hệ thống giáo dục mở là hệ thống giáo dục tạo ra cơ hội
phát triển chương trình giáo dục, tạo cơ hội học tập phù hợp cho mọi đối tượng
6


có nhu cầu, không phân biệt lứa tuổi, trình độ học vấn và nghề nghiệp, địa vị xã
hội, giới tính trong mọi thời gian khác nhau và không gian khác nhau. Nhờ đó,
việc học tập của con người có điều kiện để thực hiện không ngừng suốt đời.
3.3. Ổn định hệ thống giáo dục phổ thông 12 năm
Nội dung nghị quyết đã chỉ rõ là cơ cấu hệ thống giáo dục phải góp phần
đảm bảo quyền lợi học tập của người dân. Chất lượng giáo dục của mỗi cấp học
phải đảm bảo đạt chuẩn quốc gia và tương ứng với chất lượng quốc tế, phát huy
hiệu quả đầu tư giáo dục. Thực hiện quan điểm chỉ đạo của nghị quyết, Bộ Giáo
dục - Đào tạo đã xây dựng đề án phát triển giáo dục trong tình hình mới và
khẳng định việc ổn định hệ thống giáo dục như hiện nay, tức 12 năm giáo dục
phổ thông (GDPT). Lí do thứ nhất là trong lịch sử giáo dục Việt Nam, mô hình
giáo dục 12 năm tồn tại lâu nhất và ổn định nhất (tính từ sau Cách mạng tháng 8
năm 1945 đến nay, mô hình 12 năm đã tồn tại 32 năm trong phạm vi cả nước).
Thứ hai là mô hình GDPT 12 năm đang được thực hiện ở đa số nước trên thế
giới. Hơn nữa, việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông theo hướng phát
triển năng lực học sinh là xu thế quốc tế đã và đang được nhiều nước tiên tiến áp

dạy học và giáo dục trong nhà trường.
4.2. Các nội dung phát triển năng lực nghề nghiệp giáo viên THPT
hạng 2
Phát triển năng lực chính trị: các thầy cô giáo phải là người có bản lĩnh và
năng lực chính trị để giảng dạy, giáo dục học sinh về năng lực chính trị để phát
huy vai trò của nhà trường đối với việc duy trì và bảo vệ hệ thống chính trị của
quốc gia, của dân tộc. Vì nhà trường phục vụ mục đích chính trị.
Phát triển năng lực chuyên môn: đây là năng lực cốt lõi của giáo viên nên
người giáo viên không ngừng học tập, bồi dưỡng phát triển về chuyên môn và
luôn làm giàu vốn tri thức của mình. Vì lượng tri thức không ngừng biến đổi và
ngày càng gia tăng, tri thức nghề nghiệp có thể không còn phù hợp hoặc không
đủ.

8


Phát triển năng lực nghiệp vụ sư phạm: kiến thức, kỹ năng về nghiệp vụ
sư phạm luôn biến đổi theo hướng tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa người
dạy và người học, giữa người học với người học. Trong khi đó, môi trường tri
thức khoa học lại mở rộng, nhiều nguồn thông tin khác nhau cùng tác động
người học; đòi hỏi giáo viên phải đổi mới phương pháp dạy học để đáp ứng với
nhu cầu của người học và yêu cầu phát triển năng lực cho người học.
Phát triển năng lực tự học, tự bồi dưỡng: tạo kỹ năng tự học, tự bồi dưỡng
trong quá trình trải nghiệm thực tế.
Phát triển năng lực xã hội: vì năng lực xã hội của giáo viên hỗ trợ cho
năng lực chuyên môn; đặc biệt đối với giáo viên các môn kho học xã hội. Đồng
thời, giáo viên cần có năng lực xã hội để giáo dục học sinh, và luôn tích ứng
trong môi trường luôn biến đổi, nắm bắt được các vấn đề xã hội tránh lạc hậu.

Chương 2.

viên(từ 3 người trở lên) cùng giảng dạy về một môn học hay một nhóm môn học
hay một nhóm viên chức làm công tác thư viện, thiết bị giáo dục, tư vấn học
đường, ... được tổ chức lại để cùng nhau thực hiện các nhiệm vụ theo mục tiêu,
chiến lược của tổ, của nhà trường đề ra.
2.2.Vai trò tổ chuyên môn
Tổ chuyên môn là một bộ phận cấu thành của nhà trường THPT. Các tổ
nhóm chuyên môn có mối quan hệ hợp tác với nhau, phối hợp các bộ phận
nghiệp vụ khác và các tổ chức đoàn thể trong việc thực hiện các nhiệm vụ của
tổ, của nhà trường nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra.
Tổ chuyên môn là nơi trực tiếp triển khai các hoạt động của nhà trường,
trong đó trọng tâm là hoạt động giáo dục và dạy học.
Tổ chuyên môn là đầu mối quản lý mà Hiệu trưởng nhất thiết phải tập
trung dựa vào đó để quản lý nhà trường trên nhiều phương diện, nhưng cơ bản
nhất là hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục của giáo viên.

10


Tổ chuyên môn là một môi trường trong đó có các mối quan hệ đồng
nghiệp gắn bó, đoàn kết; cùng nhau chia sẻ tâm tư, tình cảm và những khó khăn
trong đời sống của giáo viên; kịp thời động viên, giúp đỡ giáo viên trong tổ hoàn
thành tốt nhiệm vụ của người giáo viên trong trường trung học.
2.3. Chức năng, nhiệm vụ tổ chuyên môn
Xây dựng và triển khai kế hoạch hoạt động chung của tổ
Hướng dẫn xây dựng và quản lý kế hoạch cá nhân của tổ viên, phân phối
chương trình và các hoạt động khác của nhà trường.
Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên trong tổ.
Tham gia đánh giá, xếp loại các thành viên của tổ theo quy định của
Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học và các quy định khác.
Giới thiệu tổ trưởng, tổ phó. Đề xuất khen thưởng, kỷ luật đối với giáo

Năng lực là khả năng làm chủ những hệ thông kiến thức, kỹ năng, thái độ
và vận hành(kết nối) chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ
hoặc giải quyết hiệu quả vắn đề đặt ra của cuộc sống.
Theo chương trình giáo dục phổ thông mới(được thông qua ngày
27/7/2017): có 05 phẩm chất cơ bản và 10 năng lực cốt lõi cần hình thành cho
người học. Đó là:
+ 05 phẩm chất cần hình thành cho học sinh: Yêu nước; Nhân ái; Chăm
chỉ; Trung thực; Trách nhiệm.
+ 03 năng lực chung cần hình thành cho học sinh: Năng lực tự chủ và tự
học; Năng lực giao tiếp và hợp tác; Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo.
+ 07 năng lực chuyên môn cần hình thành cho học sinh: Năng lực ngôn
ngữ; Năng lực tính toán; Năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội; Năng lực công
nghệ; Năng lực tin học; Năng lực thẩm mỹ; Năng lực thể chất.

12


3.2. Đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định
hướng phát triển năng lực
- Đổi mới phương pháp dạy học:
+ Phát huy tính tích cực, chủ động, tự giác của người học, hình thành và
phát triển năng lực tự học.
+ Lựa chọn linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặc thù của
môn học để thực hiện.
+ Việc sử dụng phương pháp dạy học gắn với các hình thức tổ chức dạy
học.
+ Sử dụng đủ và hiệu quả các thiết bị dạy học tối thiểu đã quy định.
- Đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh: đánh giá kết
quả học tập là quá trình thu thập thông tin, phân tích và xử lý thông tin, giải
thích thực trạng việc đạt mục tiêu giáo dục, tìm hiểu nguyên, ra những quyết

của các em trong tương lai, GV không nên cho học sinh biết là em thích hợp với
nghề gì, nên chọn ngành học nào. Ở đây, bản thân các em phải tự ý thức được
mình là ai, mình đang ở đâu, và quan trọng hơn, các em phải hiểu rằng tuy cần
có sự trợ giúp, góp ý của người lớn, nhưng tương lai là do mình tự quyết định
lấy. Nói cách khác, GV với tư cách là người tư vấn, phải khơi dậy được ở học
sinh niềm tin vào bản thân, gạt bỏ những rào cản tâm lý để các em có thể đối
mặt với những vấn đề của mình. Tuy nhiên, khi vấn đề không chỉ thuộc về cá
nhân học sinh, thì GV lại phải trợ giúp cho các em bằng nhiều cách, trong đó có
việc tiếp xúc với các đối tượng có liên quan.
Vai trò của tư vấn học đường:
Tạo ra những tác động mang tính định hướng giáo dục tới học sinh, giúp
học sinh có những định hướng đứng, biết cách giai quyết vấn đề của bản thân.
Hỗ trợ HS giải quyết khó khăn đối mặt với vấn đề và khơi dậy nội lực,
khả năng ứng phó của các em.
Trong quá trình học tập, rèn luyện và phát triển HS có vướng mắc trong
học tập, sinh hoạt, hướng nghiệp trong tìm kiếm việc làm cần được giai đáp

15


cần được người am hiểu và có trách nhiệm trợ giúp tư vấn học đuởng là trợ
giúp, là bạn đồng hành của các em.
Tư vấn giúp các em lựa chọn cách xử lý đúng góp phần ổn định đời sống
tâm hồn, tình cảm và giúp HS thực hiện được nguyện vọng của mình.
Tạo ra một môi trường thuận lợi, tích cực, thân thiện cho sự phát triển
nhân cách của HS.
Tóm lại, trong nhà trường trung học phổ thông, việc tư vấn tâm lý cho học
sinh là một hoạt động không thể thiếu của GV . Việc làm này đòi hỏi người thầy
phải bỏ ra nhiều thời gian, công sức và tâm huyết. Nhưng trong quá trình thực
hiện tư vấn tâm lý cho học sinh, GV cũng gặp không ít khó khăn khách quan và

+ Huy động xã hội tham gia vào quá trình giáo dục;
+ Huy động các lực lượng tham gia vào quá trình đa dạng hóa các hình
thức học tập và các loại hình nhà trường;
+ Huy động xã hội đầu tư các nguồn lực cho giáo dục.

Chương 3
LIÊN HỆ THỰC TIỄN TẠI ĐƠN VỊ
1. Đặc điểm tình hình nhà trường
Trường THPT An Phước, ngôi trường được thành lập đầu tiên trên địa bàn
huyện Ninh Phước 16/9/1976 theo quyết định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Trường được thành lập cùng lúc với 14 trường THPT trên địa bàn Tỉnh Thuận
Hải, với nhiệm vụ nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài cho Huyện An Phước
(bao gồm Huyện Ninh Phước, Huyện Thuận Nam,Huyện Ninh Sơn, Huyện Bác
Ái bấy giờ). Trường tọa lạc tại Thôn Vĩnh Thuận, Khu phố Bàu Trúc, Thị trấn
Phước Dân, Huyện Ninh Phước, Tỉnh Ninh Thuận.

17


Năm học 1976 - 1977: Trường có 02 lớp với 79 học sinh, đội ngũ chưa tới
10 thầy cô giáo, cán bộ, nhân viên. Cơ sở vật chất lúc đó đang xây dựng dở dang
nên phải học tạm ở các phòng học của trường tiểu học Phước dân.
Năm học 1990 - 1991: UBND Tỉnh Thuận Hải cho phép xác nhập
Trường THPT An Phước với trường cấp 2 Phước Dân, Huyện Ninh Phước thành
trường cấp 2, 3 An Phước. Năm học 1990-1991 Trường có 19 lớp bao gồm 6 lớp
cấp 3 và 13 lớp cấp 2. Số học sinh của trường là 764.
Năm học 2008-2009: Trường THPT An Phước đã tách hoàn toàn khối
THCS ra. Trường chỉ còn khối THPT.
Năm học 2016-2017, trường có 35 lớp với 1350 em. Cơ sở vật chất của
trường tương đối hiện đại, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới. Tập thể giáo

nhiệm vụ phù hợp, phát huy tối đa năng lực tiềm ẩn và vai trò của mỗi giáo viên
trong tổ; xây dựng được môi trường khuyến khích mọi người làm việc và phát
huy tối đa vai trò tổ trưởng chuyên môn.
Chỉ đạo tổ chuyên môn đổi mới phương pháp, đổi mới kiểm tra, đánh giá
theo hướng phát triển năng lực học sinh.
Chỉ tổ chuyên môn xây dựng chủ đề tích hợp liên môn:
- Các tổ xác định rõ mục tiêu dạy học tích hợp liên môn của một chủ đề
cụ thể.
- Xác định nội dung dạy học cần những kiến thức, kỹ năng của một môn
học hay nhiều môn học(chỉ rõ môn nào).
- Xác định mức độ tích hợp kiến thức, kỹ năng của nội dung tích hợp từng
môn trong chủ đề.
- Lựa chọn cho phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức phù hợp
với chủ đề.

19


- Tổ chức thực hiện và xác định hình thức, phương pháp, công cụ kiểm
tra, đánh giá.
Tuy nhiên, kết quả đạt được không như mong đợi, hạn chế chất lượng,
thậm chí có tổ không tổ chức được. Trong quá trình tổ chức thực hiện các tổ còn
nhiều khó khăn về mô hình tổ chức, sự hợp tác các giáo viên, đòi hỏi nhiều thời
gian, có khi tốn kém tài chính.
2.2 Công tác chỉ đạo, tổ chức hoạt động kiểm tra nội bộ (KTNB)
Trong mỗi năm học, nhà trường đã tiến hành công tác chuẩn bị, xây dựng
kế hoạch và tổ chức thực hiện, đánh giá về công tác KTNB như sau:
Hiệu trưởng quán triệt, triển khai các văn bản thực hiện nhiệm vụ năm
học của cấp trên.
Hiệu trưởng xây dựng dự thảo kế hoạch KTNB đã xác định rõ: mục tiêu,

như sau.
Đối với lãnh đạo nhà trường: phải tổ chức các hoạt động tập thể, tạo mọi
điều kiện cho học sinh tham gia; quán triệt, tuyên truyền đường lối, chủ trương
của Đảng; giáo dục truyền thống, giáo dục giá trị cho học sinh trong các buổi
sinh hoạt tập thể.
Đối với GVCN: phải nắm bắ hoàn cảnh gia đình của từng học sinh;
thường xuyên giữ thông tin liên lạc cới CMHS; nắm bắt kịp thời tình hình của
lớp; có những biện pháp giáo dục, uốn nắn, động viên cho học sinh. Đồng thời
báo cáo lãnh đạo nhà trường kịp thời các trường hợp vượt quá thẩm quyền giải
quyết hoặc khó khăn. Cùng phối hợp GVBM trong công tác giáo dục học sinh
của lơp chủ nhiệm.
Đối với GVBM: ngoài việc truyền đạt kiến thức, kỹ năng bộ môn cho học
sinh còn phải thực hiện giáo dục học sinh của bộ môn theo hướng phát triển
năng lực học sinh(gồm 5 phẩm chất cơ bản, 10 năng lực cốt lõi) hoặc liên hệ
thực tiễn trong bài học. Cùng phối hợp GVCN trong giáo dục học sinh.

21


Đối với đoàn thể: Nhà trường phối hợp Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tổ chức
tuyên truyền, giáo dục tư tưởng, đạo đức, lý tưởng cách mạng trong đoàn viên,
thanh niên. Tổ chức các hoạt động học sinh tham gia trò chơi dân gian, kỉ niệm
các ngày lễ lớn trong năm, hoạt động trải nghiệm cho học sinh. Phối hợp với
công đoàn trường tổ chức các phong trào trong đơn vị như: “Thi đua dạy tốt –
Học tốt”, “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”,
“Dân chủ, kỷ cương, tình thương và trách nhiệm”.
Đối với cha mẹ học sinh: Nhà trường phối hợp Ban ĐD CMHS trường,
Ban ĐD CMHS lớp trong công tác tuyên truyền, giáo dục học sinh nâng cao ý
thức rèn luyện và học tập.
Kết quả thực hiện: các GVCN nâng cao tinh thần trách nhiệm, nắm bắt

Đối với Công an huyện
Phối hợp Công an huyện về công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho
học sinh về: chấp hành Luật Giao thông đường bộ; công tác phòng chống ma túy
trong học đường; công tác phòng chống các TNXH khác; Công tác an toàn, an
ninh trường học ngoài cổng trường và trong khuôn viên nhà trường.
Kết quả: đã tổ chức thành công các buổi ngoại khóa về giáo dục Pháp luật
cho học sinh rất sinh động. Đồng thời nhận được sự hỗ trợ tích cực từ phía Công
an huyện dành cho nhà trường trong công tác bảo đảm an ninh trật tự, các tình
huống an ninh xảy ra bất thường bên ngoài cổng trường.

23


KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Qua khóa học, tôi đã nắm bắt và vận dụng sáng tạo vào công tác của
mình. Nắm vững và vận dụng tốt chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng,
pháp luật của Nhà nước, quy định và yêu cầu của ngành, địa phương về giáo dục
THPT; chủ động tuyên truyền và vận động đồng nghiệp cùng thực hiện tốt chủ
trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước về giáo dục nói chung và giáo dục
THPT nói riêng. Hiểu rõ chương trình và kế hoạch giáo dục THPT; hướng dẫn
được đồng nghiệp cùng thực hiện chương trình và kế hoạch giáo dục THPT.
Nắm bắt xu hướng phát triển của giáo dục, tinh thần đổi mới căn bản và
toàn diện giáo dục. Vận dụng sáng tạo và đánh giá được việc vận dụng những
kiến thức về giáo dục học, nhất là đổi mới phương pháp dạy học, hình thức dạy
học và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực người học và tâm
sinh lý lứa tuổi vào thực tiễn giáo dục học sinh THPT của bản thân và đồng
nghiệp. Chủ động, tích cực phối họp với đồng nghiệp, cha mẹ học sinh và cộng
đồng để nâng cao chất lượng giáo dục học sinh THPT.
Nắm rõ và vận dụng những năng lực cốt lõi của giáo viên trong dạy học


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status