Tiểu luận cao học tâm lý báo chí ứng dụng tâm lý học trong viết báo, tổ chức sản phảm báo chí - Pdf 50

MỞ ĐẦU
I.
1.

Lý thuyết chung.
Khái niệm tâm lý:
Tâm lý con người là sự phản ánh chủ quan thế giới khách quan, có cơ sở tự
nhiên là hoạt động thần kinh và hoạt động nội tiết, được nẩy sinh bằng hoạt động
sống của từng người và gắn bó với các quan hệ xã hội lịch sử.
Tâm lý học là ngành khoa học nghiên cứu hoạt động, tinh thần và tư
tưởng của con người (cụ thể đó là những cảm xúc, ý chí và hành động). Tâm lý học
cũng chú tâm đến sự ảnh hưởng của hoạt động thể chất, trạng thái tâm lý và các
yếu tố bên ngoài lên hành vi và tinh thần của con người. Ngành này tập trung vào
loài người, tuy một vài khía cạnh của động vật cũng thỉnh thoảng được nghiên cứu.
Động vật ở đây có thể được nghiên cứu như là những chủ thể độc lập, hoặc – một
cái nhìn gây tranh cãi hơn – được nghiên cứu như một cách tiếp cận đến sự hiểu
biết bộ máy tâm thần của con người (qua tâm lý học so sánh). Tâm lý học được
định nghĩa một cách rộng rãi như là "khoa nghiên cứu những hành vi và những tiến
trình tâm thần của con người".
Tâm lý học vừa được nghiên cứu một cách khoa học lẫn phi khoa học. Tâm
lý học chủ đạo ngày nay đa phần đặt nền tảng trên thuyết thực chứng, thông qua
những phân tích định lượng và sử dụng những phương pháp khoa học để thử và
bác bỏ những giả thuyết. Tâm lý học có khuynh hướng chiết trung, sử dụng và tiếp
thu kiến thức thu thập được từ nhiều ngành khoa học khác để hiểu và lý giải hành
vi của con người

1.1.

Tâm lý là bản chất của vật chất cao cấp



nguồn gốc của vật chất (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ).
Tuân Tử ( 315-230 trước CN) cho rằng: Thân thế con người sinh ra tinh
thần và cái tốt, cái xấu ... đều nằm trong thân thế con người.
Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng tâm lý là biểu hiện
của vật chất, là sản phẩm dưới dạng đặc biệt của vật chất có tổ chức cao là bộ não
của con người. Sự phát triển của tâm lý luôn gắn với sự phát triển của hệ thống
thần kinh.
Thế giới vật chất vận động và biến đổi không ngừng từ vô cơ thành thể hữu
cơ, từ hữu cơ thành sự sống . Sự phát triển đó liên tục, ngày càng phức tạp, hoàn
chỉnh dần và cuối cùng thành sự phản ảnh thế giới khách quan của những sinh vật
có hệ thống thần kinh , có não bộ. Mặt khác, sự phản ánh của sinh vật với thế giới
xung quanh cũng ngày càng phát triển và hoàn thiện. Những sinh vật đầu tiên có
bản tính kích thích, biến đổi để thích nghi với mọi hoàn cảnh, nhờ đó cảm giác
phát triển, đó chính là sự bắt đầu của phản ảnh tâm lý. Những phản ảnh ban đầu
mang tính chung chung, đơn giản, sau đó phát triển dần thành những cảm giác
chuyên biệt ( thị giác, thính giác , xúc giác…). Những sinh vật càng tiến hóa, hoạt
động càng phức tạp thì phản ánh tâm lý của chúng càng phong phú và hoàn thiện,
với những hình thức như: tưởng tượng, tư duy, xúc cảm, tình cảm…Ý thức là hình
thức phản ánh tâm lý cao nhất chỉ có ở người.


1.2.

Tâm lý có bản chất là phản xạ
Hệ thần kinh động vật hoạt động theo cơ chế phản xạ. Những phản xạ này
bao gồm các phản xạ không điều kiện và có điều kiện.Phản xạ có điều kiện là cơ
chế hoạt động của hệ thần kinh cao cấp, của vỏ não. Hoạt động của hệ thần kinh
gắn liền với hoạt động nội tiết của cơ thể và vỏ não là bản chất thực tế bản chất
tâm lý.Vì vậy, tất cả các hiện tượng tâm lý đều mang tính chất phản xạ. Các phản
xạ được hình thành nhằm đáp ứng mọi kích thích của thế giới bên trong hoặc bên

người lại bóc tách những tinh túy tâm lý mà loài người, xã hội gửi gắm vào đó
thành hiện tượng tâm lý của riêng mình. Vì vậy, trong mỗi hiện tượng tâm lý của
con người đều mang dấu ấn của xã hội mà con người đang ssống và thay đổi theo
lịch sử phát triển xã hội mà con người đã trải qua.Con người trên thực tế nếu thoát
khỏicác mối quan hệ xã hội thì con người sẽ bị mất bản tính người.
Tham gia vào sự hình thành và phát triển tâm lý con người có những yếu tố
cơ bản sau: bẩm sinh, di truyền về mặt sinh học hoặc truyền lại cho nhau qua công
cụ, đồ vật, hoạt động giao tiếp, giáo dục và tự giáo dục, điều kiện và hoàn cảnh
sống…
2. Tâm lý giới

Tâm lí học giới tính là một chuyên ngành của Tâm lí học, nghiên cứu về đời
sống giới tính, mối liên hệ giữa giới tính với các hoạt động xã hội của con người và
cuộc sống của con người trong xã hội.
3.

Tâm lý lứa tuổi
Tâm lý học lứa tuổi là khoa học nghiên cứu những đặc điểm tâm lý, các quy
luật, các điều kiện, động lực phát triển tâm lý theo lứa tuổi, những biến đổi của các
quy trình tâm lý, các phẩm chất tâm lý trong sự hình thành và phát triển nhân cách
con người.


4.

Tâm lý giao tiếp
Tâm lý giao tiếp là một chuyên ngành của Tâm lí học, nghiên cứu về hoạt
động giao tiếp của con người, bao gồm quá trình giao tiếp, cách thức giao tiếp, ý
nghĩa của giao tiếp…


công chúng, từ đó mà đưa ra các hoạt động phù hợp (cách thiết kế tờ báo, chuyên
mục, lựa chọn ngôn ngữ, hình ảnh…)
Tâm lý có chức năng chung là định hướng cho các hoạt động của con người.
mà tất cả các sản phẩm báo chí ít hay nhiều đều có tác động đến tâm lý của đối
tượng tiếp nhận. nội dung thông tin và tính định hướng của báo chí cũng chính vì
thế mà gián tiếp là động cơ, mục đích cho hành động của con người. như vậy, báo
chí cần thông tin khách quan, định hướng tích cực.
Tâm lý thôi thúc con người vượt khó khăn, chính vì thế báo chí cũng cần
nhiều bài viết khách quan, trung thực về những tâm gương vượt khó, nười tốt hay
những triên vọng về một tương lai vững chắc tươi sáng của đất nước. tất nhiên
những điều này khác với tô hồng sự thật. những bài viết như thế sẽ tác động tích
cực đến tâm lý công chúng, từ đó con người sẽ hình thành ý chí vươn lên, vượt khó
khăn. Như vậy là báo chí đã thực hiện chức năng khai sáng, định hướng suy nghĩ
và hành động tốt đẹp cho công chúng.
2.

Ứng dụng Thuyết nhu cầu của nhà tâm lý học Abaraham Maslow vào hoạt động
báo chí
Thuyết nhu cầu của Abraham Maslow là một trong những thuyết kinh điển
của Khoa học tâm lý con người. theo A.Maslow, nhu cầu tự nhiên của con người
được chia thành các thang bậc khác nhau từ đáy lên tới đỉnh, phản ánh mức độ cơ
bản của nó đối với sự phát triển và tồn tại của con người vừa là một sinh vật tự
nhiên, vừa là một thực thể xã hội.
Thang nhu cầu của Maslow có 5 mức:
Nhu cầu sinh lý cơ bản
Nhu cầu an toàn
Nhu cầu về quan hệ xã hội


Nhu cầu được kính nể, ngưỡng mộ

những nhu cầu đó.Tại sao báo chí lại đưa tin về các vụ tai nạn giao thông, tai nạn
lao động, thiên tai, dịch họa? Tại sao báo chí cũng tích cực thông tin về việc tăng
giá, lạm phát? Tại sao trên báo chí vẫn hàng ngày, hang giờ đưa tin về các bệnh
dịch, bệnhviện quá tải, người dân khốn khổ vì việc này hay việc kia…Tất nhiên
điều này một phần là do báo chí làm nhiệm vụ thông tin một cách trung thực và
khách quan tình hình đất nước, nhưng lý do chính ở đây đó là vì những sự kiện
kia,thông tin kia phản ánh đời sống dân sinh của con người, hay nói cách khác, đó
là những nhu cầu cơ bản nhất của con người.
Người dân vẫn đọc báo hàng ngày, đôi khi chỉ để xem giá xăng đã
giảm được đồng nào chưa, hay chỉ để biết thông tin rằng vụ tai nạn thảm khốc ở
TâyNguyên có cứu sống thêm được người nào chưa, và đôi khi để lắng nghe xem
hàng cứu trợ đã đến được với người dân lũ lụt miền Trung chưa. Tất cả những điều
đó đều xoay quanh nhu cầu ăn mặc, nơi ở, sức khỏe….Báo chí còn phải cung cấp
đầy đủ thông tin liên quan đến các nhu cầu cơ bảncủa công chúng. Chỉ khi đáp ứng
được nhu cầu ăn no, mặc ấm thì con ngườimới nghĩ đến chuyện ăn ngon, mặc đẹp.
Báo chí thông tin đến công chúng những sự kiện gần gũi với đời sống dân sinh
hàng ngày không chỉ để công chúng biết mà còn là để công chúng có cách hành
động phù hợp như biết làm kinh tế như thế nào cho phù hợp hoàn cảnh, biết chăm
sóc sức khỏe bản thân…Có nghĩa là công chúng sẽ được biết đến những kiến thức
nhằm thỏa mãn một cách tốt nhất nhu cầu của mình.Một khi đã đáp ứng tốt những
nhu cầu cơ bản đó thì công chúng mới nghĩ đến việc được thỏa mãn những nhu cầu
cao hơn, và lúc này báo chí sẽ tiếp tục thực hiện nhiệm vụ của mình.
Thứ 2: Nhu cầu an toàn
Khi con người đã được đáp ứng các nhu cầu cơ bản, tức là khi những nhu
cầu đó không còn điều khiển suy nghĩ và hành động của họ nữa thì khi đó, các


nhucầu về an toàn, an ninh bắt đầu được kích hoạt. Điều này được thể hiện trong
cả thể chất lẫn tinh thần. Con người luôn mong muốn cho mình tránh khỏi các mối
nguy hiểm diễn ra hàng ngày. Ai cũng đều có quyền được bảo vệ sức khỏe, tính

Tất cả chức năng, nhiệm vụ cuối cùng của báo chí đều hướng tới phục vụ nhu cầu
của công chúng. Và chính điều này đã thể hiện sự tôn trọng nhu cầu được kính nể,
ngưỡng mộ. Báo chí nêu gương người tốt, việc tốt để khích lệ động viên họ cũng
như những con người khác. Khi nói về người mắc tội, tuy thái độ nghiêm khắc
nhưng cũng không vì thế mà bêu xấu con người, tổ chức đó. Cũng không nên một
người mắc tội mà mổ xẻ cả đời tư cá nhân của họ cũng như những người thân của
họ. Khi viết về những nạn nhân của các vụ đánh đập, bạo hành, cưỡng hiếp, tránh
nêu tên và địa chỉ cụ thể, ảnh cũng không đc nêu rõ mặt. Cách viết cũng tránh
chạm vào nỗi đau và xúc phạm đến họ. Khi phỏng vấn những nhân vật có hoàn
cảnh đặc biệt cũng cần đặt câu hỏi vàcó cách giao tiếp hợp lý để không làm họ bị
tổn thương về mặt tinh thần cũng như nóng giận.
Thứ năm: Nhu cầu phát huy bản ngã, thành đạt
Đây là nhu cầu của con người được là chính mình, được làm những việc mà
mình sinh ra để làm. Nói một cách đơn giản, đây là nhu cầu được thể hiện hết khả
năng, tiềm năng để tự khẳng định mình, để làm việc và đạt các thành quả trong xã
hội.Tăng tính tương tác, thu nhận những ý kiến có giá trị của công chúng(tạo diễn
đàn, mục gương người tốt việc tốt).
Báo chí phải phát triển về số lượng, thường xuyên đổi mới, cải tiến về
chất lượng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của công chúng. Công chúng không ưa
những thông tin trùng lặp, sáo rỗng, theo lối mòn, không gắn với thực tế. Do đó, để
thu hút được công chúng, báo chí phải tự đổi mới cách thức sáng tạo sao cho hấp
dẫn, linh hoạt. Tuy nhiên, nội dung và hình thức bao giờ cũng phải có sự tương
ứng, có chung tiếng nói, tránh phô trương hình thức, gọt giũa câu chữ để che lấp đi


nội dung thông tin tẻ nhạt,... Hoạt động báo chí phải đạt được mục đích là trang bị
cho công chúng về nhận thức hiểu biết, hình thành và củng cố thế giới quan đúng
đắn về cách mạng, chế độ, lợi ích của đất nước trong quan hệ quốc tế, giúp công
chúng an tâm về tư tưởng, sống có ích. Đây là một công việc khó khăn vì nó rất dễ
trở nên khô cứng, đơn điệu, đòi hỏi phương pháp giáo dục phải thường xuyên đổi

Đồng thời, chính những điều này cũng mang lại sự hấp dẫn, thiết thực cho báo chí.
Công chúng cũng là những người trực tiếp tham gia vào hoạt động báo chí. Một bộ
phận công chúng là cộng tác viên, thông tin viên của các cơ quan báo chí. Công
chúng là người luôn giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhà báo hoạt động nghề nghiệp, đặc
biệt là trong những tình huống có vấn đề.
Đặc điểm tâm lý tiếp nhận của công chúng.
- Tiếp nhận theo thuyết nhu cầu của Maslow.
- Tiếp nhận theo quy luật xa gần: Tâm lý tiếp nhận cần được phân biệt rõ với
nhu cầu giải trí của công chúng vì đây là 2 vấn đề khác nhau. Tâm lý tiếp nhận của
công chúng là yếu tố có ảnh hưởng đến quá trình sáng tạo của nhà báo. Dựa trên
những đặc điểm tâm lý ấy, nhà báo sáng tạo ra những tác phẩm phù hợp, hấp dẫn
đối với công chúng chứ không phải chạy theo thị hiếu tầm thường của một nhóm
công chúng nào đó mà quên đi chức năng định hướng thông tin của mình.
Ý nghĩa của việc nghiên cứu công chúng:
Mỗi cơ quan báo chí, mỗi nhà báo có cách tiếp cận riêng với công chúng của
mình thông qua các phương tiện, cách thức khác nhau để từ đó xây dựng nên lớp
công chúng của riêng mình. Sự ra đời, tồn tại và phát triển của mỗi sản phẩm báo
chí đều phải dựa trên sự xác định công chúng và hiệu quả của nó tới công chúng.
Cơ quan báo chí cũng như nhà báo sẽ kiểm tra, đánh giá được hiệu quả hoạt
động của mình thông qua việc nắm bắt được tâm lý công chúng. Từ đó mà có
những điều chỉnh cho phù hợp hơn với thị hiếu của công chúng cả về nội dung lẫn
hình thức trình bày(về mặt tình cảm, về mặt không gian, về mặt xã hội).


- Tiếp nhận cùng với sự liên tưởng.
- Tiếp nhận và lựa chọn thông tin theo các bước, các cấp độ:
+ Nghe, xem lướt, dò tìm
+ Nghe xem loáng thoáng, rơi vãi
+ Nghe xem chi tiết
+ Nghe xem định kì, sâu

hiện tượng tâm lý trong đời sống báo chí cũng như nguyên nhân và cách thức,
phương pháp tác động nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động báo chí. Vai trò của
tâm lý học báo chí đối với hoạt động báo chí:

-

Đối với công chúng:
+ Hiểu biết tâm lý của công chúng để khai thác các nguồn đề tài, tâm lý và
các góc độ phản ánh.
+ Học cách khơi dậy, dẫn dắt sự chú ý của độc giả, công chúng đối với
tácphẩm của mình.

-

Đối với nguồn tin:
+ Cách thức tiếp cận, phỏng vấn, khai thác thông tin (phỏng vấn)
+ Cách bảo vệ nguồn tin
+ Xác thực nguồn tin để báo chí không bị biến thành thứ để lợi dụng
+ Cách thức thể hiện nguồn tin

III.

Đối với đồng nghiệp, cơ quan báo chí: tạo sự liên kết, gắn chặt hoạt động.
Kết luận
Việc nghiên cứu tâm lý học và tâm lý học báo chí có vai trò vô cùng quan
trọng trong việc viết báo và tổ chức sản phẩm báo chí. Tâm lý học báo chí định
hướng cho nhà báo và cơ quan báo chí có cách tổ chức những tờ báo và viết những
bài báo phù hợp với nhu cầu, thị hiếu của độc giả, từ đó thu hút lượng độc giả. Vì
thế, mỗi nhà báo cần học tập và tạo điều kiện cho mình có cơ hội tìm tâm lý học


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status