MỞ ĐẦU
Ngày nay, cải cách hành chính là vấn đề mang tính toàn cầu. Tất cả các
nước trên thế giới đều xem cải cách hành chính như một động lực mạnh mẽ
để thúc đẩy tăng trường kinh tế, phát triển dân chủ và các mặt khác của đời
sống xã hội.
Cải cách hành chính ở nước ta là một bộ phận quan trọng trong đường
lối đổi mới toàn diện của Ðảng và Nhà nước, là một trong những giải pháp ưu
tiên hàng đầu trong thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Cải cách
hành chính vừa là tiền đề vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Công cuộc cải cách hành chính ở nước ta đã được thực hiện từng bước thận
trọng và đã thu được nhiều kết quả rất đáng khích lệ. Cải cách hành chính
đang thể hiện rõ vai trò quan trọng của mình trong việc đẩy nhanh sự phát
triển đất nước. Việt Nam đang là nước có nhiều tiềm năng về xuất nhập khẩu,
đầu tư nước ngoài xu hướng chung là tăng, nhiều vấn đề xã hội đang được
giải quyết tốt… Tuy nhiên, Ở Việt Nam đang còn rất nhiều vấn đề kinh tế - xã
hội đã tồn tại từ lâu và mới nảy sinh cần phải được giải quyết tích cực và có
hiệu quả. Bên cạnh đó, bối cảnh toàn cầu hoá đang đặt ra những thách thức và
cơ hội mới đòi hỏi phải có những cố gắng cao độ. Điều đó cũng có nghĩa là
quá trình cải cách hành chính ở Việt Nam còn rất nhiều vấn đề đặt ra cần được
tiếp tục giải quyết. Cái khó trong cải cách hành chính Ở Việt Nam là phải tiến
hành một cuộc cải cách hành chính có tính chất cách mạng từ quản lý tập
trung quan liêu, bao cấp sang quản lý trong điều kiện kinh tế thị trường và mở
rộng dân chủ. Điều này chưa từng có tiền lệ. Vì vậy, trong thời kỳ hội nhập
quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay, Đảng và Nhà nước ta càng chú trọng,
quan tâm hơn nữa đến việc lãnh đạo, chỉ đạo cải cách nền hành chính nhà
nước, nhằm xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, chuyên
nghiệp, hiện đại; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành các lĩnh vực
trong đời sống xã hội và thực thi quyền lực của nhân dân.
2
Thể chế về mối quan hệ giữa Nhà nước với dân đã được đổi mới một
bước bằng việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, việc lấy ý kiến rộng rãi của
nhân dân trước khi quyết định các chủ trương, chính sách quan trọng, đề cao
vai trò giám sát trực tiếp của nhân dân và thông qua các tổ chức đại diện và
nhất là việc triển khai rộng rãi cơ chế “một cửa” gắn với việc đơn giản hóa các
thủ tục hành chính ở các cơ quan hành chính có liên quan trực tiếp với dân.
Trong cải cách thể chế hành chính, đã đổi mới một bước quy trình xây
dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi trách nhiệm của
Chính phủ, góp phần tích cực vào việc bổ sung hoàn thiện hệ thống thể chế,
từng bước tạo môi trường, hành lang pháp lý đồng bộ, thuận lợi cho các hoạt
động kinh tế - xã hội của đất nước trong điều kiện mới.
Hệ thống thủ tục hành chính từng bước được cải cách theo hướng đơn
giản hoá, công khai hoá, nâng cao hiệu quả giải quyết công việc của các cơ
quan công quyền nhà nước trong quan hệ với nhân dân và doanh nghiệp. Thủ
tục hành chính được cải cách theo hướng "một cửa"; mẫu hóa các văn bản
hành chính, giấy tờ; công khai các thủ tục hành chính; sử dụng công nghệ
thông tin trong việc thực hiện các thủ tục hành chính… Chính việc cải cách
thủ tục hành chính này đã góp phần hạn chế sự sách nhiễu, phiền hà, tham
nhũng của các công chức hành chính trong khi giải quyết các công việc của
công dân. Thủ tục hành chính ở các lĩnh vực đã được cải cách theo hướng đơn
giản hoá, tạo thuận lợi cho nhân dân và doanh nghiệp như : lĩnh vực đất đai,
lĩnh vực xây dựng, lĩnh vực hộ tịch, hộ khẩu, đầu tư… Điều này đã tạo lập
được niềm tin của nhân dân và doanh nghiệp vào các cơ quan hành chính nhà
nước. Chính quyền địa phương các cấp đã triển khai công tác rà soát các thủ
tục hành chính gắn với việc thực hiện cơ chế “ một cửa”. Kết quả rõ nhất
trong việc triển khai cơ chế “một cửa” là công khai hoá, minh bạch hoá các
quyết định về thủ tục hành chính nâng cao trách nhiệm của cán bộ, công chức
4
5
hành chính, viên chức sự nghiệp, cán bộ giữ chức vụ lãnh đạo trong doanh
nghiệp nhà nước, cán bộ chuyên trách và công chức cấp xã. Trên cơ sở đó đã
xác định cụ thể hơn những yêu cầu, tiêu chuẩn cơ chế quản lý và chế độ đãi
ngộ phù hợp với từng loại đối tượng cán bộ, công chức. Công tác đào tào, bồi
dưỡng cán bộ, công chức đã được đẩy mạnh đáng kể. Đã đổi mới chế độ tuyển
dụng cán bộ, công chức từ xét tuyển sang thi tuyển đối với công chức hành
chính, còn viên chức sự nghiệp thì áp dụng cả hai hình thức thi hoặc xét tuyển
theo chế độ hợp đồng. Chính sách tiền lương, chế độ đãi ngộ, chế độ bảo hiểm
xã hội đã phần nào góp phần ổn định cuộc sống cho cán bộ, công chức.
Lĩnh vực tài chính công được quản lý chặt chẽ hơn, công tác khoán
biên chế và kinh phí bước đầu đã thu được những kết quả nhất định, công tác
xã hội hoá giáo dục và y tế được đẩy mạnh, góp phần giảm chi phí cho ngân
sách nhà nước và nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục và y tế. Đã đổi mới
đáng kể về cơ chế phân cấp quản lý tài chính ngân sách, phân biệt hai cấp
ngân sách là ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương, tăng thẩm
quyền của hội đồng nhân dân cấp tỉnh trong quyết định ngân sách và phân bổ
ngân sách địa phương hàng năm. Bước đầu thực hiện nguyên tắc công khai tài
chính, sử dụng ngân sách ở các cấp hành chính, các cơ quan đơn vị thụ hưởng
ngân sách nhà nước. Thực hiện thí điểm và đang nhân rộng dần cơ chế khoán
biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan hành chính và cơ
chế tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp.
Như vậy, việc cải cách hành chính ở nước ta trong những năm qua theo
hướng làm cho bộ máy hành chính hoàn bị hơn, hoạt động có hiệu quả hơn,
phục vụ nhân dân ngày một đúng pháp luật, tốt hơn và tiết kiệm nhất, dần
từng bước chuyển nền hành chính từ cơ quan cai quản thành các cơ quan phục
vụ dân. Những cải cách trên đây đã góp phần tạo ra tăng trưởng kinh tế mạnh
mẽ trong thời gian qua, đồng thời góp phần vào thực hiện xây dựng và hoàn
của người đứng đầu một số cơ quan hành chính nhà nước chưa cao. Chưa có
chuyển biến thực sự về chất trong quan hệ giữa Nhà nước với công dân.
7
Cơ cấu bộ máy hành chính nhà nước vẫn đang còn cồng kềnh, nhiều
tầng cấp trung gian, nhiều đầu mối như hiện nay tất yếu dẫn đến tình trạng
chồng chéo, trùng lắp về chức năng, thẩm quyền và sức ỳ, sự trì trệ, quan liêu
của bộ máy là không thể tránh khỏi. Việc phân cấp Trung ương - địa phương
rất chậm chạp. Cho đến nay, các bộ, ngành vẫn đang nắm giữ nhiều việc cụ
thể của chính quyền địa phương làm hạn chế tính chủ động, sáng tạo của địa
phương.Việc điều chỉnh, đổi mới chức năng, nhiệm vụ của cả bộ máy hành
chính nhà nước cũng như của từng cấp, từng cơ quan hành chính còn rất
chậm, chưa phù hợp với yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, chưa phù hợp với thông lệ chung của thế giới trong bối cảnh
toàn cầu hóa. Hiện nay bộ máy hành chính Nhà nước, từ Chính phủ đến chính
quyền địa phương còn ôm đồm quá nhiều việc thuộc lĩnh vực quản lý sản
xuất, kinh doanh và hoạt động sự nghiệp dịch vụ, chưa tập trung vào thực
hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước. Phương thức quản lý điều hành
của bộ máy hành chính các cấp còn biểu hiện quan liêu, phân tán, nhiều hạn
chế, chậm được thay đổi. Việc tinh giảm biên chế trong bộ máy hành chính
nhà nước chưa đạt yêu cầu, vừa không đảm bảo chỉ tiêu giảm biên chế theo
tinh thần cải cách hành chính, vừa chưa thay thế được một bộ phận công chức
yếu kém về năng lực, không đảm đương được nhiệm vụ, đang nằm trong bộ
máy hành chính.
Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức còn nhiều mặt chưa đáp ứng
được yêu cầu đổi mới, phát triển đất nước. Các thể chế về quản lý cán bộ,
công chức, tuy có nhiều sửa đổi, bổ sung song vẫn chưa có sự đổi mới cơ bản,
mạnh mẽ mang tính cải cách, từ việc tuyển dụng, sử dụng, bổ nhiệm, bãi
miễn, đến đào tạo bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật, chính sách đãi ngộ. Công
trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn rất hạn chế, điều
đó cũng ảnh hưởng nhất định đến kết quả cải cách ở các lĩnh vực, trong đó có
cải cách hành chính. Nhận thức chưa đầy đủ về vị trí, tính chất, yêu cầu của
cải cách hành chính. Còn thiếu những kiến thức và kinh nghiệm cần thiết
9
trong cải cách hành chính; công tác nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn
về các vấn đề cơ bản có liên quan đến phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa trong xu thế toàn cầu hóa; đến xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân chưa được làm rõ. Điều
đó đã gây nên sự lúng túng, chắp vá, hạn chế trong việc đưa ra mô hình,
hoạch định thể chế; đội ngũ công chức hành chính còn những hạn chế về trình
độ, năng lực, phẩm chất dạo đức, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế công
tác; thực hiện cải cách hành chính chưa gắn liền, gắn chặt, chưa đồng bộ với
cải cách lập pháp, cải cách tư pháp và đổi mới phương thức lãnh đạo của
Đảng đối với Nhà nước…
Trước yêu cầu phát triển sâu hơn của nền kinh tế thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, yêu cầu hội nhập mạnh mẽ và toàn diện, công cuộc
cải cách hành chính đang đứng trước những thách thức vô cùng to lớn. Để
vượt qua những thách thức này, vấn đề cải cách hành chính trong giai đoạn
mới cần phải có những thay đổi hết sức sâu sắc cả về phương thức lãnh đạo
của Đảng đối với Nhà nước, của bản thân hệ thống thể chế hành chính, của cơ
cấu hệ thống tổ chức hành chính, đội ngũ công chức hành chính...
2. Giải pháp thực hiện đẩy mạnh cải cách hành chính ở nước ta hiện nay
2.1. Mục tiêu chương trình cải cách hành chính ở nước ta hiện nay
Xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên
nghiệp, hiện đại hóa, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Đẩy mạnh cải cách hành chính trong thời gian tới nhằm tiếp tục xây
đại, ứng dụng có hiệu quả thành tựu phát triển của khoa học - công nghệ, nhất
là công nghệ thông tin.
2.2. Những giải pháp cơ bản cải cách hành chính ở nước ta hiện nay
Để phù hợp với bối cảnh và tình hình mới, công cuộc đẩy mạnh cải
cách hành chính ở nước ta cần thực hiện tốt những giải pháp sau:
2.2.1. Về cải cách hệ thống thể chế hành chính
11
Có thể khẳng định cải cách thể chế hành chính là nội dung cốt lõi và
thực chất của cải cách hành chính ở nước ta hiện nay. Cải cách thể chế hành
chính có nghĩa là điều chỉnh mối quan hệ giữa cơ cấu hành chính với các cơ
cấu xã hội khác và đồng thời điều chỉnh tổ chức bộ máy hành chính để thích
ứng với những yêu cầu của tình hình mới. Nội dung cụ thể của cải cách thể
chế hành chính bao gồm từ điều chỉnh chức năng hệ thống hành chính, đổi
mới cơ cấu hệ thống hành chính, đến đổi mới cơ chế, phương thức hoạt động
của hệ thống hành chính. Nếu giải quyết tốt khâu cải cách thể chế thì những
nhiệm vụ cải tiến bộ máy, nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ, viên chức, lành
mạnh hóa tài chính công ... chắc chắn sẽ tiến hành thuận lợi. Ngược lại, nếu
không có cải cách thể chế thì những thay đổi về bộ máy, nhân sự, tài chính
cũng không có cơ sở để thực hiện.
Trong cải cách thể chế, cần ưu tiên nội dung hoàn thiện chế độ trách
nhiệm hành chính. Thể chế, pháp luật công chức - công vụ phải có hệ thống
quy định về trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm vật chất đối với những trường
hợp vi phạm pháp luật, gây thiệt hại cho xã hội và công dân. Cần phân biệt rõ
trách nhiệm của bộ máy hành chính, của cơ quan với trách nhiệm của cán bộ
công chức khi thực thi công vụ. Thiết lập chế độ trách nhiệm công vụ thuộc tổ
chức là nhằm đề cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ, công chức khi thực
hiện nhiệm vụ nhà nước, phục vụ lợi ích cộng đồng.
Cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế, trong đó chủ yếu
hành chính; bảo đảm tính khoa học của quy trình thực hiện các thủ tục hành
chính đã ban hành…
2.2.2. Về cải cách tổ chức và hoạt động bộ máy hành chính
Đây là giải pháp có ý nghĩa rất quan trọng làm cho tinh gọn bộ máy
hành chính và hoạt động có hiệu quả hơn. Cần chuyển đổi mạnh mẽ, cơ bản
vai trò, chức năng, nhiệm vụ của cả bộ máy hành chính nhà nước cũng như
của mỗi cơ quan hành chính để phù hợp hơn với yêu cầu quản lý nền kinh tế
thị trường và dân chủ hóa đời sống xã hội. Cần thực hiện nhất quán nguyên
13
tắc tổ chức bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực đối với tất cả các bộ để thay thế
hay loại bỏ mô hình bộ quản lý đơn ngành, đơn lĩnh vực trong cơ cấu tổ chức
của Chính phủ. Mặt khác, cần sắp xếp, hợp nhất một số cơ quan ngang bộ và
cơ quan thuộc Chính phủ để chuyển chức năng quản lý nhà nước của cơ quan
đó vào các bộ tương ứng. Coi đây như là nguyên tắc cần thống nhất để thu
gọn số lượng các bộ đến mức cần thiết và khắc phục được nhiều hơn các lĩnh
vực quản lý giao thoa, chồng lấn khó phân công, phối hợp do cơ cấu tổ chức
Chính phủ có nhiều bộ, ngành sinh ra.
Trước hết cần điều chỉnh vai trò và chức năng của Chính phủ. Đây là
vấn đề then chốt trong việc đổi mới thể chế quản lý hành chính nhà nước, vì
với sự thay đổi của chức năng Chính phủ, các vấn đề khác như cơ cấu bộ máy
hành chính, phương thức quản lý hành chính, cán bộ viên chức hành chính...
đều phải có sự thay đổi tương ứng, kể cả thực chất mối quan hệ công việc
giữa Nhà nước và doanh nghiệp, Nhà nước và thị trường, Nhà nước và xã hội,
Nhà nước và nhân dân. Với những yêu cầu của giai đoạn mới, chức năng của
Chính phủ cần được xác định chính xác, làm cơ sở cho việc hoàn chỉnh khung
cải cách hành chính. Thực hiện mạnh mẽ việc phân cấp giữa Chính phủ và các
cấp chính quyền địa phương. Phân cấp giữa Chính phủ và các cấp chính
quyền địa phương là một tất yếu khách quan nhằm thúc đẩy quá trình dân chủ
các cấp. Thực hiện từng bước hiện đại hoá nền hành chính. Đẩy mạnh hiện
đại hóa hành chính, áp dụng rộng rãi công nghệ thông tin vào hoạt động của
các cơ quan hành chính, xây dựng, vận hành Chính phủ điện tử.
2.2.3. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức
Đây là giải pháp cũng là một nhiệm vụ và thách thức lớn, bởi vì công
chức được coi là cái gốc quan trọng để thực hiện được các mục tiêu quốc gia
đã đề ra. Xây dựng và phát triển năng lực của đội ngũ công chức cần quan
tâm đến những vấn đề cơ bản sau đây: Xây dựng và phát huy năng lực của đội
ngũ công chức hành chính Nhà nước thực chất là thực hiện chiến lược phát
triển nguồn nhân lực của quốc gia một cách cụ thể nhằm tạo ra đội ngũ công
15
chức vừa phải làm việc trên các lĩnh vực theo các nguyên tắc của thị trường,
vừa phải biết quyết định các vấn đề trên cơ sở hệ thống quyền lực mà nhân
dân giao cho. Xây dựng đội ngũ công chức theo nguyên tắc chức nghiệp hay
chế độ việc làm đều nhằm đi đến kết quả cuối cùng là tạo ra được đội ngũ
công chức thực sự có năng lực, biết giải quyết các vấn đề được giao trên
nguyên tắc kết quả, hiệu quả và chất lượng. Do đó, phải quan tâm đến cả quá
trình làm việc của công chức từ khi họ được tuyển dụng làm công chức đến
khi họ nghỉ hưu.
Để duy trì được đội ngũ công chức có năng lực và trình độ chuyên môn
ngày càng được nâng cao, vấn đề đào tạo, bồi dưỡng công chức có ý nghĩa rất
quan trọng. Vì vậy, cần phải đổi mới cơ bản công tác đào tạo, bồi dưỡng công
chức nhà nước. Xây dựng một cơ chế tiền lương công chức hợp lý.
Cán bộ công chức phải gương mẫu chấp hành pháp luật, thực thi công
vụ một cách phi vụ lợi, đặt lợi ích của xã hội, của công dân lên trên hết. Cán
bộ, công chức, đặc biệt là những người có chức vụ, quyền hạn phải am hiểu
pháp luật và biết áp dụng pháp luật khi giải quyết công việc.
Đổi mới cơ chế quản lý, phương pháp đánh giá cán bộ, công chức, cơ
Trung ương; đồng thời phát huy tính chủ động, năng động, sáng tạo và trách
nhiệm của địa phương và các ngành trong việc điều hành tài chính và ngân sách.
Đổi mới cơ bản cơ chế tài chính đối với khu vực dịch vụ công. Thực
hiện thí điểm để áp dụng rộng rãi một số cơ chế tài chính mới như: Cho thuê
đơn vị, sự nghiệp công, cho thuê đất để xây dựng cơ sở nhà trường, bệnh
viện, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với cán bộ, công chức chuyển
từ các đơn vị công lập sang dân lập; cơ chế khuyến khích các nhà đầu tư trong
nước, nước ngoài đầu tư phát triển các cơ sở đào tạo dạy nghề, đại học, trên
đại học, khám chữa bệnh có chất lượng cao; thực hiện cơ chế khoán một số
loại dịch vụ công cộng như vệ sinh đô thị, cấp, thoát nước, cây xanh công
viên, nước phục vụ nông nghiệp; thực hiện cơ chế hợp đồng dịch vụ công
trong cơ quan hành chính...
17
Đổi mới công tác kiểm toán đối với các cơ quan hành chính, đơn vị sự
nghiệp nhằm nâng cao trách nhiệm và hiệu quả sử dụng kinh phí từ ngân sách
nhà nước, xoá bỏ tình trạng nhiều đầu mối thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, đối
với các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp. Thực hiện dân chủ, công khai,
minh bạch về tài chính công, tất cả chỉ tiêu tài chính được công bố công khai
trước dân để dân trực tiếp kiểm tra, việc sử dụng tài chính công phải được
nhân dân đánh giá kết quả quá trình sử dụng theo kế hoạch đã được công bố.
KẾT LUẬN
Cải cách hành chính ở nước ta là công việc mới mẻ, nó đòi hỏi vừa phải
tìm tòi vừa phải rút kinh nghiệm. Vì vậy, việc hình thành quan niệm và những
nguyên tắc cơ bản chỉ đạo công cuộc cải cách hành chính cũng như việc đề ra
những nội dung, phương hướng, chủ trương, giải pháp thực hiện trong từng
giai đoạn là một quá trình tìm tòi sáng tạo chứ không phải là một cái gì có sẵn
hoặc một lúc là hoàn thành.
Để thực hiện tốt việc đẩy mạnh cải cách hành chính, Đảng và Nhà nước