Chất lượng cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý ở tỉnh tuyên quang - Pdf 50

MỤC LỤC
Trang
1

MỞ ĐẦU

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ NỮ
LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ

1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý
1.2. Khái niệm, tiêu chí đánh giá chất lượng cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý
1.3. Những yếu tố và điều kiện đảm bảo chất lượng của cán bộ nữ
lãnh đạo, quản lý

8
8
21
35

Chương 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ NỮ LÃNH ĐẠO,
QUẢN LÝ Ở TỈNH TUYÊN QUANG

47

2.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội và tình hình cán bộ nữ lãnh
đạo, quản lý ở tỉnh Tuyên Quang
2.2. Đánh giá ưu điểm, hạn chế về chất lượng cán bộ nữ lãnh đạo,

47

quản lý tỉnh Tuyên Quang

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN
Bảng 2.1: Trình độ chuyên môn của cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý cấp huyện
Bảng 2.2: Trình độ chuyên môn của cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh
Bảng 2.3: Trình độ lý luận chính trị của cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý
Bảng 2.4: Nữ cán bộ lãnh đạo, quản lý tham gia cấp ủy Đảng các cấp
Bảng 2.5: Cán bộ nữ là lãnh đạo, quản lý các ban Đảng tỉnh Tuyên Quang
Bảng 2.6: Cán bộ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh, cấp huyện
Bảng 2.7: Cán bộ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý các sở, ban, ngành cấp

51
52
53
55
56
57
57

tỉnh, cấp huyện
Bảng 2.7: Tỷ lệ nữ tham gia đại biểu Quốc hội
58
Bảng 2.8: Tỷ lệ nữ tham gia đại biểu và giữ chức danh chủ chốt của Hội 58
đồng nhân dân
Bảng 2.9: Cán bộ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý trong ngành tư pháp

59


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

các cấp từ 35% đến 40%. Các cơ quan, đơn vị có tỷ lệ nữ từ 30% trở lên,
nhất thiết có cán bộ lãnh đạo chủ chốt là nữ. Cơ quan lãnh đạo cấp cao
của Ðảng, Quốc hội, Nhà nước, Chính phủ có tỷ lệ nữ phù hợp với mục
tiêu bình đẳng giới.
Thực hiện chủ trương của Đảng, trong những năm qua các cấp uỷ đảng
trong Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đã luôn quan tâm đến việc phát triển, giới
thiệu những cán bộ nữ xuất sắc vào Đảng, đề bạt, bổ nhiệm, luân chuyển cán
bộ nữ vào những vị trí quan trọng trong hệ thống chính trị, qua đó tỷ lệ cán bộ
nữ tham gia lãnh đạo, quản lý đã tăng về số lượng và chất lượng.
Tuy nhiên, số lượng cán bộ nữ giữ các vị trí lãnh đạo, quản lý ở Tuyên
Quang vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và đóng góp của họ. Nhiệm kỳ
2010-2015, tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy tỉnh 29,09%, cấp ủy huyện 19,76%; Ban
Thường vụ cấp ủy tỉnh 13,33%, cấp ủy huyện và tương đương 11,39%; giữ
chức vụ lãnh đạo chủ chốt ở các sở, ban, ngành cấp tỉnh 19,35%; nhưng nhiều
lĩnh vực số lượng cán bộ nữ hết sức hạn chế và có những ngành không có
lãnh đạo nữ; tỷ lệ cán bộ nữ tham gia các khoá đào tạo, bồi dưỡng chưa đạt
chỉ tiêu đề ra; việc phát triển đảng viên nữ tại một số các xã vùng sâu, vùng
xa, vùng đặc biệt khó khăn còn hạn chế... Bên cạnh việc tham gia lãnh đạo,
quản lý với một tỷ lệ còn hạn chế thì chất lượng của đội ngũ cán bộ nữ ở tỉnh
Tuyên Quang cũng còn bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vụ đặt
ra. Trình độ học vấn, năng lực lãnh đạo, quản lý, phẩm chất đạo đức, lối sống,
khả năng hoàn thành nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó
của một bộ phận cán bộ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý còn hạn chế.
Là một cán bộ công tác trong cơ quan tham mưu của Đảng về công tác
tổ chức cán bộ, nhận thấy việc nghiên cứu, đưa ra giải pháp để tiếp tục thực
hiện có hiệu quả công tác cán bộ nữ là một việc làm có ý nghĩa, góp phần
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của


3

4
- Phan Ngọc Anh: Về đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý, Tạp chí
Khoa học về phụ nữ, 2003 (11).
- Vương Thị Hạnh: Về chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức trên quan điểm giới, Tạp chí Khoa học về phụ nữ 2005 (01).
- Nguyễn Đình Tấn: chuyên đề Các quan điểm về tăng cường năng lực
lãnh đạo của cán bộ nữ trong các cơ quan Đảng, Nhà nước và các tổ chức
chính trị xã hội, 2005.
- Hoàng Chí Bảo: chuyên đề Một số quan điểm, tư tưởng chính trị trong
lịch sử và hiện đại về vai trò, năng lực của phụ nữ trong đời sống chính trị,
2005.
- Nguyễn Đức Hạt (chủ biên): Nâng cao năng lực lãnh đạo cán bộ nữ
trong hệ thống chính trị, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007.
- Nguyễn Thái Anh, Nguyễn Vũ: Hồ Chí Minh về công tác cán bộ, Nxb
Thanh niên, Hà Nội, 2007.
- GS.TS. Nguyễn Đình Tấn, PGS.TS. Lê Tiêu La, TS. Trần Thị Bích
Hằng: Năng lực cán bộ lãnh đạo quản lý cấp cơ sở trong việc thực hiện quyền
phụ nữ - thực trạng và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010.
- TS. Nguyễn Minh Tuấn: Tiếp tục đổi mới đồng bộ công tác cán bộ,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012.
Ngoài ra, còn có một số công trình khoa học nghiên cứu về chất lượng
của một số đối tượng cụ thể như: chất lượng của đại biểu HĐND, chất lượng
của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã v.v.. ở một số địa phương.
Nhìn chung các chuyên đề nêu trên đã góp phần làm sáng tỏ một số
vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý.
Mỗi chuyên đề đều đưa ra những hướng nghiên cứu khác nhau, nhưng chưa
có đề tài nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện về chất lượng cán bộ nữ lãnh
đạo, quản lý ở tỉnh Tuyên Quang. Tuy vậy, các chuyên đề và tài liệu trên
đây là những tài liệu tham khảo có giá trị đối với việc nghiên cứu đề tài của


5.1. Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ


6
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, quan điểm, chính sách
của Đảng, Nhà nước về nhà nước và pháp luật nói chung, về đội ngũ nữ cán
bộ lãnh đạo, quản lý nói riêng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể: thống kê và
phân tích, tổng hợp các tài liệu thu thập; phương pháp quy nạp, diễn dịch;
phương pháp so sánh, tổng kết thực tiễn; tham khảo ý kiến chuyên gia và
nghiên cứu tài liệu...
6. Những đóng góp về khoa học của luận văn
- Luận văn góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng
của nữ cán bộ lãnh đạo, quản lý nói chung và ở tỉnh Tuyên Quang nói riêng.
- Trên cơ sở đánh giá thực trạng, luận văn chỉ ra những ưu điểm, hạn
chế của chất lượng đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý ở tỉnh Tuyên Quang.
Đồng thời, đề xuất hệ thống các giải pháp đồng bộ bảo đảm phát huy vai trò
của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý, đáp ứng yêu cầu đổi mới công tác cán bộ,
đổi mới hoạt động của hệ thống chính trị trong giai đoạn hiện nay.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Về mặt lý luận: Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu về chất lượng
cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý ở tỉnh Tuyên Quang. Kết quả nghiên cứu của luận
văn góp phần làm rõ và phong phú thêm những vấn đề lý luận về vai trò của
phụ nữ nói chung và trong lãnh đạo, quản lý nói riêng.
- Về mặt thực tiễn:
+ Luận văn ở mức độ nhất định góp phần làm rõ tính đặc thù của công
tác cán bộ nữ, từ đó nâng cao nhận thức, trách nhiệm và tổ chức thực hiện của
các cơ quan Đảng, Nhà nước trong việc bố trí, sử dụng cán bộ nữ, nhất là cán

cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao,
quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, văn minh.
Từ nay đến năm 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành
một nước công nghiệp [46, tr.80].
Phấn đấu để đạt được mục tiêu trên là sự nghiệp của toàn dân, dưới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mà nòng cốt là đội ngũ cán bộ, đảng
viên của Đảng. Nếu có cán bộ tốt, cán bộ ngang tầm thì từ việc xây dựng
đường lối, chính sách đến việc lãnh đạo, tổ chức, thực hiện đường lối, chính
sách, biến đường lối, chính sách thành hiện thực sẽ là một khả năng thực tế.
Đây không chỉ là yêu cầu về chất lượng của từng cán bộ, mà còn là chất
lượng của cả đội ngũ, trong đó bao gồm cả cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý.
1.1.1.1. Khái niệm cán bộ
Khái niệm cán bộ có nhiều cách hiểu với phạm vi rộng, hẹp và ở từng
nước khác nhau. Ở Việt Nam, thuật ngữ cán bộ được sử dụng phổ biến từ sau


9
cách mạng Tháng Tám năm 1945. Từ đó đến nay thuật ngữ cán bộ được sử
dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, có nhiều từ điển có khái niệm cán bộ và
được hiểu với nhiều nghĩa khác nhau trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể.
Trong Đại Từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên, nhà xuất bản
Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1998, cán bộ là một danh từ được hiểu là:
- Cán bộ là người làm việc trong các cơ quan nhà nước: cán bộ nhà
nước, cán bộ khoa học, cán bộ chính trị...
- Cán bộ là người giữ chức vụ, phân biệt với người bình thường, không
giữ chức vụ: cán bộ lãnh đạo, chuyên viên, cán sự.
Pháp lệnh Cán bộ, Công chức năm 2003 quy định: Cán bộ, công chức
quy định tại Pháp lệnh này là công dân Việt Nam, trong biên chế, bao gồm:

06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 của Chính phủ, do đó trong phần này tác
giả luận văn đề cập đến hai khái niệm "cán bộ" và "công chức".
Khoản 1 - Điều 4 Luật Cán bộ, Công chức năm 2008 quy định:
Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm
giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng
Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung
ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là
cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi
chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách
nhà nước [38].
Khoản 2 - Điều 4 Luật Cán bộ, Công chức năm 2008 quy định:
Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào
ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt
Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh,
cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà
không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc
phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không


11
phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo,
quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt
Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn
vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách
nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của
đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của
đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [38].
1.1.1.2. Khái niệm cán bộ nữ
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dùng nhiều thuật ngữ để chỉ cán bộ
nữ khi Người phát biểu trong các cuộc họp, trong các lớp bồi dưỡng cán bộ

quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập.
1.1.1.3. Khái niệm cán bộ lãnh đạo, quản lý
Về mặt khái niệm, "Lãnh đạo là đề ra chủ trương, đường lối chiến lược
và sách lược để phát triển một đơn vị, một ngành, một địa phương, một đất
nước và dẫn dắt, cổ vũ đơn vị, ngành, địa phương...thực hiện theo đúng chủ
trương, đường lối đã vạch ra" [46, tr 95].
"Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý
tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra" [46, tr.95].
Lãnh đạo và quản lý đều bao hàm việc tác động và điều khiển (người
lãnh đạo và người bị lãnh đạo, chủ thể quản lý và đối tượng quản lý). Về mục
đích, lãnh đạo và quản lý đều có chung một mục đích cuối cùng - đó là đạt
mục tiêu dài hạn hay ngắn hạn của một đơn vị, một địa phương hay một đất
nước. Lãnh đạo, hiểu theo nghĩa rộng, gồm cả quản lý; quản lý, hiểu theo
nghĩa rộng, gồm cả lãnh đạo. Ví dụ, trong quá trình Đảng lãnh đạo đất nước,
thì Đảng là người đề ra các quyết định, còn Nhà nước là người quản lý đất
nước. Song, ngay trong việc quản lý đất nước về chính trị, kinh tế, văn hóa,
xã hội, Chính phủ phải ra những quyết định, ban hành các quy định có tính
thể chế... nghĩa là Chính phủ đã thực hiện công việc lãnh đạo.


13
Lãnh đạo và quản lý có điểm giống nhau nhưng vẫn có những điểm khác
biệt nhau về chức năng, nguyên tắc, phương pháp và vị trí. Tuy nhiên, sự
phân biệt này cũng chỉ mang tính tương đối, không hoàn toàn tách biệt mà
vẫn gắn bó mật thiết, thống nhất chặt chẽ trong hoạt động của những người có
chức vụ trong hệ thống chính trị. Đó chính là cán bộ lãnh đạo, quản lý.
Theo cách hiểu phổ biến hiện nay khái niệm cán bộ lãnh đạo thường gắn
với khái niệm cán bộ quản lý, được hiểu là những người có chức vụ và trách
nhiệm điều hành, cầm đầu trong các cơ quan, các tổ chức sự nghiệp, đơn vị
kinh doanh. Nội hàm khái niệm cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý đều là chủ

tình cảm nhưng họ làm việc rất có phương pháp và rất kiên nhẫn.
- Phụ nữ làm lãnh đạo, quản lí có rất nhiều lợi thế, nhất là đối với phụ nữ
trí thức bởi họ có tư duy mạch lạc, chặt chẽ nên khi quyết định thường dựa
trên những căn cứ, cơ sở rõ ràng. Họ cũng biết cách tổ chức công việc một
cách khoa học, từ việc lên kế hoạch, chuẩn bị, triển khai, giám sát công việc
hợp lí, kịp thời để đạt hiệu quả cao, hạn chế được những sai sót. Do rất nhạy
cảm và thường gặp nhiều khó khăn, vất vả hơn trong cuộc sống so với nam
giới nên các chị em làm lãnh đạo dễ có sự đồng cảm với những khó khăn của
nhân viên hơn (nhất là nhân viên nữ), nên cũng dễ dàng chia sẻ, động viên,
khích lệ người khác trong công việc và cuộc sống. Điều ấy cũng tạo sự gắn
kết tình cảm trong tập thể tốt hơn.
- Xét về đặc điểm tâm lý, khí chất, phụ nữ cũng không có sự cực đoan và
những phản ứng dữ dội đến mức không kiềm chế và không kiểm soát được ý
thức hành vi nên nữ tính là một thuận lợi cho sự hình thành và biểu lộ văn hóa
chính trị của phụ nữ, của các nhà quản lý, lãnh đạo trong giới nữ [22, tr.80], bởi
nói tới hoạt động chính trường là nói tới quyền lực, địa vị. Trong guồng máy
của quyền lực, một thách thức thường xuyên và nan giải là quan liêu, tham
nhũng, sự thoái hóa, hư hỏng khi có chức quyền. Tuy nhiên, qua thực tế, sự
tập nhiễm những thói xấu này ở nam giới bộc lộ phổ biến hơn, mức độ và hậu
quả nặng nề hơn so với phụ nữ. Trong chính trị, phụ nữ không phải hoàn toàn


15
có thể miễn dịch trước những tác nhân gây hại đó song họ có thể phòng tránh
tốt hơn nam giới. Đó là một thực tế có thể có thể kiểm chứng được.
- Giới nữ có tính kiên trì, thuyết phục, thận trọng, tiết kiệm và có tinh
thần trách nhiệm cao, ít sai phạm nên "Phụ nữ là nhân tố làm lành mạnh hóa
chính trị và xã hội". Tính đoàn kết tăng lên, dân chủ hóa tăng lên, chống tham
nhũng có hiệu quả hơn. Phụ nữ quản lý tài chính rất công minh chính trực.
Hiệu quả giải quyết các xung đột xã hội cũng tốt hơn [22, tr.160].

được khắc phục.
- Dù ở đỉnh cao quyền lực hay giữ những cương vị, trọng trách lớn, phụ
nữ cũng không thể sao nhãng thiên chức làm vợ, làm mẹ cũng như chăm lo
đời sống gia đình - đây là nét đặc trưng của người phụ nữ Á Đông nói chung,
phụ nữ Việt Nam nói riêng. Vì vậy, cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý còn là con
người của cuộc sống đời thường với những lo toan rất đời thường. Do đó, để
dung hòa giữa gia đình và xã hội, người phụ nữ đã phải rất nỗ lực, cố gắng
thu xếp một cách khoa học để vừa có thời gian cho gia đình, vừa hoàn tốt
chức trách, nhiệm vụ được giao.
- Khác với nam giới, những đặc trưng nữ tính cẩn trọng, chu đáo, kiên trì
chịu đựng, có tính thuyết phục cao... rất dễ thu phục được quần chúng, song
nữ giới có một số hạn chế như thiếu tầm nhìn chiến lược cơ bản, lâu dài. Cán
bộ nữ cũng hạn chế trong việc mở mang, phát triển quan hệ với cán bộ nam ở
trong và ngoài cơ quan bởi xuất phát từ chính đặc điểm giới của họ.
1.1.3. Vai trò của cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã từng nêu cao vai trò của
người cán bộ. Lênin chỉ rõ: "Trong lịch sử chưa hề có một giai cấp nào giành
được quyền thống trị, nếu nó không đào tạo ra được hàng ngũ của mình
những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiền phong có đủ khả năng tổ chức và
lãnh đạo phong trào" [28, tr.473].
Khi bàn về vai trò của cán bộ nói chung, cán bộ nữ nói riêng trong sự
nghiệp cách mạng, Hồ Chí Minh luôn luôn đặt cán bộ trong tổng hòa các mối


17
quan hệ đa chiều. Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định: "Cán bộ là những người
đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và
thi hành. Đồng thời đem tình hình dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính
phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng. Vì vậy cán bộ là cái gốc của mọi
công việc" [33, tr.269].

với tổ chức và quyết định mọi sự hoạt động của tổ chức. Hiệu quả hoạt động
trong tổ chức, bộ máy phụ thuộc vào cán bộ. Cán bộ tốt sẽ làm cho bộ máy
hoạt động nhịp nhàng, cán bộ kém sẽ làm cho bộ máy tê liệt "Cán bộ là cái
dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ
dù tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng tê liệt" [33, tr.54].
Kế thừa và phát huy tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn
coi trọng công tác cán bộ, Đảng nhận định: "cán bộ là nhân tố quyết định sự
thành bại của cách mạng gắn liền với vận mệnh của Đảng, của chế độ, là khâu
then chốt trong công tác xây dựng Đảng" [15, tr.273]. Vốn quý nhất của
Đảng, Nhà nước và nhân dân ta là cán bộ - cán bộ nữ là một bộ phận trong
tổng thể cán bộ đó.
Đánh giá về vai trò của phụ nữ đối với lịch sử phát triển đất nước, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Non sống gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng
như già, ra sức thêu dệt mà thêm tốt đẹp rực rỡ" [34, tr.432].
Vai trò của phụ nữ Việt Nam đã được ghi nhận và khẳng định trong suốt
chiều dài của lịch sử dân tộc cũng như hiện nay, ở thời điểm lịch sử nào họ
cũng luôn có những đại diện xứng đáng cho giới của mình trong công cuộc
đấu tranh bảo vệ và phát triển đất nước (từ Hai Bà Trưng, Nguyễn Thị Minh
Khai đến Nguyễn Thị Thập, Nguyễn Thị Định.v.v...). Trong hai cuộc kháng
chiến chống Pháp, chống Mỹ, phụ nữ Việt Nam đã có những cống hiến, hy
sinh to lớn, góp phần làm nên thắng lợi vĩ đại của cả dân tộc; trong công cuộc
xây dựng đất nước trên con đường công nghiệp hóa - hiện đại hóa hiện nay,
chị em tiếp tục đóng vai trò quan trọng, là động lực thúc đẩy sự phát triển
chung của xã hội.


19
Nhận thức vị trí, vai trò quan trọng của phụ nữ nói chung và cán bộ nữ nói
riêng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa,
Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định xây dựng đội ngũ cán bộ nữ, nhất là cán

đây đều đạt trên 25%). Tỷ lệ đại biểu nữ từ năm 2005 đến 2011 tại các cơ
quan dân cử ở địa phương như Hội đồng nhân cấp tỉnh tăng từ 22,3% lên
23,8%, cấp huyện tăng từ 16,6% lên 20,1%.
Trong các cơ quan quản lý nhà nước các cấp, hiện nay nhiều khóa liền
đều có nữ phó chủ tịch nước, nữ bộ trưởng 1/22 chiếm 4,55%, nữ thứ trưởng
4/99 chiếm 4,03%. Đối với các cấp địa phương, ở cấp tỉnh: 1/63 tỉnh, thành có
nữ chủ tịch ủy ban nhân dân (chiếm 1,59%), 31/36 tỉnh, thành có nữ phó chủ
tịch; ở cấp huyện: nữ chủ tịch ủy ban nhân dân là 3,62%, phó chủ tịch ủy ban
nhân dân là 14,48%; ở cấp xã: nữ chủ tịch ủy ban nhân dân là 3,42%, nữ phó
chủ tịch ủy ban nhân dân là 8,84%.
Những con số thống kê trên cho thấy tỷ lệ cán bộ nữ giữ vị trí lãnh
đạo, quản lý hiện nay còn hạn chế, song nhìn chung sự gia tăng số lượng
cán bộ nữ tham gia quản lý nhà nước và các hoạt động chính trị trong
những năm qua đã chứng tỏ được vai trò quan trọng của phụ nữ trong việc
đảm nhận những trọng trách quan trọng trong bộ máy cơ quan Nhà nước từ
Trung ương đến địa phương.
Nhìn lại chặng đường đã qua, phụ nữ Việt Nam đã không ngừng nỗ lực
phấn đấu vươn lên; mặt khác, sự quan tâm, tạo điều kiện của Đảng và Nhà
nước đã tạo môi trường thuận lợi để chị em có cơ hội phát triển toàn diện và
tham gia trên hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội. Những đóng góp tích
cực và cụ thể của phụ nữ vào thành quả của công cuộc đổi mới đã dần làm
thay đổi những định kiến về vai trò của phụ nữ trong xã hội và thừa nhận phụ
nữ có khả năng tham gia lãnh đạo, quản lý không thua kém nam giới, đồng
thời nhìn nhận, đánh giá đúng hơn về vai trò, vị trí của phụ nữ trong các hoạt
động kinh tế - chính trị - xã hội của đất nước.


21
1.2. KHÁI NIỆM, TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ NỮ LÃNH
ĐẠO, QUẢN LÝ

- Chất lượng của cả đội ngũ với tính cách là một chỉnh thể, thể hiện ở cơ
cấu đội ngũ được tổ chức khoa học, có tỷ lệ cân đối, hợp lý về số lượng và độ
tuổi bình quân được phân bố trên các cơ sở địa phương, đơn vị và lĩnh vực
hoạt động của đời sống xã hội.
Các yếu tố cấu thành chất lượng cán bộ không chỉ bao gồm một mặt, một
khía cạnh nào đó, mà nó bao gồm cả một hệ thống được kết cấu như một
chỉnh thể toàn diện từ chất lượng của từng cán bộ (đây là yếu tố cơ bản nhất,
tiên quyết nhất) cho đến cơ cấu số lượng nam, nữ, độ tuổi, thành phần cùng
với việc bồi dưỡng, giáo dục, phân công, quản lý, kiểm tra, giám sát và thực
hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy chính quyền
nhân dân.
Để nâng cao chất lượng của cán bộ cần phải giải quyết tốt mối quan hệ
giữa chất lượng với số lượng cán bộ. Chỉ khi nào hai mặt này quan hệ hài
hòa, tác động hữu cơ với nhau thì mới tạo nên sức mạnh đồng bộ của cả đội
ngũ. Trong thực tế chúng ta cần phải chống hai khuynh hướng, khuynh
hướng thứ nhất là chạy theo số lượng, ít chú trọng đến chất lượng dẫn đến
cán bộ nhiều về số lượng nhưng hoạt động không hiệu quả; khuynh hướng
thứ hai là cầu toàn về chất lượng nhưng không quan tâm đến số lượng khuynh hướng này là một nguyên nhân quan trọng làm cho tuổi đời bình
quân của cán bộ ngày càng cao, hẫng hụt về thế hệ. Trong giai đoạn hiện
nay, điều cần thiết là phải coi trọng chất lượng của cán bộ trên cơ sở bảo
đảm số lượng hợp lý.
Từ những phân tích nêu trên có thể khái niệm: Chất lượng cán bộ nữ
lãnh đạo, quản lý là một hệ thống những phẩm chất, giá trị được kết cấu như
một chỉnh thể toàn diện, thể hiện qua phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo
đức, trình độ năng lực, khả năng hoàn thành nhiệm vụ của mỗi cán bộ nữ
lãnh đạo quản lý và cơ cấu, số lượng, độ tuổi, thành phần của cả đội ngũ cán
bộ nữ lãnh đạo, quản lý.


23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status