TIỂU LUẬN CAO HỌC Công tác xã hội với bất bình đẳng giới giữa trẻ em trai và trẻ em gái trong gia đình việt nam hiện nay - Pdf 50

LỜI MỞ ĐẦU
Trẻ em là mầm non của mỗi nước và là vấn đề được nhân loại hết sức quan
tâm. Ở nước ta, vẫn còn bị ảnh hưởng rất nặng nề tư tưởng trọng nam, khinh nữ,
tình trạng phân biệt đối xử với trẻ em gái vẫn còn tồn tại khá phổ biến ở nông thôn
và thành thị, từ trong gia đình ra ngoài xã hội ở mức độ khác nhau. Luật bình đẳng
giới năm 2006 ra đời phần nào xóa giảm sự bất bình đẳng giữa trẻ em trai và trẻ
em gái trong gia đình, xã hội.
Bình đẳng giới trong gia đình thực chất là bình đẳng giữa vợ, chồng, con
trai, con gái, nam-nữ về vị trí, vai trò trong đó bao gồm sự bình đẳng trong việc
tiếp cận nguồn nhân lực, bình đẳng trong thù lao công việc, bình đẳng trong việc
thụ hưởng các thành quả và bình đẳng trong các vấn đề liên quan đến bản thân, gia
đình và xã hội. Điều đó có nghĩa là đảm bảo bình đẳng giới trong gia đình giúp cho
nam - nữ đều được tạo cơ hội để phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của
gia đình, cộng đồng và xã hội.
Công tác xã hội là một chuyên ngành là hoạt động thực tiễn mang tính tổng
hợp cao. Trong đó nhân viên công tác xã hội bằng những hiểu biết, kiến thức kĩ
năng của mình giu thân chủ phục hồi các chức năng, khơi dậy các khả năng tiềm
ẩn của bản thân thân chủ để họ tự giải quyết vấn đề gặp phải, giúp cộng động có
những nhận thức đúng đắn về những sai lệch trong xã hội như những vấn đề: Bất
bình đẳng giới trong gia đình, bao lực gia đình, phân công lao động trong gia
đình…
Như vậy bình đẳng giới giữa trẻ em trai và trẻ em gái trong gia đình được
hiểu là trong gia đình giữa trẻ em trai và trẻ em gái bình đẳng trong việc được
chăm sóc bảo vệ quyền được sống, bình đẳng về quyền được học tập, bình đẳng
trong việc thực hiện các công việc trong gia đình, bình đẳng về quyền được nghỉ

1


ngơi, được vui chơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giả trí phù hợp với lứa
tuổi. Các thành viên khác trong gia đình không được có hành vi phân biệt đối xử

phổ biến ở các bà mẹ mang thai; nạn bạo hành , phân biệt đối xử tồn tại trong mọi
tầng lớp dân cư; cơ hội học tập, vay vốn làm ăn, thằng tiến, kể cả mức lương của
chị em vẫn thua xa so với nam giới.
Hậu quả của việc muốn có con trai trong gia đình để nối dõi tông đường vẫn
là tâm lý ăn sâu bám rễ ở mỗi người dân Việt Nam, đặc biệt là những vùng nông
thôn và vùng sâu vùng xa nhận thức còn kém. Cũng xuất phát từ nguyện vọng có
con trai mà cuộc điều tra xã hội học ở Hà Nội có 2/3 người hỏi đã nêu lên nguyện
vọng muốn sinh con thứ ba. Số bé trai mới sinh là 289.126 em và bé gái là 216.585

3


em, tỷ số giới tính là 100,8 nam/100. Điển hình là Thái Bình: tỷ số 120 nam/100
nữ, Kiên Giang: 125 nam/100 nữ, An Giang: 128 nam/100 nữ, Sóc Trăng 124
nam/100 nữ… Ngay từ đầu kết quả điều tra dân số năm 1999 đã có dấu hiệu mất
cân bằng giới tính trên phạm vi cả nước, đặc biệt 16 tỉnh/thành phố có tỷ suất vượt
quá ngưỡng tự nhiên (106 nam/100 nữ).
Như vậy sự bất bình đẳng giữa nam và nữ trong gia đình là cuộc cách mạng
hết sức khó khăn và lâu dài vì sự hạ thấp, khinh miệt đối với phụ nữ đã tồn tại từ
hàng nghìn năm nay. Ở vùng nông thôn và miền núi, nơi dân trí thấp, phụ nữ dân
tộc thiểu số còn phải làm việc quần quật từ 5h sáng đến 11-12h đêm khiến phụ nữ
mệt mỏi, tính cách giảm theo chiều hướng xấu, giảm tình yêu đối với chồng, không
có đủ thời gian để chăm sóc bản thân, theo đuổi những thú vui, sở thích riêng, phát
triển chuyên môn nghề nghiệp… Còn về phía các ông chồng lại mang trên mình
trạng thái ỉ lại, chán vợ, có dư quá nhiều thời gian để làm thú vui khác, những cuộc
ngoại tình làm sứt mẻ tình cảm vợ chồng. Nguy hiểm hơn là điều này duy trì tư
tưởng “trọng nam khinh nữ”, cản trở mục tiêu bình đẳng giới quốc gia.
Trong một số kết quả nghiên cứu, về việc học tập từ tiểu học lên các bậc học
cao hơn của trẻ em gái dân tộc thiểu số cho thấy, tỉ lệ trẻ em gái được học lên trung
học cơ sở thấp hơn trẻ em trai rất nhiều.

giúp cho nam-nữ đều được tạo cơ hội để phát huy năng lực của mình cho sự phát
triển của gia đình, cộng đồng và xã hội. Như vậy, bình đẳng giới giữa em trai và
em gái trong gia đình được hiểu là trong gia đình giữa trẻ em trai và trẻ em gái
bình đẳng trong việc được chăm sóc bảo vệ quyền được sống, bình đẳng về quyền
được học tập, bình đẳng trong việc thực hiện các công việc trong gia đình, bình
đẳng về quyền được nghỉ ngơi, được vui chơi và tham gia các hoạt động vui chơi,
giải trí phù hợp với lứa tuổi. Các thành viên khác trong gia đình không được có
hành vi phân biệt đối xử giữa trẻ em trai và trẻ em gái.

3.

Những nội dung cơ bản của bình đẳng giới giữa trẻ em trai và trẻ em gái
trong gia đình hiện nay
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, trẻ em là những người dưới 18 tuổi.
Gia đình đóng vai trò quan trọng, cơ bản trong việc hình thành nhận thức, thái độ
về các quan hệ giới. Thực hiện bình đẳng giới trong gia đình sẽ là cơ hội tốt, là đòn
bẩy quan trọng để tăng cường khả năng nhận thức bình đẳng giới của mỗi cá nhân
5


đồng thời cũng là yếu tố đảm bảo bình đẳng giới của mỗi cá nhân, góp phần thúc
đẩy sự phát triển của gia đình và xã hội. Trẻ em khi sinh ra có quyền được chăm
sóc, nuôi dưỡng, học tập và tham gia vui chơi, giải trí… Tại khoản 4 Điều 18 Luật
bình đẳng giới năm 2006 đã quy định: “con trai và con gái được gia đình chăm sóc,
giáo dục, và tạo điều kiện học tập, lao động, vui chơi giải trí và phát triển. Do đó,
nội dung của bình đẳng giới giữa trẻ em trai và trẻ em gái trong gia đình thể hiện ở
những khía cạnh sau:
- Trong gia đình, trẻ em trai và trẻ em gái bình đẳng trong việc đảm bảo
quyền được sống. Tại khoản 2 Điều 5 Luật bình đẳng giới năm 2006 quy định giới
tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam và nữ. Giới tính mang tính chất bẩm sinh

Ví dụ: khi trẻ em trai đến 5 tuổi thì được gia đình tạo mọi điều kiện học tập
nhưng trẻ em gái lại không được cho đi học trường mầm non mà cho nghỉ ở nhà.
Dẫn đến có nhiều em gái không được đi học trường mầm non khi đi học tiểu học
tiếp thu chậm hơn so với trẻ em trai được đi học từ trường mầm non.
Hiện nay, tại Điều 16 Luật chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 quy định
trẻ em học tiểu học trong các cơ sở công lập không phải đóng học phí. Điều này
thể hiện trách nhiệm của Nhà nước đảm bảo bình đẳng về học tập giữa trẻ em trai
và trẻ em gái, giữa trẻ em ở nông thôn, vùng dân tộc thiểu số so với trẻ em ở thành
thị. Trẻ em trai và trẻ em gái được tạo điều kiện học tập ở môi trường an toàn, gần
gũi và không phân biệt đối xử với tất cả các trẻ em thuộc mọi thành phần khác
nhau, là môi trường để trẻ phát triển về sức khỏe, lợi ích và tinh thần. Đảm bảo
bình đẳng nâng cao quyền lợi của các trẻ em gái trong việc nâng cao trình độ văn
hóa và trình độ học vấn.
- Bình đẳng về quyền chăm sóc y tế giữa trẻ em trai và trẻ em gái. Trẻ em có
quyền ngang nhau trong việc được hưởng sự quan tâm, chăm sóc của gia đình.
Hiện nay, việc chăm sóc cho trẻ em đã được luật hóa trong Luật bảo vệ, chăm sóc
và giáo dục trẻ em năm 2004. Gia đình không được bỏ mặc, sao nhãng trong sự
7


chăm sóc đối với trẻ em gái. Trẻ em là trai hay gái bị tàn tật về tinh thần hay thể
chất đều được chăm sóc, được hưởng một cuộc sống trọn vẹn và tử tế. Điều đó có
nghĩa không có trẻ em nào dù là trẻ em gái, trẻ em tàn tật… bị tước đoạt quyền
được hưởng sự quan tâm chăm sóc của gia đình và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe.
Dù là trẻ em trai hay trẻ em gái trong gia đình đều được hưởng chăm sóc chế độ
dinh dưỡng phù hợp với lứa tuổi như nhau. - Bình đẳng giữa trẻ em trai và trẻ em
gái trong việc thực hiện các công việc trong gia đình. Điều này có nghĩa là giữa trẻ
em trai và trẻ em gái trong gia đình bình đẳng với nhau trong việc thực hiện các
công việc của gia đình. Các thành viên khác trong gia đình phân công đồng đều các
công việc phù hợp với lứa tuổi cho trẻ em trai và trẻ em gái như nhau.

dục tới trẻ em trai và trẻ em gái. Đến nay, các tỉnh đều có trung tâm chăm sóc sức
khỏe sinh sản, công tác phòng chống suy dinh dưỡng ở trẻ em từng bước đẩy lùi.
Sự ra đời của pháp lệnh dân số, Luật bình đẳng giới, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo
dục trẻ em đã giúp các gia đình ở cả thành thị và nông thôn có nhận thức đúng đắn
về bình đẳng giới. Từ đó, trong các gia đình tình trạng phân biệt đối xử giữa trẻ em
trai và trẻ em gái giảm đi đáng kể. Nhiều gia đình mặc dù sinh hai bé gái nhưng
vẫn thực hiện chính sách kế hoạch hóa không sinh thêm con nữa để đảm bảo đời
sống tốt, chăm sóc và giáo dục trẻ.
Nhà nước đã thực hiện nhiều chính sách đi học ở các trường tiểu học công
lập không phải đóng phí để tạo điều kiện cho trẻ em trai và trẻ em gái trong gia
đình đều được đến trường học tập như nhau. Số lượng học sinh phổ thông từ năm
2000 đến 2009, số trẻ em gái đi học cấp III có tăng lên. Đây là một dấu hiệu tích
cực để đánh giá sự bình đẳng trong học tập. Gia đình ở nông thôn và các vùng dân
tộc thiểu số đã quan tâm tới việc học tập của cả trẻ em gái cũng như trẻ em trai.
Nên số lượng trẻ em gái được tham gia học tập cũng tăng lên. Trẻ em gái được tạo
điều kiện bình đẳng với trẻ em nam trong nâng cao trình độ văn hóa và trình độ
học vấn. Tỷ lệ trẻ em gái biết chữ trong số người biết chữ đã tăng lên đáng kể.
Chênh lệch về số trẻ em trai và trẻ em gái trong tất cả các cấp bậc được thu hẹp
(báo cáo quốc gia của Việt Nam, tháng 8 năm 2005 đã khẳng định điều này). Trẻ
9


em trai và trẻ em gái trong gia đình đã được đảm bảo các quyền được sống, học
tập, chăm sóc sức khỏe, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí…
Ngoài ra, nhà nước đã thể hiện nhiều chính sách quan tâm tới những trẻ em tàn tật
giúp trẻ hòa đồng với cộng đồng và xã hội.
2.

Nguyên nhân
Nguyên nhân dẫn đến sự bất bình là do chính các hộ gia đình đã định hình

được sống. Phần lớn do áp lực từ phía gia đình. Do nước ta vẫn còn bị ảnh hưởng
bởi ý thức của hệ tư tưởng phong kiến “trọng nam kinh nữ”, các gia hay dòng họ từ
xưa và nay vẫn có tư tưởng coi trong việc sinh con trai, họ quan niệm “ nhất nam
viết hữu, thập nữ viết vô” tức là con trai thì một là có, mười con gái thì vẫn là
không và nếu không có cong trai để nối dõi thì bị xem là tuyệt tự và khi bố mẹ, ông
bà chết đi sẽ không có người thờ cúng. Dẫn đến ở nước ta vẫn còn bất bình đẳng
giữa trẻ em trai và trẻ em gái về các điều kiện đảm bảo cuộc sống ổn định. Việc các
gia đình coi trọng con trai dẫn đến khi sinh con ai cũng muốn sinh trẻ em trai. Điều
đó vô hình chung đang dẫn đến sự mất cân bằng giới tính.
Theo số liệu của cơ quan chức năng thì ở nước ta hiện nay, có nơi tỷ lệ sinh
là 135 bé trai 100 bé gái. Điều này là bất lợi, đáng cảnh báo trong tương lai gần.
Ngoài ra, còn do ở một số vùng nông thôn, dân tộc thiểu số có phong tục lạc hậu
như: khi người phụ nữ sinh con thì tự người mẹ phải sinh một mình và chăm sóc
con một mình. Dẫn đến, có sự bất bình đẳng về quyền sống của trẻ em ở các gia
đình thành thị và gia đình ở nông thôn. Một phần khác, khi gia đình cha mẹ mâu
thuẫn thường dẫn tới hành vi bạo lực đối với trẻ em. Khi đó, đa số trẻ em gái
thường bị đánh đập hoặc bị chửi mắng xúc phạm danh dự.
- Bình đẳng quyền học tập giữa trẻ em trai và trẻ em gái:
Sự chênh lệch về tỉ lệ mù chữ của trẻ em trai so với trẻ em gái ngày càng
giảm. Tuy nhiên sự bất bình đẳng giới ở nước ta vẫn tồn tại ở nhiều dạng khác
nhau, ở từng thời gian và không gian khác nhau. Cuộc sống của hàng triệu trẻ em
gái vẫn còn bị phân biệt đối xử. Một số vùng khó khăn, gia đình đông con, trẻ em
gái ít có cơ hội đi học hơn. Phổ biến nhất ở nước ta hiện nay là số đông vẫn còn tư
tưởng trọng nam kinh nữ. Những hệ quả của bất bình đẳng giới trong giáo dục khi
11


có những bất bình đẳng trong việc tiếp cận nguồn lực của cuộc sống thì tất yếu dẫn
đến những hệ quả tiêu cực. Thực tế đã cho thấy điều này diễn ra ở Việt Nam, cho
thấy trẻ em chịu thiệt thòi trực tiếp từ việc mẹ chúng mù chữ hoặc không được đến

Họ cũng phải thường xuyên làm các công việc không được trả lương như:
làm việc cho doanh nghiệp của gia đình. So với trẻ em trai, trẻ em gái không được
đến trường hoặc phải gánh chịu gánh nặng gấp ba-việc nhà, việc học tập ở trường
và việc làm kinh tế. Ngày càng có nhiều trẻ em gái phải bắt đầu kiếm sống vì nhu
cầu kinh tế để tồn tại. Công việc của trẻ em gái thường bấp bênh và chất lượng
thấp. Trong các việc làm không công khai và không được kiểm soát như giúp việc
gia đình thì trẻ em gái chiếm tỷ lệ nhiều hơn so với trẻ em trai làm cho nguy cơ bị
bóc lột lao động. Nhiều trẻ em gái được trả công ít hơn so với trẻ em trai và nam
giới khi làm cùng một loại công việc và trẻ em gái có quyền kiểm soát ít hơn số
tiền mà họ nhận được. Nếu trẻ em gái tiêu tiền kiếm được thì chủ yếu là các chi
tiêu trong gia đình của họ.
- Về quyền được chăm sóc:
Những gia đình mà chỉ có một người mẹ làm chủ gia đình thì trẻ em bị thiệt
thòi hơn so với những đứa trẻ trong các gia đình khác, trẻ em gái đặc biệt có nguy
cơ bị buôn bán. Trẻ em gái có thể bị bố mẹ bán đi hoặc cho không với hứa hẹn về
một cuộc sống tốt đẹp hơn cho chúng. Những đứa trẻ này cuối cùng thường gánh
chịu những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất. Ở nông thôn và một số vùng dân
tộc thiểu số, người mẹ phải đi làm không có cơ hội chăm sóc con cái và cho con tới
trường thì sẽ mang con theo tới nơi làm việc. Trẻ em gái sống trong các gia đình
khó khăn sẽ ít được quan tâm hơn so với trẻ em trai. Bởi phần lớn trong họ vẫn tồn
tại tư tưởng trọng nam khinh nữ. Mặt khác, chế độ dinh dưỡng đối với trẻ em trai
và trẻ em gái có sự chênh lệch. Nên có nhiều trẻ em bị suy dinh dưỡng, gầy gò.
- Về thời gian nghỉ ngơi, vui chơi và tham gia các hoạt động văn hóa,
nghệ thuật phù hợp với lứa tuổi:
13


Trong phần lớn các gia đình trẻ em trai thường được ưu tiên không phải
tham gia vào các hoạt động vô hình trong gia đình. Trẻ em trai có thời gian nghỉ
ngơi, vui chơi và tham gia các hoạt động giải trí khác nhiều hơn so với trẻ em gái.

14


- Nâng cao năng lực cho trẻ em gái được nâng vị thế của mình lên trong gia
đình và xã hội
IV.
1.

Phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở các công việc phải làm và trật tự các công việc. Từ đó xác định
được các phương pháp nghiên cứu xã hội học, phương pháp nghiên cứu công tác
xã hội có thể được áp dụng trong quá trình quản lý cũng như thực hiện nghiên cứu
đề tài:
+ Phương pháp nghiên cứu xã hội học là hệ thống các nguyên tắc để làm
công cụ cho việc phân tích, khái quát và nghiên cứu về đời sống xã hội mà được
coi như là đối tượng xã hội học. Có thể hiểu đó là tổng hợp tất cả các phương pháp
kỹ năng và cách thức nghiên cứu xã hội học nhằm làm sáng tỏ, bản chất các đặc
trưng, cơ cấu, xu hướng và tính quy luật của các hiện tượng và các quá trình xã
hội.
+ Phương pháp nghiên cứu công tác xã hội là sự vận dụng các phương pháp
vào hoạt động nghiên cứu con người và xã hội nhằm giúp đỡ những con người có
vấn đề và giải quyết các vấn đề khó khăn con người thường gặp trong thực tiễn, sử
dụng các lý thuyết cũng như biện pháp can thiệp phù hợp nhằm hỗ trợ cộng đồng,
nhóm, cá nhân giải quyết vấn đề của họ.

2.

Mô hình nghiên cứu
a.


Thực nghiệm

-

Quan sát không tiêu chuẩn hóa

-

Phân tích nội dung văn bản (định tính)

-

Phân tích lịch sử cuộc đời

b.

Các phương pháp thu thập thông tin định lượng:

-

Phỏng vấn bằng bảng hỏi định lượng (An két: trực tiếp; gián tiếp)

-

Phỏng vấn có tiêu chuẩn hóa

-

Quan sát có tiêu chuẩn hóa

-

Phương pháp chọn mẫu tỉ lệ

-

Phương pháp chọn mẫu tự phát



Chọn mẫu trong nghiên cứu định lượng

16


Định lượng là nghiên cứu sử dụng các phương pháp khác nhau để lượng
hóa, đo lường, phản ánh và diễn giải các mối quan hệ giữa các nhân tố các biến với
nhau.
-

Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản

-

Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống

-

Phương pháp chọn mẫu phân chùm (cụm)



Định tính



Định lượng

5.

Định tính

 Định lượng



Định tính

Trong đề tài này có thể thực hiện được cả 5 mô hình trong nghiên cứu,
nhưng có 2 mô hình phổ biến nhất là định tính và định tính  định lượng. Đề tài
này tôi chọn mô hình nghiên cứu là định tính  định lượng vì:




Khi có nhiều kinh phí
Có nhiều thời gian
Năng lực cán bộ quản lý + những người huy động tham gia đề tài trình độ có hiểu
biết nhiều về phương pháp nghiên cứu của xã hội học và các kiến thức liên quan
đến vấn đề nghiên cứu và xã hội học quản lý, công tác xã hội làm việc với nhóm và


miền

Công tác xã hội với
bất bình đẳng giới giữa
trẻ em trai và trẻ em
gái trong gia đình ở
Việt Nam hiện nay.

Sự quan tâm của Đảng
và Nhà nước về Công
tác xã hội với bất bình
đẳng giới giữa trẻ em
trai và trẻ em gái trong
gia đình ở Việt Nam
hiện nay.

* Thao tác biến trong khung lý thuyết
Thao tác biến phụ thuộc




Nhận thức về bình đẳng giới giữa trẻ em trai và trẻ em gái trong gia đình
Mong muốn về cơ sở vật chất, trang thiết bị, kiến thức về bình đẳng giới
Thái độ của đội ngũ nhân viên
18





Sinh hoạt văn hóa, lối sống văn hóa của địa phương, vùng miền
Thao tác biến can thiệp






Tình hình kinh tế địa phương
Sự quan tâm hỗ trợ từ chính quyền địa phương
Chính sách nhà nước
Sự quan tâm hỗ trợ của các nhà chuyên gia về chống bất bình đẳng giới
* Giả thuyết nghiên cứu
-

Trong việc thực hiện đề tài CTXH với bất bình đẳng giới giữa trẻ em

trai và trẻ em gái thì sự bất bình đẳng trong gia đình đã được giảm thiểu, được xã
hội ủng hộ và dành sự quan tâm nhiều.
-

Khoảng 28% bất bình đẳng giới giữa trẻ em trai và trẻ em gái trong

gia đình vẫn còn tồn tại.

19


-


20


chỉ là của mỗi cá nhân, mà là trách nhiệm của mỗi gia đình, các cơ quan nhà nước,
tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức nghề nghiệp. Thực hiện bình đẳng giới trong gia
đình nên được đưa thành tiêu chí quan trọng trong xây dựng gia đình văn hóa, làng
văn hóa, khu phố văn hóa…
- Tạo mọi điều kiện cho trẻ em trai và trẻ em gái được học tập, phát triển.
Đổi mới và phát triển mạng lưới tư vấn sức khỏe sinh sản, giáo dục giới tính và
tình dục an toàn vị thành niên, vận động nam nữ áp dụng các biện pháp tránh thai;
tuyên truyền, hướng dẫn phụ nữ biết cách chăm sóc sức khỏe sinh sản cho bản thân
và trẻ em trong gia đình.
- Nhà nước có thể thực hiện chính sách bãi bỏ học phí ở một trong hai cấp
cao hơn cấp tiểu học và khuyến khích cha mẹ, cộng đồng đầu tư vào giáo dục trẻ
em gái
- Giáo dục trẻ em trai và trẻ em gái về lợi ích của bình đẳng giới và cùng đưa
ra quyết định có thể giúp tạo ra mối quan hệ tốt hơn trong gia đình. Sự tham gia
của nam giới và trẻ em trai: Giáo dục nam giới và trẻ em trai, cũng như phụ nữ và
trẻ em gái, về lợi ích của bình đẳng giới và cùng đưa ra quyết định có thể giúp tạo
ra mối quan hệ hợp tác tốt hơn.
- Thực hiện tuyên truyền sâu rộng luật bình đẳng giới. Người làm công tác
giáo dục truyền thông về bình đẳng giới phải có kiến thức về giới và bình đẳng giới
để tuyên truyền phổ biến cho mọi người đều hiểu được nam nữ, trẻ em trai và trẻ
em gái không bị phân biệt đối xử về giới không chỉ là chuyện trong gia đình mà là
vấn đề toàn xã hội. Đây chính là những tiền đề quan trọng để biến các quy định của
luật bình đẳng giới thành thực tiễn cuộc sống.
- Các hành động chính bao gồm bãi bỏ học phí và khuyến khích cha mẹ và
cộng đồng đầu tư vào giáo dục trẻ em gái.

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status