Giải pháp tăng cường quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyệntiểu luận cao học - Pdf 50

Lời nói đầu
Thực hiện sự nghiệp đổi mới dưới sự lãnh đạo của đảng đất nước ta
chuyển từ nền kinh tế tập trung, bao cấp, kế hoạch hóa cao độ sang cơ chế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa. trong những năm qua kinh tế - xã hội có
nhiều phát triển, bên cạnh việc thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng, nhà nước cũng
đã đẩy nhanh tiến độ xây dựng luật trên các lĩnh vực để làm tốt công tác quản lý
kinh tế - xã hội.
Trong lĩnh vực ngân sách đến năm 1996 chúng ta mới xây dựng được luật
ngân sách nhà nước, tuy nhiên để phù hợp với thực tế năm 1998 quốc hội thông
qua luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật ngân sách nhà nước. và để quản lý
thống nhất nền tài chính quốc gia, nâng cao tính chủ động và trách nhiệm của
các cơ quan tổ chức, cá nhân trong việc quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước,
đáp ứng được yêu cầu thực tiễn; quốc hội khóa xi tại kỳ họp thứ ii ngày
16/12/2002 đã thông qua luật ngân sách nhà nước, thay thế luật ngân sách nhà
nước năm 1996 và luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật ngân sách nhà nước
năm 1998.
Trong các luật kể trên đều quy định ngân sách xã là một cấp trong hệ
thống ngân sách nhà nước. qua các năm thực hiện luật ngân sách nhà nước, công
tác quản lý tài chính ngân sách đã đạt được những kết quả nhất định, đóng góp
quan trọng vào công tác quản lý hoạt động kinh tế - xã hội của chính quyền cơ
sở xã, thị trấn.
Để thực hiện luật ngân sách nhà nước chính phủ, bộ tài chính đã ban hành
các văn bản dưới luật quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật ngân sách nhà
nước. chính quyền địa phương cũng ra các văn bản để làm rõ hơn nội dung của
luật. các văn bản đó đã tạo nên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn
công tác quản lý tài chính ngân sách các cấp trong đó có ngân sách xã.


Hệ thống văn bản ban hành đã xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của các
cơ quan liên quan trong công tác quản lý tài chính ngân sách xã, tạo cơ sở pháp
lý quan trọng để quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả các khoản thu, chi, các

- phân tích thực trạng quản lý ngân sách xã của huyện quan hóa qua các
năm 2001 - 2003.
- đề xuất một số giải pháp tăng cường quản lý ngân sách xã
3) phương pháp nghiên cứu chủ yếu: thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh.
4) kết cấu của đề tại gồm 3 chương:
chương i: những vấn đề cơ bản về quản lý ngân sách xã
chương ii: thực trạng công tác quản lý quản lý ngân sách xã ở quan
hóa - thanh hóa
chương iii: giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý ngân sách xã
ở quan hóa - thanh hóa trong thời gian tới.
kết luận

3


chương i
những vấn đề cơ bản về quản lý ngân sách xã
----------------------------------

1.1. khái niệm đặc điểm ngân sách xã:

1.1.1. ngân sách xã trong hệ thống ngân sách nhà nước
theo luật ngân sách nhà nước (2002) ngân sách nhà nước là toàn bộ các
khoản thu, chi của nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết
định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng,
nhiệm vụ của nhà nước.
luật ngân sách nhà nước đã được quốc hội thông qua ngày 16/12/2002 đã
ghi rõ: "ngân sách nhà nước gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa
phương. ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của các đơn vị hành chính
các cấp có hội đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân".

cấp xã quyết định, giám sát thực hiện. và như vậy từ khái niệm của ngân sách
nhà nước, ngân sách cấp xã được định nghĩa như sau: ngân sách xã là toàn bộ
các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối
và sử dụng quỹ tiền tệ của chính quyền cấp xã nhằm phục vụ cho việc thực hiện
các chức năng của nhà nước cấp cơ sở trong khuôn khổ được phân công quản lý.
ngân sách xã là một cấp ngân sách nằm trong hệ thống ngân sách nhà
nước, tuy nhiên do yêu cầu nhiệm vụ của từng cấp ngân sách khác nhau nên các
cấp ngân sách bên cạnh những đặc điểm chung còn có những đặc điểm riêng.
ngân sách xã có những đặc điểm cơ bản sau:
6


- ngân sách xã là một quỹ tập trung của cơ quan chính quyền nhà nước
cấp cơ sở hoạt động của quỹ này thể hiện trên hai phương diện:
+ huy động nguồn thu vào quỹ (gọi là thu ngân sách xã).
+ phân phối sử dụng nguồn vốn của quỹ (gọi là chi ngân sách xã).
- các hoạt động thu chi của ngân sách xã luôn gắn với chức năng, nhiệm
vụ của chính quyền xã theo luật định, đồng thời luôn chịu sự kiểm tra, giám sát
của cơ quan quyền lực nhà nước ở cấp xã. chính vì vậy các chỉ tiêu thu chi của
ngân sách xã luôn mang tính pháp lý.
- thông qua hoạt động của thu chi ngân sách xã là biểu hiện các quan hệ
lợi ích giữa một bên là lợi ích chung của cộng đồng các cơ sở mà chính quyền
xã là ngươì đại diện với một bên là lợi ích của các chủ thể kinh tế xã hội khác
(tổ chức hoặc cá nhân). các quan hệ này phát sinh trong cả quá trình thu và chi
ngân sách xã.
- các quan hệ thu chi ngân sách xã rất đa dạng và biểu hiện dưới nhiều
hình thức khác nhau, như các khoản thu chi này chỉ được thừa nhận khi được cơ
quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
- ngân sách xã vừa là một cấp trong hệ thống ngân sách nhà nước vừa là
một đơn vị dự toán. vì vậy ngân sách xã vừa thực hiện nhiệm vụ thu chi của

đảm bảo từ ngân sách nhà nước. ngân sách cấp xã là một bộ phận cấu thành nên
ngân sách nhà nước, do vậy nguồn lực vật chất để cung cấp cho bộ máy chính
quyền cấp xã phần lớn phải do ngân sách cấp cơ sở đảm nhận đó là ngân sách
cấp xã. để bảo đảm nguồn lực vật chất cung cấp cho toàn bộ các hoạt động kinh
tế - xã hội, an ninh - quốc phòng và đáp ứng các phúc lợi xã hội cho nhân dân,
ngân sách xã phải khai thác triệt để các nguồn thu tại xã theo luật định. đảm bảo
8


thu đúng, thu đủ, kịp thời đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho các công việc thuộc chức
năng nhiệm vụ theo quy định của luật ngân sách nhà nước như: chi lương, sinh
hoạt phí cho cán bộ xã, chi cho quản lý hành chính, mua sắm trang thiết bị văn
phòng, chi cho đầu tư phát triển.
1.1.3.2) ngân sách xã là công cụ quan trọng để chính quyền cấp xã thực hiện
quản lý toàn diện các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội ở địa phương.
với tư cách là cấp chính quyền cơ sở gắn liền với đời sống của nhân dân
và quản lý trực tiếp đối với nhân dân, và cũng là nơi triển khai và thực hiện các
chủ trương, chính sách pháp luật của nhà nước; do vậy chức năng và nhiệm vụ
của ngân sách xã là luôn phải đảm bảo việc thực thi pháp luật của cấp trên và
nghị quyết của hội đồng nhân dân, đồng thời bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp
của nhân dân trên địa bàn. trực tiếp liên hệ và giải quyết các công việc của nhân
dân và nhà nước trên mọi phương diện theo chính sách chế độ mà nhà nước quy
định. để giải quyết được các vấn đề trên có hiệu quả, chính quyền xã phải sử
dụng một trong những công cụ đặc biệt quan trọng đó là ngân sách xã. thông qua
hoạt động thu và các nguồn thu được tạo lập tập trung vào quỹ ngân sách xã,
đồng thời chính quyền cơ sở thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát, điều chỉnh các
hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và các hoạt động khác theo pháp luật
của nhà nước. việc kiểm soát thông qua ngân sách xã được thể hiện qua việc
phân loại các ngành nghề kinh doanh, các chủng loại hàng hóa... qua đó huy
động các nguồn đóng góp vào ngân sách, tận thu và nuôi dưỡng nguồn thu,

ngân sách xã đã được huy động và cùng với các khoản đóng góp của nhân dân
giải quyết tốt các vấn đề về cơ sở hạ tầng như: điện, đường, trường, trạm, nước
sạch, các công trình phục vụ cho sản xuất và đời sống của nhân dân. đến nay với
phương châm "nhà nước và nhân dân cùng làm" hầu hết các xã đã có trường học
kiên cố, cao tầng, trạm y tế khang trang sạch đẹp có đầy đủ các trang thiết bị
thiết yếu phục vụ cho khám và chữa bệnh. các công trình thuỷ lợi vừa và nhỏ đã
1
0


được xây dựng ở hầu hết các địa phương, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển,
tăng diện tích lúa nước, hạn chế đốt nương làm rẫy. các công trình nước sạch, vệ
sinh môi trường được quan tâm. việc chuyển đổi cơ cấu cây con,đưa các giống
có năng suất cao vào sản xuất, khôi phục và phát triển các làng nghề, các mặt
hàng truyền thống; đã từng bước xóa bỏ chế độ sản xuất tự cấp tự túc ở nông
thôn miền núi, khai thác các tiềm năng, phát huy lợi thế của từng vùng, từng
bước làm tăng tổng sản phẩm xã hội, thu nhập cho các hộ gia đình. qua đó ngân
sách xã đã tạo điều kiện để phát triển nông thôn miền núi theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa phù hợp với đặc điểm của địa phương và quy luật của
kinh tế thị trường.
chi ngân sách xã cho sự nghiệp giáo dục và sự nghiệp y tế đã từng bước
nâng cao trình độ dân trí, đảm bảo sức khỏe cho nhân dân, tạo nguồn lực cho lao
động xã hội.
ngân sách xã đã thể hiện là một công cụ tài chính quan trọng của nhà nước
trong việc thực hiện chính sách pháp luật của đảng và nhà nước, nâng cao hiệu
lực điều hành của chính quyền cơ sở. thực hiện xoá đói giảm nghèo, cải thiện bộ
mặt nông thôn, rút ngắn khoảng cách giữa nông thôn và thành thị , đảm bảo
phúc lợi xã hội cho các đối tượng chính sách và các đối tượng xã hội, góp phần
quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương nói riêng và cả nước
nói chung.

xã quản lý (không áp dụng đối với phường khoản thu huy động đóng góp để
đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng) và các khoản đóng góp tự nguyện khác.
+ viện trợ không hoàn lại của các tổ chức và cá nhân ở nước ngoài trực
tiếp cho ngân sách xã.
+ thu kết dư ngân sách xã năm trước.
+ các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.
- các khoản thu theo tỷ lệ phần trăm (%) với ngân sách cấp trên gồm :
1
2


+ thuế sử dụng đất nông nghiệp.
+ thuế chuyển quyền sử dụng đất (chỉ áp dụng cho xã, thị trấn)
+ thuế nhà đất (chỉ áp dụng cho xã, thị trấn)
+ tiền cấp quyền sử dụng đất (chỉ áp dụng đối với xã, thị trấn)
+ thuế tài nguyên
+ lệ phí trước bạ nhà đất
+ thuế tiêu thụ đặc biệt hàng hóa sản xuất trong nước thu vào các mặt
hàng bài lá, vàng mã, và các dịch vụ kinh doanh vũ trường, mát xa, karaoke,
kinh doanh chơi gôn.
+ các khoản thu phân chia khác tuỳ theo tình hình địa phương tỉnh có thể
phân chia cho xã các khoản thu phân chia mà trung ương để lại cho địa phương.
tỷ lệ phần trăm (%) phân chia cụ thể các nguồn thu cho ngân sách xã do
uỷ ban nhân dân tỉnh trình hội đồng nhân dân xem xét và quyết định, được ổn
định từ 3 đến 5 năm phù hợp với tình hình ngân sách địa phương. để giảm bớt
khối lượng nghiệp vụ, khuyến khích tăng thu, có thể giao chung cho các xã cùng
một tỷ lệ. việc phân chia nguồn thu và tỷ lệ phần trăm các nguồn thu cho ngân
sách cấp xã được tuân thủ theo nguyên tắc tạo chủ động cho chính quyền xã
trong việc cân đối ngân sách khai thác các nguồn thu tại xã.
- thu bổ sung từ ngân sách cấp trên:

chí minh, hội liên hiệp phụ nữ, hội nông dân, hội cựu chiến binh) . sau khi đã trừ
đi các khoản thu theo điều lệ và các khoản thu khác (nếu có).

1
4


- đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho cán bộ và các đối tượng khác
theo chế độ hiện hành.
- công tác dân quân, tự vệ, trật tự an toàn xã hội.
+ huấn luyện dân quân tự vệ, các khoản phụ cấp huy động dân quân tự vệ
và các khoản chi khác về dân quân tự vệ thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách xã,
phường, thị trấn theo quy định của pháp lệnh về dân quân tự vệ ;
+ đăng ký nghĩa vụ quân sự, tiễn đưa thanh niên đi nghĩa vụ quân sự.
+ tuyên truyền, vận động và tổ chức phong trào bảo vệ an ninh, trật tự an
toàn xã hội trên địa bàn.
+ các khoản chi khác:
- công tác xã hội và hoạt động văn hóa, thông tin, thể dục thể thao do xã,
phường, thị trấn quản lý .
+ trợ cấp hàng tháng cho cán bộ nghỉ việc theo chế độ hiện hành, chi thăm
hỏi các gia đình chính sách, cứu tế xã hội và công tác xã hội khác do xã,
phường, thị trấn quản lý.
+ hoạt động văn hóa, thông tin, thể dục thể thao, truyền thanh do xã,
phường, thị trấn tổ chức quản lý.
- hỗ trợ các lớp bổ túc văn hóa, trợ cấp nhà trẻ, lớp mẫu giáo, kể cả trợ cấp
cho giáo viên mẫu giáo và cô nuôi dạy trẻ do xã, thị trấn quản lý (đối với
phướng do ngân sách cấp trên chi).
- sự nghiệp y tế:
+ mua sắm trang bị hoặc đồ dùng chuyên môn phục vụ khám chữa bệnh.
- phòng bệnh và sự nghiệp y tế khác

vụ của chính quyền cấp xã , đồng thời góp phần xây dựng nông thôn phát triển.
- dự toán phải lập theo đúng mục lục ngân sách và biểu mẫu quy định của
cơ quan tài chính.
1
6


* căn cứ lập dự toán:
- căn cứ vào các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của địa phương.
- căn cứ các chính sách , chế độ thu ngân sách nhà nước, cơ chế phân cấp
nguồn thu, nhiệm vụ chi ngân sách và tỷ lệ phân chia nguồn thu do hội đồng
nhân dân tỉnh quy định.
- căn cứ các chế độ, tiêu chuẩn định mức chi ngân sách do chính phủ, bộ
tài chính và hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định.
- căn cứ số kiểm tra về dự toán ngân sách xã do uỷ ban nhân dân huyện
thông báo.
- căn cứ tình hình thực hiện dự toán ngân sách xã năm hiện hành và các
năm trước.
* trình tự lập dự toán ngân sách xã:
- đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch ngân sách xã 6 tháng đầu năm và
dự kiến khả năng ngân sách cả năm.
- các bộ phận thuộc uỷ ban nhân dân xã, tổ chức đảng và đoàn thể căn cứ
vào chức năng nhiệm vụ được giao và chế độ, định mức, tiêu chuẩn, lập dự toán
nhu cầu chi ngân sách.
- ban tài chính xã phối hợp với đội thuế xã (nếu có) tính toán các khoản
thu ngân sách nhà nước trên địa bàn.
- ban tài chính xã tính toán, cân đối, lập dự toán thu - chi ngân sách xã
trình uỷ ban nhân dân xã báo cáo chủ tịch và phó chủ tịch hội đồng nhân dân xã
để xem xét trước khi gửi uỷ ban nhân dân huyện và phòng tài chính huyện.
- căn cứ vào quyết định giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách của huyện, uỷ


1
8


cân đối ngân sách huyện thông báo và cấp bổ sung ngân sách hàng quý cho xã
chủ động điều hành ngân sách.
* quản lý quá trình chi:
- nguyên tắc chi:
+ việc thực hiện chi phải đảm bảo điều kiện: đã được ghi trong dự toán,
đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức qui định, được chủ tịch uỷ ban nhân dân xã
hoặc người được uỷ quyền chuẩn chi.
+ cấp phát ngân sách xã chỉ dùng hình thức lệnh chi tiền. trường hợp
thanh toán bằng tiền mặt phải kèm theo giấy đề nghị rút tiền mặt, kho bạc nhà
nước kiểm tra, đủ điều kiện thì thực hiện thanh toán.
+ trong trường hợp thật cần thiết như tạm ứng công tác phí, ứng tiền trước
cho khách hàng, cho nhà thầu theo hợp đồng, chuẩn bị hôi nghị, tiếp khách,
mua sắm nhỏ... được tạm ứng ngân sách để chi; khi có đủ chứng từ hợp lệ ban
tài chình xã phải lập bảng kê chứng từ chi và giấy đề nghị thanh toán tạm ứng
gửi kho bạc nhà nước nơi giao dịch làm thủ tục chuyển tạm ứng sang thực chi ngân sách.
+ các khoản thanh toán từ ngân sách qua kho bạc nhà nước cho các đối
tượng có tài khoản giao dịch ở kho bạc nhà nước hoặc ở ngân hàng phải được
thực hiện bằng hình thức chuyển khoản.
+ đối với các khoản chi từ các nguồn thu được giữ lại tại xã, ban tài chính
xã phối hợp với kho bạc nhà nước định kỳ kiểm tra, làm thủ tục ghi thu - ghi chi
để quản lý qua ngân sách xã .
- đối với chi thường xuyên:
+ ưu tiên trả sinh hoạt phí, các khoản phụ cấp cho cán bộ xã, không để nợ
sinh hoạt phí và các khoản phụ cấp.


2
0


- báo cáo quyết toán được phê duyệt lập thành 5 bản để gửi hội đồng nhân
dân xã, uỷ ban nhân dân xã, phòng tài chính huyện, lưu ban tài chính xã và
thông báo công khai nơi công cộng cho nhân dân trong xã biết.
- phòng tài chính huyện có trách nhiệm kiểm tra báo cáo quyết toán thu chi ngân sách xã, trường hợp có sai sót phải báo cáo uỷ ban nhân dân huyện yêu
cầu hội đồng nhân dân xã điều chỉnh.

chương ii
thực trạng công tác quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện quan
hóa - thanh hóa
2.1. đặc điểm tự nhiên, về kinh tế - xã hội của quan hóa - thanh hóa

2.1.1. đặc điểm tự nhiên
quan hóa là huyện miền núi cao cách trung tâm tỉnh 134 km, theo quốc lộ
47 và quốc lộ 15a. huyện quan hóa bắc giáp tỉnh sơn la và hòa bình, đông giáp
huyện bá thước, nam giáp huyện quan sơn, tây giáp huyện mường lát và nước
bạn lào.
2
1


trước năm 1997 quan hóa có diện tích tự nhiên 2.800 km 2, toàn huyện có
33 xã và 1 thị trấn, dân số gần 140.000 người.
do địa hình quá rộng, dân cư thưa thớt, giao thông đi lại khó khăn; từ hồi
xuân đi na mèo dài trên 100 km, hồi xuân đi mường chanh dài 140 km. hồi xuân
đi trung sơn 54 km (có đoạn phải đi qua xã mai hịch của huyện mai châu - hòa
bình). thị trấn quan hóa là nơi hợp lưu của 3 con sông: sông lò, sông luồng và

ghềnh thác, việc vận chuyển khó khăn nên đời sống của một bộ phận nhân dân
còn bấp bênh. từ năm 2001 trở lại đây được sự quan tâm của đảng và nhà nước
cho xây dựng và nâng cấp các tuyến đường chính nên đã tạo thuận lợi hơn cho
việc đi lại và phục vụ sản xuất, đời sống của nhân dân. tuy nhiên đến nay vẫn
còn 2 xã chưa có đường ô tô đến trung tâm, và nhiều xã nằm xa đường quốc lộ
đường xá đi lại chủ yếu là đường mòn.
2.1.2. điều kiện kinh tế:
là một huyện miền núi cao đã bao đời nay nhân dân chỉ quen với sản xuất
tự cấp tự túc, đời sống của đại bộ phận nhân dân chủ yếu dựa vào rừng và sản
xuất lâm nghiệp, diện tích lúa nước ít nên nhân dân phải đốt nương làm rẫy để
bảo đảm lương thực nhưng nhiều năm vẫn thiếu đói vào lúc giáp hạt.
trong những năm gần đây thực hiện công cuộc đổi mới mà đảng đề
xướng, huyện uỷ, hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân đã có nhiều nghị quyết,
quyết định nhằm tạo những chuyển biến tích cực về kinh tế và xã hội của huyện
nhà. thực hiện các nghị quyết về chuyển đổi giống cây con, áp dụng các tiến bộ
khoa học kỹ thuật vào sản xuất; nghị quyết về xây dựng nông thôn đổi mới theo
hướng hiện đại hóa, công nghiệp hóa; nghị quyết về việc xây dựng cơ sở hạ tầng
nông thôn miền núi; và được sự trợ giúp của nhiều chương trình, dự án đặc biệt
là chương trình 135 cơ cấu kinh tế của huyện đã chuyển biến tích cực, đời sống
của đại bộ phận nhân dân đã được nâng lên.
2
3


sản xuất lâm nghiệp: xuất phát từ điều kiện tự nhiên đồi núi nhiều, thổ
nhưỡng khí hậu phù hợp cho các câylâm nghiệp phát triển; huyện đã xác định cơ
cấu kinh tế là lâm - nông - công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ trong
đó lâm nghiệp là mũi nhọn. với diện tích đất lâm nghiệp 70.188,12 ha trong đó
có một số diện tích nằm trong khu bảo tồn thiên nhiên pù hu và khu bảo tồn
thiên nhiên pù luông; rừng quan hóa mức độ đa dạng sinh học rất phong phú có

2003 giảm 202 ha so với năm 1999 nhưng sản lượng lương thực lại tăng 1.754
tấn (so với năm 1999). tuy nhiên tổng sản klượng lương thực mới đạt 8.598 tấn
bình quân lương thực đầu người là 202 kg/người/năm. để bù vào việc thiếu hụt
lương thực nhân dân đã tích cực trồng các câylương thực khác như sắn (dùng
cho chăn nuôi và nguyên liệu cho nhà máy chế biến tinh bột sắn), đậu tương,
các loại rau màu khác. tuy nhiên do thế mạnh của huyện là lâm nghiệp do đó
nhân dân tăng cường sản xuất trên đất lâm nghiệp để lấy thu nhập bù vào phần
lương thực thiếu để phát triển kinh tế. điều này phù hợp với chủ trương của
huyện là không nâng cao sản lượng lương thực bằng mọi giá vì vậy sẽ dẫn tới
phá rừng.
* chăn nuôi: do điều kiện đất đai rộng có điều kiện cho việc phát triển
chăn nuôi đặc biệt là chăn nuôi trâu, bò, dê. toàn huyện hiện nay có 14.828 con
trâu bò và hàng ngàn con dê. chăn nuôi đóng góp một vai trò quan trọng trong
thu nhập và cải tạo bữa ăn cho các gia đình. tuy nhiên do chưa quy hoạch được
vùng sản xuất giữa chăn nuôi và trồng trọt nên việc phát triển chăn nuôi ảnh
hưởng đến sản xuất lâm nghiệp của các hộ gia đình.
* sản xuất tiểu thủ công nghiệp: là một huyện miền núi hơn 90% dân số là
người dân tộc thái, bà con vốn có nghề dệt thổ cẩm truyền thống, hiện đã và
đang có quy hoạch để khôi phục các làng nghề dệt thổ cẩm phục vụ cho sản xuất
hàng hóa và du lịch. bên cạnh đó trên địa bàn cũng có nhiều hộ gia đình sản xuất
vật liệu xây dựng như: gạch, ngói, đá, cát, sỏi và một số hộ sản xuất các đồ dùng
cầm tay phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.
2
5



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status