Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1
LỜI MỞ ĐẦU
Ngân hàng Thương mại là tổ chức tài chính trung gian có vị trí quan trọng nhất trong
nền kinh tế, nó là một loại hình doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ-tín dụng với 3
nghiệp vụ chính: nghiệp vụ nợ (huy động tạo nguồn vốn), nghiệp vụ có (sử dụng vốn) và
nghiệp vụ trung gian(thanh toán hộ khách hàng). Giữa 3 nghiệp vụ này có một mối liên hệ
khăng khít, tương hỗ lẫn nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển.
Tín dụng là hoạt động sinh lời lớn nhất song rủi ro cao nhất cho Ngân hàng Thương
mại. Rủi ro này có nhiều nguyên nhân, đều có thể gây ra tổn thất, làm giảm thu nhập của Ngân
hàng.Có nhiều khoản tài trợ mà tổn thất có thể chiếm phần lớn vốn của chủ, đẩy Ngân hàng
đến phá sản. Để đảm bảo Ngân hàng có thể thu hồi được vốn cho vay thì các hồ sơ vay vốn
của khách hàng phải đảm bảo các điều kiện theo quy định và quá trình thẩm định của Ngân
hàng. Do vậy thẩm định tín dụng là một vấn đề rất phức tạp và cần thiết trước khi Ngân hàng
cấp vốn cho khách hàng vay. Hiện nay các Ngân hàng Thương mại Việt Nam đều có tỷ lệ nợ
xấu, nợ quá hạn cao do việc cho vay nhưng đã hết hạn mà vẫn chưa thu hồi được. Điều này
ảnh hưởng tới thu nhập, khả năng hoạt động an toàn của Ngân hàng.
Qua quá trình thực tập tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần (TMCP) Quân Đội, em thấy
nhu cầu tín dụng tại Ngân hàng là rất nhiều, đặc biệt là trong thời kỳ mở cửa có rất nhiều dự án
đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế, mọi ngành nghề và lĩnh vực đang được thực hiện, vấn đề
thẩm định tín dụng được đặc biệt quan tâm.Vì lý do đó em đã chọn đề tài: "Hoàn thiện công
tác thẩm định tín dụng trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân
Đội” làm đề tài cho chuyên đề tốt nghiệp của mình. Chuyên đề được kết cấu làm 3 chương:
Chương I:Thẩm định tín dụng trong hoạt động cho vay của Ngân hàng Thương mại.
Chương II:Thực trạng công tác thẩm định tín dụng trong hoạt động cho vay tại Ngân
hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội.
Chương III:Giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định tín dụng trong hoạt động cho vay
tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo Ths. Đặng Anh Tuấn đã tận tình chỉ
mục đích nghiên cứu. Tuy nhiên người ta thường phân loại theo một số tiêu thức sau:
*Theo thời gian sử dụng vốn vay, tín dụng được chia làm 3 loại sau:
+ Tín dụng ngắn hạn:là loại tín dụng có thời hạn dưới 1 năm, thường được sử dụng
vào nghiệp vụ thanh toán, cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của các doanh
nghiệp hay cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng cá nhân.
+ Tín dụng trung hạn:Có thời hạn từ 1 đến 5 năm, được dùng để cho vay vốn phục vụ
nhu cầu mua sắm tài sản cố định cải tiến đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình
nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh.
+ Tín dụng dài hạn:là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, được sử dụng để cung cấp
vốn cho xây dựng cơ bản, cái tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn.
Thường thì tín dụng trung và dài hạn được đầu tư để hình thành vốn cố định và một phần vốn
tối thiểu cho hoạt động sản xuất.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
3
*Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay, tín dụng Ngân hàng chia thành 2 loại:
+ Tín dụng tiêu dùng:là loại tín dụng được cấp phát cho cá nhân để đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng. Loại tín dụng này thường được dùng để mua sắm nhà cửa, xe cộ, các thiết bị gia
đình…Tín dụng tiêu dùng ngày càng có xu hướng tăng lên.
+ Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hoá :là loại tín dụng được cấp cho các doanh
nghiệp để họ tiến hành sản xuất và kinh doanh.
*Căn cứ vào tính chất đảm bảo của các khoản cho vay có các loại tín dụng sau:
+ Tín dụng có bảo đảm:là loại hình tín dụng mà các khoản cho vay phát ra đều có tài
sản tương đương thế chấp, có các loại hình như:cầm cố, thế chấp, chiết khấu và bảo lãnh.
+ Tín dụng không có bảo đảm:là loại hình tín dụng mà các khoản cho vay phát ra
không cần tài sản thế chấp mà chỉ dựa vào tín chấp.
*Căn cứ vào hình thức cấp tín dụng, có các hình thức:
hàng đối với những khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện để
cấp hạn mức thấu chi.
•
Cho vay theo hạn mức: Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó Ngân hàng thoả
thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng.Hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kỳ hoặc cuối
kỳ. Đó là số dư tối đa tại thời điểm tính. Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở kế hoạch sản
xuất kinh doanh, nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng.
•
Cho vay gián tiếp:Phần lớn cho vay của Ngân hàng là cho vay trực tiếp.Hình
thức cho vay gián tiếp là hình thức cho vay thông qua các tổ chức trung gian(tổ, đội, Hội nông
dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh…).
•
Cho vay trả góp:Cho vay trả góp là hình thức tín dụng, theo đó Ngân hàng cho
phép khách hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thoả thuận và thường áp
dụng đối với những khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho tài sản cố định hoặc lâu bền.
+Bảo lãnh: Là cam kết của Ngân hàng dưới hình thức thư bảo lãnh về việc thực hiện
nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của Ngân hàng khi khách hàng không thực hiện đúng
nghĩa vụ như cam kết.Bảo lãnh thường có 3 bên: Bên hưởng bảo lãnh,bên được bảo lãnh và
bên bảo lãnh.Bảo lãnh là hình thức tài trợ thông qua uy tín của Ngân hàng cho khách hàng,qua
đó khách hàng có thể tìm nguồn tài trợ mới, mua được hàng hoá, thực hiện được các hoạt động
Ngân hàng giảm, ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của Ngân hàng.
- Nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng.
- Hạn chế rủi ro đạo đức trong kinh doanh Ngân hàng.
- Ổn định thị trường tài chính.
Hoạt động cho vay là hoạt động chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động tín dụng của Ngân
hàng Thương mại, là nguồn mang lại thu nhập lớn nhất cho Ngân hàng nhưng tiềm ẩn rất
nhiều rủi ro. Do đó công tác thẩm định tín dụng trước khi cấp vốn cho khách hàng là thực sự
cần thiết. Mỗi hồ sơ vay vốn đều phải tuân thủ các thủ tục và đầy đủ giấy tờ cần thiết trong đó
có phương án sản xuất kinh doanh hoặc dự án đầu tư.Quá trình thẩm định sẽ giúp Ngân hàng
tính toán và dự báo được hiệu quả của phương án và dự án mang lại cho Ngân hàng,khách
hàng, góp phần phát triển kinh tế đất nước. Từ đó Ngân hàng sẽ có quyết định cho vay, đầu tư
đúng đắn, mang lại hiệu quả cao. Nếu công tác thẩm định tín dụng kém sẽ gây thiệt hại cho
Ngân hàng,nghiêm trọng hơn là ảnh hưởng đến hoạt động an toàn của Ngân hàng, mất uy tín
cho Ngân hàng…và có thể làm Ngân hàng lâm vào tình trạng phá sản.
Như vậy thẩm định tín dụng trong hoạt động cho vay thực sự cần thiết và có ý nghĩa
quan trọng đối với Ngân hàng Thương mại. Một Ngân hàng hoạt động an toàn với các khoản
vay có chất lượng sẽ thu hút được khách hàng, nâng cao khả năng cạnh tranh của Ngân hàng
trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
6
1.2.2. Nội dung thẩm định tín dụng trong hoạt động cho vay của Ngân hàng
1.2.2.1.Thẩm định tình hình chung của khách hàng.
*Đánh giá về năng lực pháp lý.
- Đối với khách hàng là cá nhân, hộ gia đình,cơ sở sản xuất kinh doanh:
+Cá nhân vay vốn là công dân Việt nam có đủ từ 18 tuổi trở lên.
+Không bị mất hoặc hạn chế năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự.
-Tuổi tác, trình độ học vấn, kinh nghiệm lãnh đạo.
-Thời gian công tác, đảm nhiệm chức vụ, kết quả hoạt động của Doanh nghiệp từ sau khi
Ban lãnh đạo đảm nhiệm chức vụ so với trước đây.
-Nhận xét về tư cách đạo đức thông qua tiếp xúc, tìm hiểu các mối quan hệ của Lãnh đạo
doanh nghiệp.
-Tác phong, phương pháp điều hành, tính chuyên nghiệp trong quản lý.
-Sự đoàn kết trong nội bộ lãnh đạo.
-Sự am hiểu về tình hình sản xuất kinh doanh, dự án,thị trường của Ban lãnh đạo.
-Tầm nhìn và định hướng phát triển doanh nghiệp.
-Khả năng xử lý đối với các biến động bất lợi mà Doanh nghiêp, dự án có khả năng gặp
phải.
Việc tổ chức đánh giá trình độ tổ chức quản lý và uy tín của khách hàng nhằm hạn chế đến
mức thấp nhất rủi ro do chủ quan của khách hàng gây nên như:rủi ro về đạo đức, rủi ro về
thiếu kinh nghiêm, trình độ, năng lực, khả năng thích ứng với thị trường, phát hiện những âm
mưu lừa đảo ngay từ đầu của một số khách hàng.
*Uy tín của khách hàng
-Mối quan hệ với các Ngân hàng:xem xét, đánh giá về mức độ tín nhiệm trong quan hệ với
các Ngân hàng, tổ chức tín dụng, nhất là với TCB trong doanh số tiền gửi, trả nợ tiền vay,thực
hiện cam kết.
-Mối quan hệ về công nợ, thanh toán của khách hàng với các bạn hàng.
-Vị trí của khách hàng trên thương trường:chất lượng, giá cả hàng hóa, dịch vụ, sản phẩm
của khách hàng ở mức độ nào trên thị trường, mức độ chiếm lĩnh thị trường của sản phẩm.
*Đánh giá về quá trình phát triển và tình hình hoạt động của khách hàng
-Quá trình thành lập và phát triển, tăng trưởng của khách hàng,mục tiêu hoạt động của
khách hàng, có thời kỳ nào suy thoái không, có gặp phải biến cố,sự kiện xấu nào không, việc
khắc phục như thế nào.
-Những thành tích đã đạt được trong quá trình hoạt động.
-Quy mô kinh doanh, công nghệ thiết bị, địa điểm hoạt động, loại hình sở hữu, những sản
phẩm chính, những tiện ích, những mối quan hệ về tiêu thụ sản phẩm, quan hệ về tài chính.
-Hoạt động kinh doanh hiện tại, các sản phẩm chính những năm gần đây.
+ Nội dung, số liệu khớp đúng của Báo cáo tài chính.
+ Kiểm tra tình hình thực tế của khách hàng: Trị giá hàng tồn kho, các khoản phải thu,
các khoản phải trả (cho ai? ở đâu?), tài sản cố định hữu hình, ...để so sánh với số liệu trong
Báo cáo tài chính.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
9
Việc phân tích đánh giá tình hình tài chính của khách hàng được dựa trên cơ sở nhiều
năm (thường là 02 năm gần nhất), so sánh sự tăng giảm về số tuyệt đối, số tương đối giữa các
năm, từ đó rút ra những nhận xét về xu hướng tăng trưởng, phát triển và tính ổn định, an toàn.
Phân tích các tồn tại và biện pháp khắc phục.
Đối với khách hàng chưa đủ 02 năm hoạt động, việc phân tích dựa vào các số liệu tài
chính đầu kỳ và cuối kỳ.
Lưu ý: Khi đánh giá, nhận xét, cần phải nhìn một cách tổng thể về các chỉ tiêu đánh giá,
so sánh với thực tế cũng như đặc điểm sản xuất kinh doanh của khách hàng để đảm bảo tính
khách quan, chính xác và toàn diện.
* Các chỉ tiêu tài chính sử dụng để phân tích, đánh giá
Khi tiến hành phân tích, cần nghiên cứu, tham khảo, lựa chọn các chỉ tiêu sao cho phù
hợp với điều kiện thực tế của từng khách hàng, từng lĩnh vực kinh doanh và từng địa bàn cụ
thể. Các chỉ tiêu sau đây được tính toán trên cơ sở thông tin số liệu các khoản mục (mã số:
MS) trên Bảng cân đối kế toán (Mẫu số B01-DN) và Kết quả hoạt động kinh doanh (mẫu số
B02-DN) ban hành theo QĐ 167/2000/QĐ-BTC ngày 25/10/2000 của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
1. Nhóm các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán:
Đây là nhóm chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá tình trạng thanh khoản ngắn hạn của doanh
nghiệp và là mối quan tâm hàng đầu trong kinh doanh của Ngân hàng thương mại. Đặc biệt là
các Hệ số thanh toán ngắn hạn, Hệ số thanh toán nhanh và Hệ số thanh toán hiện hành.
-
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng thanh toán của doanh nghiệp không phụ thuộc vào việc bán
hàng tồn kho. Tuy nhiên, khi phân tích chỉ tiêu này cần chú ý đến tỷ lệ và khả năng thu hồi của
các khoản phải thu. Thông thường, Khh = 1 là tương đối lý tưởng.
-
Hệ số thanh toán lãi vay:
Lợi nhuận trước thuế + Lãi vay phải trả
(lần)
Lãi vay phải trả
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng trả lãi hàng năm của doanh nghiệp đối với ngân hàng như thế
Kl =
nào. Kl càng lớn càng tốt, nó tỷ lệ thuận với hiệu quả sử dụng vốn vay.
-
Hệ số thanh toán nhanh:
Kn =
Tiền và các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn
(lần)
Nợ ngắn hạn
Đây là chỉ tiêu bổ sung cho Hệ số thanh toán ngắn hạn. Chỉ tiêu này phản ánh khả năng thanh
toán nhanh, mang tính chất tức thì, ngay lập tức các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp mà
không phụ thuộc vào việc thu hồi các khoản phải thu và bán hàng tồn kho. Thông thường, K n =
0,3 - 0,5 lần là tương đối đảm bảo . Cũng cần chú ý rằng, nếu hệ số này quá cao (K n > 0,5 )
11
Tài sản cố định và đầu tư dài hạn (MS 200)
Tỷ suất này phản ánh số vốn chủ sở hữu được dùng để trang bị TSCĐ và đầu tư dài hạn. Nếu
Hcđ > 1 chứng tỏ khả năng tài chính vững vàng, ổn định. Nếu H cđ < 1 có nghĩa là một bộ phận
tài sản cố định được tài trợ bằng nguồn vốn vay nợ.
-
Tỷ suất tự tài trợ:
Nguồn vốn chủ sở hữu (MS 400)
x 100%
Tổng nguồn vốn (MS 430)
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ độc lập, tự chủ về vốn của doanh nghiệp. Nó cho biết trong
Hn =
tổng nguồn vốn hoạt động của doanh nghiệp vốn chủ sở hữu chiếm bao nhiêu phần trăm. Chỉ
tiêu này có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với hệ số nợ
-
Tỷ suất đầu tư:
Tài sản cố định và đầu tư dài hạn
X 100%
Tổng tài sản
Tỷ suất đầu tư phản ánh tình hình trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, năng lực sản xuất và xu
Hđt =
hướng phát triển lâu dài cũng như khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, để kết
luận tỷ suất này là tốt hay chưa tốt còn tuỳ thuộc vào từng ngành nghề sản xuất kinh doanh và
12
Đây là nhóm chỉ tiêu đặc trưng phản ánh hiệu quả sử dụng vốn và tài sản của doanh nghiệp.
-
Vòng quay vốn lưu động:
Vvlđ =
Doanh thu thuần
Tài sản lưu động bình quân
(Vòng)
Trong đó:
Tài sản lưu động bình quân =
TSLĐ đầu kỳ + TSLĐ cuối kỳ
2
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ quay vòng vốn lưu động của doanh nghiệp. Hiệu quả sử dụng
vốn lưu động tỷ lệ thuận với vòng quay vốn lưu động, nghĩa là nếu V vlđ tăng thì hiệu quả sử
dụng vốn lưu động tăng và ngược lại.
-Vòng quay hàng tồn kho
Vtk =
Giá vốn hàng bán
Hàng tồn kho bình quân
(vòng)
Việc tính toán chu kỳ vốn lưu động một cách chính xác giúp ngân hàng có thể xác định thời
hạn cho vay vốn lưu động, đặc biệt quan trọng đối với phương thức cho vay theo hạn mức tín
dụng.
Quy ước về Số ngày trong kỳ: 1năm =360 ngày, 1quý =90ngày, 1tháng=30 ngày).
-
Chu kỳ hàng tồn kho (Số ngày một vòng quay hàng tồn kho):
Số ngày trong kỳ
(ngày)
Vtk
Phản ánh số ngày trung bình của một vòng quay hàng tồn kho. Việc tính toán chỉ tiêu này
Ntk =
nhằm so sánh với thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có phù hợp không.
-
Chu kỳ các khoản phải thu (Số ngày một vòng quay các khoản phải thu):
Npt =
Số ngày trong kỳ
(ngày)
Vpt
Kỳ thu tiền trung bình phản ánh số ngày trung bình cần thiết để thu được các khoản phải thu.
-
Vòng quay các khoản phải thu:
Vpt =
Giá vốn hàng bán
(Vòng)
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
14
Các khoản phải trả bình quân
Trong đó:
Các khoản phải
=
Các khoản phải trả đầu kỳ + Các khoản phải trả cuối kỳ
2
trả bình quân
Chú ý: Các khoản phải trả được xác định ở đây là phần vốn đi chiếm dụng, bao gồm: Phải trả
người bán (mã số 313) và người mua trả tiền trước (mã số 314).
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng chiếm dụng vốn của doanh nghiệp đối với các khách hàng.
Nếu vòng quay các khoản phải trả lớn chứng tỏ doanh nghiệp ít đi chiếm dụng vốn, việc thanh
toán thường xuyên nhanh chóng. Nếu chỉ tiêu này quá nhỏ (các khoản phải trả lớn), sẽ tiềm ẩn
rủi ro về khả năng thanh khoản. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý việc chiếm dụng khoản vốn này có
thể giúp doanh nghiệp giảm được chi phí về vốn, đồng thời thể hiện uy tín về quan hệ thanh
toán đối với nhà cung cấp (phải trả người bán) và chất lượng sản phẩm đối với khách hàng
(người mua trả tiền trước).
Chu kỳ các khoản phải trả (số ngày một vòng quay các khoản phải trả):
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
15
Lợi nhuận sau thuế
ROE =
x 100 %
Vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu, cho biết tỷ lệ phần trăm của lợi
nhuận sau thuế so với vốn chủ sở hữu. Nói cách khác, nó cho biết cứ 100 đồng vốn chủ sở hữu
bỏ ra thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận. ROE càng cao càng tốt.
-
Doanh lợi tổng tài sản (ROA):
ROA =
Lợi nhuận sau thuế
Tổng tài sản
x 100 %
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tổng tài sản, cho biết tỷ lệ phần trăm của lợi
nhuận sau thuế so với tổng tài sản. Nói cách khác, nó cho biết cứ 100 đồng tài sản thì tạo ra
được bao nhiêu đồng lợi nhuận. ROA càng cao càng tốt.
- Doanh lợi doanh thu (ROS):
ROS =
Tốc độ tăng trưởng doanh thu:
x 100%
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tdt =
16
Doanh thu thuần cuối kỳ - Doanh thu thuần đầu kỳ
Doanh thu đầu kỳ
x 100%
Các chỉ tiêu này càng cao càng tốt.
1.2.2.3.Thẩm định phương án, dự án vay vốn.
1.2.2.3.1.Thẩm định phương án sản xuất kinh doanh
Phương án sản xuất kinh doanh là một tập hợp những đề xuất về nhu cầu vốn, cách thức
sử dụng vốn,kết quả tương xứng thu được trong một khoảng thời gian xác định được với hoạt
động cụ thể để sản xuất kinh doanh.
Một phương án sản xuất kinh doanh thường bao gồm các phần sau:
-Giới thiệu tổng quan về doanh nghiệp
-Mục tiêu của phương án sản xuất kinh doanh
-Thị trường tiêu thụ và các đối thủ cạnh tranh
-Hiệu quả kinh tế mà dự án mang lại
-Phương hướng và lợi ích mà dự án mang lại
-Kết luận
Trước cấp tín dụng cho khách hàng,Ngân hàng luôn phải xem xét kỹ PASXKD của
nhuận.
•
Khả năng tiêu thụ:căn cứ vào hợp đồng tiêu thụ thị trường truyền thống, kết quả
bán hàng, giá bán, phương thức thanh toán…để xác định hiệu quả kinh tế và khả năng
trả nợ.
-Khả năng vay trả, nguồn trả, hạn trả: trên cơ sở việc phân tích tính khả thi và hiệu quả
kinh tế của phương án vay vốn, xác định các nguồn thu từ phương án SXKD để hoàn trả nợ
vay.Trên cơ sở vòng quay vốn của doanh nghiệp, khả năng thu hồi vốn của phương án kinh
doanh xác định thời hạn trả nợ phù hợp.
1.2.2.3.2.Thẩm định dự án đầu tư.
*Khái niệm thẩm định dự án.
Dự án dù được chuẩn bị, phân tích kỹ lưỡng đến đâu vẫn thể hiện tính chủ quan của nhà
phân tích và lập dự án, những khiếm khuyết, lệch lạc tồn tại trong quá trình dự án là lẽ đương
nhiên.Để khẳng định được một cách chắc chắn hơn mức độ hợp lý và hiệu quả, tính khả thi
của dự án cũng như quyết định đầu tư thực hiện dự án,cần phải kiểm tra, xem xét dự án một
cách độc lập với quá trình chuẩn bị, soạn thảo dự án, hay nói cách khác cần thẩm định dự án.
Thẩm định dự án đầu tư là rà soát, kiểm tra lại một cách khoa học, khách quan và toàn
diện mọi nội dung của dự án và liên quan đến dự án nhằm khẳng định tính hiệu quả cũng như
tính khả thi của dự án trước khi quyết định đầu tư.Trong quá trình thẩm định dự án, nhiều khi
phải tính toán, phân tích lại dự án.
Đối với Ngân hàng Thương mại,thẩm định dự án đầu tư là rất cần thiết và có nhiều ý
nghĩa.Thẩm định dự án đầu tư sẽ giúp Ngân hàng có quyết định bỏ vốn đầu tư đúng đắn, có cơ
sở đảm bảo hiệu quả của vốn đầu tư, làm giảm rủi ro và có được những kinh nghiệm để thực
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
19
môi trường sinh thái, phương án xử lý chất thải,phòng chống cháy nổ, an toàn lao động, mức
độ đền bù giải phóng mặt bằng, kế hoạch tái định cư.
-Thẩm định phương án kiến trúc: Mức độ đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật, độ bền vững,
việc áp dụng quy chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn xây dựng.
Ngoài những nội dung trên, cần thẩm định phương diện tổ chức quản lý dự án, tư cách
pháp lý của chủ đầu tư.
b.Thẩm định kinh tế của dự án đầu tư
Thẩm định kinh tế là một nội dung quan trọng của thẩm định dự án nhằm đánh giá lại
hiệu quả của dự án trên giác độ toàn bộ nền kinh tế. Nội dung này thường được đặc biệt chú
trọng đối với các dự án được tài trợ bằng vốn của Nhà nước. Mặc dù vậy, thẩm định lợi ích và
chi phí hay thẩm định tài chính của dự án vẫn cần được đề cập.
Thẩm định kinh tế nhằm rà soát lại mục tiêu của dự án, tác động của dự án đến môi
trường và tới các nhóm đối tượng khác nhau trong xã hội, tính hợp lý và tối ưu của dự án, mức
độ ảnh hưởng ngân sách của dự án.
Trong thẩm đinh kinh tế của dự án,cần thẩm định việc xác định giá kinh tế của hàng hóa
và dịch vụ mà dự án mang lại thông qua điều chỉnh thị trường, tức là giá phản ánh được giá trị
thực sự của hàng hóa và dịch vụ. Trên cơ sở đó đánh giá những đóng góp của dự án đối với
nền kinh tế quốc dân.
Thông thường một đóng góp quan trọng của dự án cho nền kinh tế được xem xét thông
qua sự gia tăng thu nhập quốc dân. Đánh giá tác động của dự án tới sự gia tăng thu nhập quốc
dân được dựa trên các tiêu chuẩn hiệu quả như: giá trị hiện tại ròng, tỷ lệ nội hoàn, tỷ lệ lợi
ích, chi phí. Tuy nhiên trong phân tích cũng như trong thẩm định kinh tế của dự án theo các
tiêu chuẩn hiệu quả, đặc trưng quan trọng là phải xác định được lợi ích và chi phí kinh tế cũng
như cơ hội kinh tế.Ngoài việc đánh giá tác động trên, cần thiết đánh giá những tác động khác
hơn các hoạt động của chủ đầu tư và đánh giá được hiệu quả của đầu tư.
-Xác định nguồn vốn tài trợ cho dự án:
Đối với vốn tự có: Ngân hàng tiến hành phân tích tình hình tài chính và tình hình sản
xuất kinh doanh 3 năm gần nhất.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
21
Đối với vốn từ Ngân sách Nhà nước: Đây là nguồn vốn có tính an toàn cao.Cần thẩm
định nguồn này dựa vào những văn bản cam kết cấp vốn của cơ quan có thẩm quyền kèm theo
hồ sơ dự án và đơn xin vay vốn.
Đối với vốn từ các Ngân hàng khác: Xem xét khả năng cho vay của Ngân hàng khác
thông qua các văn bản cam kết ban đầu về số lượng, tiến độ bỏ vốn vào dự án của Ngân hàng
đó.
Vốn doanh nghiệp vay trực tiếp từ nước ngoài: Cần xem xét việc chấp hành các quy
định về vay vốn nước ngoài, các điều kiện vay vốn như lãi suất, thời hạn vay, phương thức và
kỹ thuật chuyển giao vốn.
-Xác định chi phí sử dụng vốn
Nguồn vốn của Doanh nghiệp bao gồm các chứng khoán nợ (ngắn hạn và dài hạn) và
vốn chủ sở hữu (vốn huy động bằng cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu tiên, lợi nhuận không
chia).Tỷ trọng của các nguồn đó trong tổng nguồn chính là cơ cấu vốn.Vốn là một yếu tố đầu
vào quan trọng, để sử dụng vốn, doanh nghiệp phải bỏ ra một chi phí nhất định gọi là chi phí
nợ vay và chi phí vốn chủ sở hữu.Chi phí sử dụng vốn có thể hiểu là chi phí cơ hội của việc sử
dụng vốn.
Nếu dự án đầu tư sử dụng nhiều nguồn vốn khác nhau để đầu tư, để xác định được hiệu
quả của hoạt động đầu tư thì cần phải xác định chi phí vốn bình quân của dự án.Công thức xác
định như sau:
n
CF0 +
CF
t
t1
Trong đó:
CF0 là vốn đầu tư bỏ ra ở năm thứ 0
CFt là dòng tiền của năm t
n là số năm hoạt động của dự án
NPV phản ánh giá trị tăng thêm cho chủ đầu tư.
NPV>0: Việc thực hiện dự án sẽ tạo ta giá trị tăng thêm cho chủ đầu tư, hay nói cách
khác, dự án không những bù đắp đủ vốn đầu tư bỏ ra mà còn tạo ra lợi nhuận, lợi nhuận này
được xem xét trên giá trị thời gian của tiền.
NPV
phải căn cứ vào công suất thiết kế và khả năng tiêu thụ sản phẩm của dự án.
BP không tính đến giá trị thời gian của tiền đối với chi phí cố định, chi phí biến đổi và nó
cũng không quan tâm đến khả năng tiều thụ sản phẩm sau khi thu hồi vốn đầu tư.
.Tỷ suất hoàn vốn nội bộ(IRR-Internal Rate of Return)
Tỷ suất hoàn vốn nội bộ là mức lãi suất nếu dùng để chiết khấu các dòng tiền của dự án
về hiện tại thì sẽ cho giá trị NPV=0.
IRR = K1 +
NPV1 (K2 - K1)
NPV1 NPV2
IRR phản ánh tỷ suất hoàn vốn của dự án trên giả định các dòng tiền thu được trong các
năm được tái đầu tư với lãi suất bằng lãi suất chiết khấu.Người ta dùng IRR để thẩm định và ra
quyết định đầu tư.Dự án được lựa chọn để đầu tư phải có IRR lớn hơn hoặc bằng lãi suất vay
vốn thông thường.Nếu IRR của dự án đầu tư nhỏ hơn lãi suất vay vốn thì chứng tỏ đầu tư sẽ bị
lỗ, gửi tiền vào Ngân hàng sẽ có lợi hơn.Tuy nhiên, việc giả định các dòng tiền tái đầu tư với
lãi suất tái chiết khấu là không thuyết phục, vì lãi suất chiết khấu sẽ thay đổi trong các năm,
thể hiện chi phí cơ hội của chủ đầu tư trong từng năm thay đổi.
.B/C(Benefit/Cost)
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
24
Tỷ số này được tính bằng tỷ số giá trị hiện tại của thu nhập và giá trị hiện tại của chi phí
của dự án.
Bi
Tính khấu hao tài sản cố định của dự án:có nhiều phương pháp tính khấu hao,
tuy nhiên phổ biến là phương pháp tinh khấu hao tuyến tính (đường thẳng)
P–R
D =
Trong đó:
n
D: mức khấu hao hàng năm
P: Nguyên giá TSCĐ
R: giá trị còn lại ước tính của tài sản khi hết thời gian sử dụng
n: Thời gian sử dụng của tài sản
Tính doanh thu, chi phí và lợi nhuận hàng năm của dự án
Xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế,chi phí hợp lý hợp lệ và
tính lợi nhuận ròng của dự án.
Thu nhập chịu =Doanh thu -Chi phí hợp lý +Thu nhập khác
thuế trong kỳ
trong kỳ
trong kỳ
là dòng tiền của dự án không thay đổi thì vẫn có thể rủi ro xảy ra do lãi suất chiết khấu thay
đổi.Vì vậy, để đánh giá rủi ro, người ta sử dụng các phương pháp sau:
+Phân tích độ nhạy(Sensitivity Analysis)
Phân tích về mặt lý thuyết cũng như trên thực tế cho thấy có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng
và tác động đến dòng tiền của dự án.Các yếu tố tác động đến dòng tiền được thiết lập trên cơ
sở của sự phân bố xác suất và tính kỳ vọng toán chư không phải biết chúng một cách chắc
chắn.Và như vậy khi một biến quan trọng như số lượng bán hàng thay đổi sẽ dẫn đến dòng tiền
thay đổi rất lớn và khi đó giá trị hiện tại ròng(NPV) và tỷ lệ hoàn vốn nội bộ(IRR) sẽ thay