ĐẶT VẤN ĐỀ
Lý do chọn đề tài
Để hoạt động quản lý hành chính nhà nước có hiệu quả, quản lý hành
chính nhà nước cần được tiến hành dựa trên những nguyên tắc nhất định. Những
nguyên tắc này đóng vai trò làm nền tảng, là cơ sở để tổ chức thực hiện hoạt
động quản lý hành chính nhà nước. Trong đó nguyên tắc tập trung – dân chủ là
một trong những nguyên tắc cơ bản, bắt nguồn từ bản chất giai cấp của Nhà
nước ta. Thực tiễn đã chứng minh trong quá trình quản lý Nhà nước, quản lý xã
hội đòi hỏi phải có sự tập trung quyền lực. Có tập trung quyền lực mới điều
khiển được xã hội, mới thiết lập được một trật tự xã hội nhất định. Vì vậy, trong
xã hội có giai cấp, quyền lực nhà nước là chủ yếu, tập trung vào Nhà nước. Tập
trung và dân chủ là hai mặt của thể thống nhất hài hòa với nhau. Nếu thiên về
tập trung mà không chú trọng đến dân chủ sẽ dẫn đến tập trung quan liêu, độc
đoán trái với bản chất của Nhà nước ta. Ngược lại, nếu thiên về dân chủ mà coi
nhẹ tâp trung sẽ dân đến dân chủ quá trớn làm cho hoạt động của bộ máy nhà
nước kém hiệu quả.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu tìm hiểu để thấy được những ý nghĩa quan
trọng của nguyên tắc này góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý
hành chính nhà nước theo con đường xây dựng nhà nước “ pháp quyền xã hội
chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân”.
NỘI DUNG
I- Cơ sở pháp lý
Tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của
bộ máy nhà nước, được ghi nhận trong hiến pháp của tất cả các nước xã hội chủ
nghĩa hiện nay. Đồng thời nguyên tắc này cũng được ghi nhận qua các bản Hiến
pháp Việt Nam- luật cơ bản của nhà nước ta có hiệu lực pháp lí cao nhất: Điều 4
Hiến pháp 1959, Điều 6 Hiến pháp 1980 và Điều 6 Hiến pháp 1992 ( sửa đổi bổ
sung năm 2001) “…Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của Nhà
nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ”.
~ 1 ~
II- Nội dung cơ bản của nguyên tắc tập trung dân chủ
lập, bãi bỏ các cơ quan hành chính Nhà nước:
- Ở trung ương: Quốc hội thành lập Chính phủ và trao quyền hành pháp
cho Chính phủ. ( Điều 109 Hiến pháp 1992 : “Chính phủ là cơ quan chấp
hành của Quốc hội..”) Ví dụ: tại kỳ họp thứ nhất của mỗi khóa Quốc hội,
Quốc hội bỏ phiếu kín bầu Thủ tướng Chính phủ và phê chuẩn đề nghị
của Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm các thành viên khác của Chỉnh phủ.
- Ở địa phương: Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra
(điều 123 Hiến pháp 1992 : “ Ủy ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu
là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân…” ) và thực hiện hoạt động
quản lý hành chính Nhà nước ở địa phương.
- Các cơ quan khác trong hệ thống cơ quan hành chính đều do cơ quan
quyền lực nhà nước trực tiếp hoặc gián tiếp thành lập, bãi bỏ. Ví dụ : theo
Khoản 2 Điều 114 HP 1992 Thủ tướng có quyền hạn : “đề nghị Quốc hội
thành lập hay bãi bỏ các bộ, cơ quan ngang bộ…” .Như vậy, Quốc hội có
quyền thành lập, bãi bỏ các bộ, cơ quan ngang bộ theo đề nghị của Thủ
tướng Chính phủ.
+ Trong hoạt động, các cơ quan hành chính nhà nước luôn chịu sự chỉ đạo,
giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước và chịu trách nhiệm báo cáo hoạt động
của mình với cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp.
Ví dụ : theo Điều 109 HP92, Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo
cáo công tác với Quốc hội.
Theo Điều 123 HP92, Ủy ban nhân dân chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp,
luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng
nhân dân.
~ 3 ~
+ Bên cạnh đó, dân chủ được thể hiện trong việc cơ quan quyền lực Nhà nước
trao quyền chủ động, sáng tạo cho cơ quan hành chính Nhà nước trong việc cơ
quan này chỉ đạo thực hiện pháp luật và các văn bản khác của cơ quan quyền
lực.
Ví dụ : “..Chủ tịch Ủy ban nhân dân có quyền đình chỉ thi hành nghị quyết sai
c) Sự phân cấp quản lý
+ xác định quyền quyết định của trung ương đối với những lĩnh vực then chốt, ý
nghĩa chiến lược để đảm bảo sự phát triển cân đối hài hòa của toàn xã hội, sự
quản lý tập trung và thống nhất của nhà nước.
Ví dụ: Chính phủ có quyền quyết định các biện pháp cải tiến lề lối làm việc,
hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước còn Ủy ban nhân dân các cấp không có
quyền hạn này.
Theo Khoản 6 Điều 8 Luật tổ chức Chính phủ 2001, Chính phủ có nhiệm vụ và
quyền hạn: “ Củng cố và tăng cường nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân
dân; bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; xây dựng các lực lượng
vũ trang nhân dân; thi hành lệnh động viên, lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp và
mọi biện pháp cần thiết khác để bảo vệ đất nước;” – đây là những vấn đề quan
trọng của đất nước, mà chỉ có Chính phủ- cơ quan cao nhất trong bộ máy hành
chính của nước ta mới được Quốc hội trao cho quyền hạn này.
+ Phải mạnh dạn phân quyền cho địa phương, các đơn vị cơ sở để phát huy tính
chủ động sáng tạo trong quản lý.
Ví dụ: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có quyền “ xây dựng đề án thu phí, lệ phí, các
khoản đóng góp của nhân dân và mức huy động vốn…”
Ủy ban nhân dân cấp tình có quyền “ thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu phần
vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp và quyền đại diện chủ sở hữu về đất đai
tại địa phương…”
~ 5 ~