NỘI DUNG PHÊ PHÁN nền văn hóa THỤC dân, đế QUỐC TRONG một số tác PHẨM của hồ CHÍ MINH 1 - Pdf 50

Đề tài:
NỘI DUNG PHÊ PHÁN NỀN VĂN HÓA THỤC DÂN, ĐẾ QUỐC TRONG
MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA HỒ CHÍ MINH

Phần mở đầu:
Phần nội dung:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung
1.1 Khái niệm
1.2 Vài nét về hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
Chương 2: Hồ Chí Minh lên án những hiện tượng phi văn hoá của chủ nghĩa
thực dân
2.1 Lên án cách xử sự thiếu văn hoá của thực dân, đế quốc đối với nhân
dân các nước thuộc địa.
2.2 Phê phán những tệ nạn xã hội và mầm mống tội ác trong lòng các
nước tư bản phát triển.
Chương 3: Hồ Chí Minh vân dụng vào việc xây dựng nền văn hoá mới.
3.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền văn hoá dân tộc qua một số
tác phẩm tiêu biểu.
3.2 Vận dung tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền văn hoá mới trong
thời kỳ hiện nay.
Phần kết luận


PHẦN MỞ ĐẦU
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm và ra sức xây dựng một đát
nước Việt Nam giàu đẹp, văn minh sau khi đã giành được độc lập. Mục tiêu vì
con người suốt đời vì con người, phấn đấu hy sinh suốt đời vì hạnh phúc cho con
người là mục tiêu cao cả và xuyên suốt trong cả cuộc đời hoạt động của Người.
Công lao của Người đối với nhân ta như trời như biển. Từ lúc Người ra đời thì
đất nước và nhân dân ta đang chìm trong vòng nô lệ, hai tiếng Việt Nam thân yêu
không còn chỗ đứng trên bản đồ thế giới. Sự lầm than khổ cực bao trùm lấy cả

dân, đế quốc và từ đó là nền tảng để Hồ Chí Minh vận dụng vào việc xây dựng
nền văn hoá Việt Nam tránh những sai lầm đó thì chưa có tác giả nào đi sâu
nghiên cứu tiếp cận. Nhưng với yêu cầu của đề tài chỉ dừng lại là một tiểu luận
nên tác giả chỉ nghiên cứu những nội dung hết sức cơ bản trên những tác phẩm
tiêu biểu của Hồ Chí Minh. Với những yêu cầu đặt ra trên tác giả trình bài tiểu
luận với ba chương cơ bản:
- Chương 1 tác giả trình bài một số vấn đề lý luận chung của đề tài. Trong
đó nêu ra một số khái niệm có liên quan, nguồn gốc, quá trình hình thành tư
tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá.
- Chương 2 là chương nội dung cơ bản của đề tài. Chương này người viết
trình bày vấn đề Hồ Chí Minh lên án những chính sách cực kỳ phi văn hoá của
đế quốc, thực dân không chỉ ở các nước thuộc đại mà còn ngay cả ở chính quốc.
- Chương 3 tác giả trình bày một số nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí
Minh trong việc xây dựng nền văn hoá Việt Nam mới tránh những khuyết điểm
sai lầm ở các nước đế quốc, thực dân. Tác giả dành một phần để trình bày vấn
đề Đảng ta vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền văn hóa trong việc


xây dựng đất nước Việt Nam với nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
trong giai đoạn hiện nay.
Ngoài ba chương chính ra tiểu luận còn phần mở đầu, kết luận, danh mục tài
liệu tham khảo và một số hình ảnh minh họa.
Với phạm vi nghiên cứu là một tiểu luận hết học phần và thời gian nghiên
cứu cũng không nhiều nên nội dung đề tài tác giả nghiên cứu cũng chưa được
sâu sắc và toàn diện như mang muốn. Mặt khác, do mới tiếp cận môn khoa học
Tư tưởng Hồ Chí Minh nên tầm hiểu biết về tư tưởng Hồ Chí Minh của tác giả
chưa sâu do đó trong quá trình nghiên cứu cũng không thể tránh thiếu sót và sai
lầm. Rất mong thầy cô thông cảm giúp đỡ để em có được một cách nhìn bao quát
hơn về vấn đề và có thêm vốn kiến thức để phục vụ công tác sau này.




Khái niệm văn hoá của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng: Văn hoá là hiểu
biết để từng bước làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội, làm chủ bản thân. Trong
mọi điều hiểu biết xử thế đối với bản thân, gia đình, xã hội và thiên nhiên là
biểu hiện đẹp đẽ nhất của văn hoá và xử sự trong xã hội có áp bức, bóc lột đó là
làm cách mạng. Đây chính là biểu hiện gốc rễ ảnh hưởng, lan toả đến các hiểu
biết khác. Đó là biểu hiện rõ nét của nền văn minh.
Quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hoá:
Trước cách mạng tháng Tám: Năm 1943: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục
đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết,
đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho
sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những
sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là tổng hợp những phương
thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích
ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sinh tồn”.
Sau cách mạng tháng Tám năm 1945: Lúc này Hồ Chí Minh không có
một định nghĩa riêng về văn hoá như trước cách mạng tháng Tám nhưng qua
những bài nói, bài viết, phát biểu của Người về văn hoá chúng ta có thể hiểu
quan niệm về văn hoá của Hồ Chí Minh sau năm 1945: Người coi văn hoá là
lĩnh vực thuộc kiến trúc thượng tầng hay lĩnh vực thuộc về đời sống tinh thần
của xã hội. Bác coi văn hoá quan trọng với các lĩnh vực và có tác động trở lại
các yếu tố trên. Theo Người văn hoá là một kiến trúc thượng tầng, những cơ sở
hạ tầng của xã hội kiến thiết rồi mới được và đủ điều kiện phát triển được.
Đế quốc (chủ nghĩa)1: Chủ nghĩa tư bản lũng đoạn, giai đoạn tột cùng của
chủ nghĩa tư tư bản. Chủ nghĩa tư bản chuyển sang chủ nghĩa đế quốc trong thời
kỳ tiếp giáp giữa hai thế kỷ XIX và XX, khi sự thống trị kinh tế của tư bản lũng
đoạn và tư bản tài chính được bổ sung thêm bằng quyền lực chính trị tuyệt đối
1


Từ diển chính trị, NXB Thông tấn xã Nô- Vô- xti, Mat-xcơva 1983


Đông đã được Việt Nam hoá qua hàng ngàn năm lịch sử và nền văn hoá này lại
một lần nữa được sàng lọc và kết tinh lại như một bộ phận cấu thành trong tư
tưởng và sinh hoạt văn hoá của Hồ Chí Minh. Văn hoá Phương Đông mà nổi lên
nhất là văn hoá nho giáo, văn hoá Phật giáo, văn hoá đoạ giáo đã được sớm du
nhập vào Việt Nam. Những trào lưu văn hoá này của phương Đông khi vào Việt
Nam đã được cải biến cho thích hợp với hoàn cảnh kinh tế - xã hội, với tình cảm
hoài bão và lẽ sống của con người Việt Nam.
Nét đặc sắc và độc đáo của nền văn hoá Việt Nam là sự chắt lọc những tinh
tuý vh1 nhân loại. Đạo phật được du nhập vào Việt Nam từ những thế kỷ đầu của
Công nguyên, đã nhanh chóng lan rộng trong nhân dân. Và với truyền thống dân
tộc chứa sẵn lòng yêu thương sâu sắc, sự gắn bó đoàn kết giữa người với người
nên khi tiếp thu tư tưởng từ bi bác ái của nhà Phật thì lòng từ bi bác ái của nhân
dân Việt Nam đã được nâng cao thêm chứ không phải Phật giáo đem lại lòng từ
bi bác ái cho dân tộc Việt Nam. Chính truyền thống dân tộc có sẵn đã dễ dàng
hoà quyện với giáo lý nhà Phật và đã tạo nên một chủ nghĩa nhân đạo tích cực
mang màu sắc Việt Nam, một nhân tố bền vững trong nhân sinh quan Việt Nam.
Và Chủ tịch Hồ Chí Minh với tấm lòng thương yêu vô hạn đối với đồng bào,
nhân loại bị, suốt đời chiến đấu cho độc lập dân tộc của Tổ quốc, cho tự do và
hạnh phúc của con người và tư tưởng văn hoá của Người cũng không xuất phát
từ Phật giáo mà xu6át phát từ truyền thống dân tộc trong đó có chứa đựng những
nhân tố tích cực của Phật giáo đã được tiếp thu và sàng lọc kỹ càng.
Qua một thời gian rất dài, phật giáo là tôn giáo thống trị đời sống văn hoá
của cộng đồng người Việt Nam. Đến thời Lý, Trần trở đi, Nho giáo dần dần thay
thế cho Phật giáo trong thượng tầng kiến trúc của xã hội Việt Nam. Hồ Chí
Minh đã từng nhận xét “Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tuyên
truyền dưỡng đạo đức cá nhân”. Người đã tiếp thu và hiểu được tư tưởng Khổng
giáo là một sức mạnh to lớn trong đời sống văn hoá của một số nước Châu Á


như thời kỳ cách mạng tư sản Pháp: Dide rơt, Vot taire, Mon terqiuer,
Rousseau… và bộ mặt rực rỡ của văn hóa phương Tây đã ảnh hưởng sâu sắc đến
Người. Ở Châu Âu, nhất là Pháp, chủ nghĩa nhân văn được coi là đỉnh cao của
văn hoá phương Tây, nó ca ngợi và phát huy sức mạnh vô hạn của con người. Nó
chống lại mọi quan niệm và học thuyết hạ thấp con người. Nó lên án mọi quan
hệ áp bức, bóc lột, và đề xướng dân chủ, tự do, bình đẳng giữa người với người.
Khẩu hiệu tự do, bình đẳng, bác ái của cách mạng Pháp (1789) đã tấn công vào
chế độ phong kiến và Giáo hội. Và chẳng bao lâu thì nó chỉ còn tồn tại trên lý
thuyết. Không còn tự do mà chỉ còn là sự trói buộc nhân dân trong nước và áp
bức nhân dân thuộc địa. Không còn bình đẳng mà chỉ còn sự phân hóa sâu sắc
giữa người giàu và người nghèo, sự bất công trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị,
xã hội và văn hóa. Không còn bác ái mà chỉ còn đàn áp, chém giết và tranh cướp
diễn ra trên mọi miền của trái đất.
Trong quá trình tiếp thu các nền văn hoá phát triển, Hồ Chí Minh
phân biệt hai mặt tiến bộ và phản động trong xã hội tư sản và trong tư tưởng văn
hóa phương Tây. Nhìn nhận thấy sự tiêu vong tất yếu của xã hội đầy rẫy bất
công. Tuy nhiên, Người vẫn tin tưởng rằng, những giá trị văn hóa mà phương
Tây đã xây dựng được trước đây sẽ được hồi sinh mở đường cho sự ra đời một
nền văn hóa cao hơn: Nền văn hóa chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa xã hội.
Thực tế sự bất công trong xã hội tư bản và sự thất bại của các trào lưu tư
tưởng xã hội cũ càng làm cho ý chí và quyết tâm tìm con đường khai sáng dân
tộc của Hồ Chí Minh được nâng lên. Không phải là ngẫu nhiên mà là cả một quá
trình khảo sát, tìm tòi và tắm mình trong các hoạt động cách mạng trên nhiều
nước và nhiều Châu lục, Hồ Chí Minh đã bắt gặp chủ nghĩa Mác - Lênin và tìm
thấy ở đây lời giải đáp cho nhân loại và cho bản thân mình. Người đã tiếp thu
toàn bộ hệ thống tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin, trong có dòng tư tưởng văn
hóa của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin. Với phép biện chứng duy vật,



sợi chỉ đỏ xuyên suốt là quyền con người cần được tôn trọng và bảo vệ. Ngay từ
những bài viết đầu tiên như: Yêu sách 8 điểm của nhân dân An Nam, Động vật
học, Khai hóa giết người… Hồ Chí Minh đã dùng ngòi bút miêu tả đặc biệt sắc
sảo của mình để lên án tội ác dã man của chủ nghĩa đế quốc và đòi quyền con
người cho nhân dân các nước thuộc địa. Trong “Tuyên ngôn độc lập” năm 1945,
Hồ Chí Minh đã dựa vào Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776 và Tuyên ngôn
Nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791, để làm cơ sở cho luận
điểm của mình: : “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng - tạo hóa đã
cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy có
quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” và “Người ta sinh
ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về
quyền lợi”. Người tố cáo chế độ tư bản đã vi phạm quyền con người và đặc biệt
là chế độ thực dân đã thực sự chà đạp, hành hạ con người: “Dưới chiêu bài dân
chủ Pháp đã đem vào Việt Nam tất cả cái chế độ đáng nguyền rủa ấy…người
nông dân Việt Nam vừa hành hạ bằng lưỡi lê của văn minh tư bản chủ nghĩa, vừa
bằng cây Thánh giá đĩ bợm”. Chế độ thực dân Pháp đã xử sự một cách thiếu văn


hóa đối với toàn bộ hoạt động về tinh thần cũng như vật chất của nhân dân Đông
Dương. Hồ Chí Minh đã sử dụng câu thơ chữ Hán đả kích toàn quyền Xa - Rô,
một cách sâu cay:
“Gió âu yếm thổi chiều quạt phẩy,
Mưa nghĩa nhân đưa vết xe lăn”3
Trong một bài báo khác, Hồ Chí Minh nêu sự tàn bạo của thực dân
đối với một gia đình, những người phụ nữ Việt Nam có đoạn thật thê lương:
“Trên mãnh đất bằng phẳng trước kia là ruộng muối, ba cái xác chết nằm đó: em
bé bị lột truồng, thiếu phụ bị mổ bụng, cánh tay trái cứng đơ giơ lên trời vô tình,
bàn tay nắm chặt, còn xác ông cụ già thì ghê gớm làm sao, cũng trần truồng như
thế, nhưng bị thiêu cháy nên không nhận ra hình thù được nữa, mở thì lênh láng,
đã cháy ra, đã đọng lại và da bụng thì phồng lên, chín vàng, óng ánh, giống như

chính sách của bọn thực dân. Tất cả kiến thức về khoa học mang tính chất tiến bộ
đều bị ngăn cấm. Người ta cấm cả đọc các tác phẩm của Huygo, RutXô, Mông
tetxkiơ, cấm không được biết đến những cuộc cách mạng trong lịch sử nước
Pháp. Và kết quả là đào tạo ra những mẫu người nô lệ.
Kết hợp với việc ngăn cấm và hạn chế giáo dục phát triển, chúng
còn tìm cách kìm hãm moi hoạt động thông tin báo chí, đẩy người dân bản xứ
vào vòng tăm tối: Người đã viết: “Nền văn minh của thực dân Pháp đã dùng
ngọn đuốc cổ truyền thủ tiêu đến chút tự do cuối cùng của những người bản xứ.
Đã làm cho người bản xứ đần độn và câm, chúng cũng chưa vừa , chúng còn
muốn họ phải điếc nữa kia. Chúng bịt tai họ không cho nghe những biến cố bên
ngoài. Chỉ đơn giản là một nét bút, chúng đình chỉ hẳn đời sống tinh thần của
một dân tộc”5
Cái mà gọi là nền văn minh Pháp thực tế đã gây nên những thảm
họa tàn khốc. Ngòi bút của Nguyễn Ái Quốc đã luôn chú ý đến góc độ và tính
chất văn hóa của vấn đề. Thực dân Pháp đã tìm mọi cách tiến công và tìm cách
4
5

Hồ Chí Minh: văn hoá nghệ thuật cũng là một mặt trân, NXB Văn học, H1981, Tr.361
Đây là công lý của thực dân Pháp, Báo người cùng khổ


xoá bỏ như những nề nếp tốt đẹp của văn hóa truyền thống. Bọn thực dân Pháp
đã dùng chính sách chia để trị, gây mầm hận thù, chia rẽ trong dân tộc. Người
Pháp đến đã làm thay đổi cả truyền thống văn hóa của dân tộc, cuộc sống bần
cùng hóa làm cho việc học hành khó khăn, Pháp lại cố tâm hủy bỏ Hán học. Bác
đã phân tích hành động thiếu văn hóa này là vì: “ chúng biết rằng Hán học có thể
đưa vào Việt Nam những tư tưởng tiến bộ phương Tây thông qua Trung Quốc và
Nhật Bản”.
Thực tế khẳng định rằng dân tộc Việt Nam đã từ bao đời nay tạo nên nếp

một xác người da đen bị xô đẩy, đánh đập, giày xéo, xâu xé, chửi rủa, bị dá từ
góc này sang góc khác như một quả bóng đầm đìa máu me rồi chết… Trong khi
chờ châm lửa họ bẻ dần từng chiếc răng của người đó. Rồi móc mắt người đó.
từng mớ tóc xoăn bị đứt khỏi đầu lột theo từng miếng thịt vụn rơi khỏi cái thân
hình đã tìm bầm vì bị đánh đập. Người da đen không kêu được nữa. Lưỡi đã
sưng phồng lên vì một thanh sắt nung đỏ dí vào. toàn thân người ấy quằn quại
như một con rắn bị đánh đạp nửa mình đang sống dở, chết dở. Một nhát dao thế
là rụng một cái tai. Ái già. Nó mới đáng tởm làm sao. Thế là những nụ đàn bà
cào cấu cho nát mặt người đó ra…”. Thật là một bài viết miêu tả đến rùng rợn
chân
thực trò man rợ của xã hội Mỹ. Đây không chỉ là tội ác của một nhóm người mà
dường như đa trở thành một hiện tượng quá quên thuộc trong đời sống và báo chí
cũng tham gia vào công việc này. Kết hợp với những chất liệu và những hiện
tượng cụ thể với khả năng khái quát hóa nâng vấn đề lên một tầm vóc mới
thường là đặc điểm đặc sắc trong những bài nói, viết của Hồ Chí Minh. Và điều
nhất quán là Nguyễn Ái Quốc không miêu tả một tội ác cá biệt mà là một hành vi
man rợ chà đạp quyền sống của con người. Có thể nào gọi một xã hội để tội ác
lộng hành kiểu Linsơ là có văn hoá, là văn minh. Nguyễn Ái Quốc đã đưa ra


nhận xét: “ Hành hình kiểu Linsơ thật đáng chiếm một vị trí trong toàn bộ tội ác
của nền văn minh nước Mỹ”. Một nhận xét thật sâu sắc, thấu đáu và hết sức chân
thật từ những sự kiện đã xảy ra mà Người đã phân tích. Bài “Hành hình kiểu
Linsơ” là một tác phẩm mang quan điểm chính trị sắc sảo, luận cứ thuyết phục,
kiến thức văn hóa phong phú thể hiện tinh thần của một chiến sĩ cách mạng chân
chính của chủ nghĩa quốc tế vô sản và người bảo vệ nhân quyền tự do của tất cả
hững người bị áp bức dù họ có cư trú bất kỳ nơi đâu, nước nào. Vấn đề đặc biệt
nổi trội lên là tác phẩm đã thông qua một hiện tượng cụ thể nâng lên thành vấn
đề tội ác chống con người và cũng là tội ác ở một thời đại của bọn đế quốc.
Cũng bằng ngòi bút của mình, ngay từ những năm 1919 Nguyễn Ái

thảm sát đẫm máu…Nguyễn Ái Quốc đã chỉ mặt những kẻ đại diện cho “nước
mẹ”, cho “tự do”, cho “sự nghiệp khai hóa”, “truyền bá văn minh” cho dân An
Nam, nhưng rõ ràng dây lại là những hành vi ngược lại, Nguyễn Ái Quốc đã
vạch trần toàn bộ mặt của lũ phản động, vô liêm sĩ, bóc lột thuộc địa một cách
tàn ác. Sức tố cáo tác phẩm càng mạnh mẽ, khi mô tả những nỗi khổ nhục của
người dân bản xứ, nhất là phụ nữ. Dưới nanh là đám nô lệ thấp hèn và tính mạng
của họ “không đáng giá một đồng tiền”. Bị cướp đoạt, đốt phá, giết chóc, đánh
đập, hãm hiếp là chuyện hàng ngày xảy ra đối với nhân dân bản xứ ở khắp các
thuộc địa.
Có thể khẳng định rằng, trong suốt thời gian dài, từ lúc Nguyễn Ái
Quốc - Hồ Chí Minh bắt đầu nhận thức được tầm quan trọng của báo chí đối với
sự nghiệp cách mạng cũng là lúc tội ác dã man của bọn đế quốc, thực dân bắt
đầu được Người đưa ra trước đông đảo công chúng trên thế giới. Nguyễn Ái
Quốc có thể còn rất nhiều bài viết, nói lên án những hành động phi văn hóa của
đế quốc, thực dân, đặc biệt là thực dân Pháp đối với nhân dân thuộc địa. Tình
hình các nước ở Đông Dương trong đó có Việt Nam là nơi được Hồ Chí Minh rất


quan tâm. Những hành động thiếu tính của những người mang tiếng là đi “khai
hóa văn minh”, từ “mẫu quốc” đến các nước thuộc địa được Nguyễn Ái Quốc vẽ
lên bằng ngòi bút của mình và đây phải chăng cũng là cơ sở đáng chú ý mà trong
quá trình xây dựng nền văn hóa mới ở Việt Nam được Hồ Chí Minh đặc biệt
chú ý, xây dựng nền văn hóa mới phải đi đôi với chống những hiện tượng phi
văn hoá mà các xã hội khác đã mắc phải.
2.2 Phê phán những tệ nạn xã hội và mầm mống tội ác trong lòng các
nước tư bản phát triển.
Hồ Chí Minh với tư cách là một nhà hoạt động cách mạng rồi trở
thành lãnh tụ của dân tộc, Hồ Chí Minh đã có tầm mắt chiến lược để nắm được
những nhu cầu cơ bản và cấp thiết của quần chúng, thấy được khái quát tình hình
chung của cục diện thế giới. Bên cạnh lên án những tội ác dã man của đế quốc,

lượm lặt trong thùng gác mà sống. Họ phải tranh nhau với chó. Một mụ già moi
được một cái xương lợn, một con chó chạy lại tranh cái xương và căn tay mụ.
Mụ lẫm bẫm nói: “Thôi tao nhường cho mày, tao đi tìm thùng khác vậy”7.
Trong thời kỳ những năm 1951 - 1952, Hồ Chí Minh ngoài những bài viết
ca ngợi tinh thần đồng bào, chiến sĩ trong nước, cổ vũ, động viên đồng bào tiếp
tục đấu tranh chống đế quốc, thực dân, Bác còn có nhiều tác phẩm vạch trần sự
thật trong nền văn hóa Mỹ. người đã vẽ ra sự thật chân dung nước Mỹ cho đồng
bào trong nước và bè bạn thế giới thấy rõ: “Trông qua thì thấy Thủ đô Mỹ nhà
cửa sạch sẽ, đường xá thẳng thắng, hoa cỏ thơm tươi. Nhưng đó chỉ là bức màn
gấm phủ trên đống rác”8. Ở đây, để miêu tả có tính thuyết phục hơn nền “văn hóa
suy đồi”, “xã hội thối nát” của nước Mỹ lúc bấy giờ, Hồ Chí Minh đã dẫn lời của
6

Báo Nhân dân ngày 28 tháng 10 năm 1959 - TL
Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H.2000,T6,Tr.263
8
Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H.2000,T6, tr 324
7


chính các nhà báo nước họ: “Nếu đi sâu vào Thủ đô giữa những phố phường xa
hoa, ta thấy những chỗ ở bẩn thỉu không thể tả. Ta thấy những nhà thương thiếu
thốn đến nỗi thầy thuốc nhín người ốm mà khóc. Ta thấy ở nhà thương Galinghe,
vì không có thuốc mà thân thể thối nát dần đến chết” (Báo bạn của phụ nữ tháng
2 năm 1950). Người mượn ngòi bút của chính người nước Mỹ để vẽ lại “nền
văn hóa “ Mỹ - “văn hóa Mỹ ngày nay là văn hóa của bọn đại tư bản, bọn gây
chiến tranh, bọn giết người”. Hồ Chí Minh đã lên án cực độ nền văn hóa Mỹ, ở
đó các nhà văn, các nhà viết sách, viết sử… không được tự do dùng ngòi bút của
mình để “chiến đấu trên mặt trận văn hóa”; họ phải viết, phải nói, phải hát theo
sự bắt buộc của chính phủ và các chủ tư sản: “Những nhà văn hóa giáo dục bị

vì những sự thật đáng làm cho người ta kinh tởm đó. Phải chăng qua sự thật về
nền văn hóa các nước tư bản phát triển này, Hồ Chí Minh không chỉ vạch trần
bộ mặt xấu xa, phản động, lừa bịp dân chúng của đế quốc, thực dân mà qua đó
Người còn gởi gấm đến nhân dân, đến người đọc ý tưởng xây dựng một xã hội
tương lai “văn hóa “ như lúc bấy giờ.
Sự thật về xã hội đầy rẫy những tệ nạn trong lòng các nước tư bản phát
triển là không có gì cải chối được. Và cùng với sự thật đó, trong lòng nó theo Hồ
Chí Minh phân tích và phản ánh còn có những mầm mống của tội ác. Riêng chỉ
có việc phân hóa giàu nghèo một cách tột đỉnh trong lòng xã hội, những quyền
con người không được đảm bảo: quyền ăn, mặc, đi lại, tự do ngôn luận… thì xã
hội tư bản đã vi phạm những tội ác cao độ đối với con người không chỉ ở các
nước thuộc địa mà cả ngay đối với nhân dân chính quốc của họ. Với chính sách
xâm lược của mình, riêng đối với Mỹ hàng tháng đã cung cấp cho các chiến
trường một lượng xương máu của nhân dân nước mình và lực lượng đồng minh
thật khủng khiếp: Chỉ trong tháng 6/1951, Mỹ đã công nhận rằng, Mỹ, bù nhìn,
Anh, Xiêm và mười mấy nước lâu la, Mỹ đã mất ở Triều Tiên hơn 50 vạn binh sĩ
chết và bị thương. Người đã đưa ra con số cụ thể: Bộ trưởng quốc phòng Mỹ tên
là Mácsan nói: “Mỗi tháng Mỹ cần 15 vạn lít máu để chữa cho lính Mỹ bị


thương ở Triều Tiên”10. Tội ác chồng chất tội ác. Bọn đế quốc, thực dân đã dùng
xương máu của đồng bào mình vì những cuộc chiến tranh mà quyền lợi cho một
số ít người. Dân chúng vô tội chết thảm thương: “Mỗi tháng 30 vạn lính Mỹ bị
thương, không kể lính chết”, riêng con số thương vong mà thực tế cho thấy các
nước Đế quốc phải gánh chịu đã đủ lên án tội ác của chúng. Đó là chưa kể đến
những mất mát, đau thương gấp nhiều lần mà chúng đã gieo rắc vào các nước
thuộc địa. Nền “văn hóa bạo lực” tội ác và bất công đang bao trùm lên xã hội của
chúng lúc bấy giờ. Nhưng đằng sau những tội ác đó là mầm mống những tội ác
khác. Xã hội hỗn loạn, nên văn hóa phi đạo đức đã làm nảy sinh ra trong lòng xã
hội những mầm mống tội ác: những băng cướp trẻ em giết người, cướp của khi

Nam đến Indonexia, Ấn Độ, Nam Việt Nam, Châu Phi,…ít nhất sẽ có 286.000
trẻ con bị mắc bệnh nguy hiểm, và độ 3 triệu trẻ con trong thai mẹ và mới đẻ sẽ
chết! Đó là chưa kể đến những tai hại lớn xảy ra sau này” 12. Ở Mỹ, chúng cấm
những tư tưởng tiến bộ thường được theo dõi rất sát sao. Chính sách kìm cập về
tự do phát triển văn hóa chúng không chỉ thực hiện ở các thuộc địa mà còn thực
hiện ngay cả ở những nước chính quốc: “ Những nhà văn hóa ấy nhẹ là thất
nghiệp, nặng là ở tù,… các nhà làm phim chiếu bóng thì cố ý đưa vào trong phim
những chuyện tàn ác, dâm đảng và những chương trình chiến tranh của chính
phủ Mỹ, không thế không yên”. Và những sản phẩm văn hóa kiểu đó đã gieo vào
đầu óc của chính người dân họ, nhất là thanh thiếu niên những suy nghĩ về một
nếp sống văn hóa lệch lạc và đây chính là mầm mống của tội ác diễn ra trong
lòng xã hội được xem là văn minh, tiến bộ này. Những mầm mống ấy luôn âm ỷ
và có thể nổ tung bất cứ lúc nào.
Trái ngược với nó, những tư tưởng tiến bộ dù bị cấm đoán, song với
những phân tích mang tầm thời đại của mình, Hồ Chí Minh cũng cho rằng mầm
mống văn hóa tương lai của Mỹ, một nền văn hóa mới và chân chính, đang chớm
nở trong giai cấp công nhân, trong các dân tộc da đen và những bạn đồng minh
của họ chứ không chỉ có sự phân biệt chủng tộc đến mức phi văn hóa: Phụ nữ da

12

Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H.2000,T6, tr 263


đen ở Mỹ phải đẻ ngoài đường, có cả nghĩa địa dành riêng người da trắng, riêng
cho người da đen, và riêng cho chó.
Tóm lại, từ những ngày đầu hoạt động cách mạng, từ lúc mới biết bắt đầu
sử dung ngòi bút làm vũ khí phục vụ cách mạng cũng là lúc Nguyễn Ái Quốc bắt
đầu lên án, tố áo tội ác dã man của bọn thực dân đế quốc qua cấc tác phẩm của
mình. Ngòi bút sắc sảo cộng với sự quan sát tinh vi từ thực tiễn đã giúp Hồ Chí


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status