Nghiên cứu biến tính vật liệu nano silica, sử dụng làm pha phân tán chế tạo mỡ bôi trơn chống ăn mòn kim loại tt - Pdf 50

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ QUỐC PHÒNG

VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUÂN SỰ

NGUYỄN SƠN NAM

NGHIÊN CỨU BIẾN TÍNH VẬT LIỆU NANO SILICA,
SỬ DỤNG LÀM PHA PHÂN TÁN CHẾ TẠO MỠ BÔI TRƠN
CHỐNG ĂN MÒN KIM LOẠI

Chuyên ngành: Hóa hữu cơ
Mã số:

9440114

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ HÓA HỌC

HÀ NỘI - 2018


Công trình được hoàn thành tại:
VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUÂN SỰ
BỘ QUỐC PHÒNG
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. LÊ THANH SƠN
2. TS. LÊ QUANG TUẤN
Phản biện 1:
GS.TS. ĐINH THỊ NGỌ
Đại học Bách khoa Hà Nội

ngắn, không ổn định thể keo. Để khắc phục các hạn chế trên, nhiều nhà
khoa học đã nghiên cứu một số chất làm đặc có nguồn gốc vô cơ nhằm
cải thiện các tính năng sử dụng của mỡ, trong đó có silica. Tuy nhiên,
việc nghiên cứu và ứng dụng silica trong chế tạo mỡ hiện vẫn có một số
hạn chế như: kích thước hạt silica lớn nên ảnh hưởng đến chất lượng
mỡ; bề mặt silica có các nhóm chức phân cực, ưa nước (-OH), các nhóm
này làm cho khả năng tương hợp của silica với môi trường phân tán dầu
là rất thấp. Với một số hạn chế trên, việc nghiên cứu và ứng dụng silica
trong chế tạo mỡ bôi trơn chống ăn mòn kim loại chưa có nhiều công
bố. Để khắc phục một số hạn chế trong chế tạo mỡ với chất làm đặc
silica, từ đó chế tạo một hệ mỡ có các tính năng ưu việt, luận án lựa
chọn “Nghiên cứu biến tính vật liệu nano silica, sử dụng làm pha phân
tán chế tạo mỡ bôi trơn chống ăn mòn kim loại” làm nội dung nghiên
cứu.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Luận án được thực hiện nhằm mục tiêu biến tính nano silica chế tạo
từ tro trấu, sử dụng làm pha phân tán chế tạo mỡ bôi trơn chống ăn


2
mòn kim loại. Đây là loại mỡ có khả năng đáp ứng được các yêu cầu
thực tế, ứng dụng trong điều kiện khí hậu Việt Nam, nhất là trong lĩnh
vực quân sự.
3. Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu, lựa chọn phương pháp chế tạo silica có kích thước nano mét.
- Nghiên cứu biến tính làm tăng khả năng ưa dầu của nano silica.
- Nghiên cứu hình thái cấu trúc của nano silica trước và sau khi biến tính.
- Nghiên cứu, lựa chọn môi trường phân tán để chế tạo mỡ bôi trơn
chống ăn mòn kim loại.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phụ gia trong mỡ.

nghiên cứu silica có kích thước nano mét và ở dạng vô định hình. Đặc
điểm chính về cấu trúc của nano silica ở dạng vô định hình là có cấu
trúc mạng lưới 3 chiều và các nhóm silanol (≡Si-OH) được tạo ra trên
bề mặt nano silica. Do có nhóm silanol trên bề mặt nên các hạt silica
có khả năng hút ẩm và dễ dàng kết tụ ngay ở nhiệt độ phòng.
Silica có thể được chế tạo từ rất nhiều các phương pháp khác nhau
như: phương pháp phun khói, phương pháp kết tủa và phương pháp
sol-gel. Tuy nhiên hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam, đã và
đang nghiên cứu chế tạo silica với quy mô công nghiệp và giá thành rẻ.
Đó là chế tạo silica từ các phế phẩm nông nghiệp, trong đó có vỏ trấu.
1.1.2. Nano silica biến tính hữu cơ
Vật liệu silica có giá trị sử dụng cao trong nhiều lĩnh vực khác nhau,
tuy vậy, trên bề mặt silica có các nhóm -OH phân cực, ưa nước. Vì
vậy, để nâng cao khả năng tương hợp của silica với các loại vật liệu
như: sơn, cao su tổng hợp, nhựa, chất kết dính, chất bịt kín, mỡ bôi
trơn hoặc vật liệu cách nhiệt,... thì bề mặt hạt silica cần phải được biến
tính sao cho bề mặt hạt chuyển từ dạng ưa nước sang kị nước. Về
nguyên tắc, cần phải hữu cơ hóa bề mặt silica bằng cách thay thế các
nhóm hiđroxyl bằng các nhóm hiđrocacbon. Hiện có nhiều phương


4
pháp để biến tính silica, trong đó biến tính bằng phương pháp hóa học
tỏ ra khá hiệu quả. Trong nội dung nghiên cứu này, để sử dụng silica làm
chất làm đặc chế tạo mỡ bôi trơn chống ăn mòn kim loại, đã biến tính
silica chế tạo từ tro trấu bằng các tác nhân là nhựa epoxy,
hexametylđisilazan (HMDS) và n-butanol.
1.2. Mỡ bôi trơn chống ăn mòn kim loại
1.2.1. Khái quát chung về mỡ bôi trơn chống ăn mòn kim loại
1.2.2. Pha phân tán của mỡ bôi trơn chống ăn mòn kim loại

dầu nhờn có thể thay đổi trong khoảng từ (70 ÷ 90) % khối lượng. Tỉ
lệ dầu nhờn cao hay thấp, tính chất tốt hay xấu có ảnh hưởng trực tiếp
đến tính chất của mỡ nên việc chọn dầu để sản xuất mỡ nhờn là một
việc rất quan trọng. Một số loại dầu được sử dụng làm pha phân tán cho
mỡ như: dầu khoáng (có thành phần cơ bản gồm các nhóm hiđrocacbon
naphten - parafin và nhóm hiđrocacbon thơm - hiđrocacbon naphtenthơm) và dầu tổng hợp. Dầu tổng hợp có một số ưu điểm nhất định, tuy
nhiên do chi phí cao nên ít được sử dụng.
1.2.4. Phụ gia cho mỡ bôi trơn chống ăn mòn kim loại
Để cải thiện một số tính chất của mỡ cần phải cho thêm vào mỡ
một số loại phụ gia. Trên thực tế, phụ gia là một hoặc tổ hợp các chất
hóa học được thêm vào nhằm cải thiện tính năng cho mỡ. Phụ gia hoạt
động theo những tương tác vật lý hoặc hóa học và chúng có thể tác
động tương hỗ hoặc đối kháng. Khi thêm phụ gia vào để cải thiện
một số tính chất của mỡ (tăng khả năng bảo vệ, chống ăn mòn kim
loại, tăng khả năng chịu mài mòn, chống xước,...) cần phải tính toán
sao cho phù hợp với các thành phần của mỡ. Nếu các phụ gia này
không tan trong môi trường dầu hoặc có thể sẽ làm giảm tác dụng
của các loại phụ gia khác thì sẽ không thể sử dụng được. Vì vậy,
khi cho thêm phụ gia cần phải khảo sát tác dụng tương hỗ qua lại
giữa các phụ gia với nhau, sự tương tác giữa phụ gia và môi trường


6
phân tán cũng như khảo sát các cơ chế hoạt động của chúng. Từ đó,
đề xuất loại phụ gia tối ưu nhất, tương ứng với từng loại mỡ và từng
nhu cầu sử dụng.
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên
cứu về các loại phụ gia cho mỡ bôi trơn chống ăn mòn kim loại. Với các
loại mỡ có thành phần là dầu khoáng và chất làm đặc silica, hiện chưa
có nhiều công trình nghiên cứu về phụ gia. Qua nghiên cứu, tổng hợp

- Các phương pháp phân tích hoá lí hiện đại như: FT-IR, SEM,
TEM, TG/DTA, BET, đo góc tiếp xúc động.
- Các phương pháp đo, khảo sát và đánh giá sản phẩm.
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Chế tạo và xác định các đặc trưng của nano silica và nano
silica biến tính hữu cơ
3.1.1. Chế tạo và xác định đặc trưng của nano silica
- Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình chế tạo nano silica từ vỏ trấu:
Để chế tạo silica từ vỏ trấu, cần phải xử lý sơ bộ vỏ trấu, sau đó cho
vào lò nung và nung trong một khoảng thời gian và nhiệt độ nhất định.
Nhiệt độ nung và thời gian nung là hai yếu tố quan trọng trong quy
trình chế tạo silica. Chính vì vậy, trong phần này, sẽ tập trung vào
nghiên cứu đánh giá sự ảnh hưởng của nhiệt độ nung và thời gian nung
đến hiệu suất chế tạo silica.
Kết quả thực nghiệm cho thấy, ở cùng một nhiệt độ khi thời gian
nung tăng lên thì hiệu quả chế tạo silica tăng lên. Nhiệt độ nung cũng
có ảnh hưởng tương tự, trong cùng một khoảng thời gian, nếu nhiệt độ
nung tăng thì lượng silica chế tạo được cũng tăng. Tuy nhiên ở nhiệt
độ thấp (400 oC) và thời gian ngắn (4 giờ) thì sự ảnh hưởng của các
yếu tố này là không lớn lắm. Mặt khác, khi tiếp tục tăng nhiệt độ nung


8
lên trên 600 oC và thời gian nung lên trên 6 giờ thì khối lượng silica
thu được gần như không có sự thay đổi.
Như vậy, về mặt năng lượng và khối lượng silica thu được, đã lựa
chọn phương án nung trấu ở nhiệt độ 500 oC trong thời gian 5 giờ. Với
nhiệt độ và thời gian nung như vậy, lượng silica thu được đạt 11,53 %
trên lượng vỏ trấu đem nung.
- Đặc trưng của nano silica chế tạo từ vỏ trấu: Khi nghiên cứu hình


Hình 3.7: Mô hình cấu trúc mỡ bôi trơn
Việc xác định đặc điểm hình thái cấu trúc của vật liệu silica chế tạo
từ vỏ trấu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Thông qua các kết quả đo
được về silica, có thể giải thích được cơ chế làm đặc của silica, từ đó
lựa chọn môi trường phân tán, lựa chọn tỉ lệ chất làm đặc phù hợp, lựa


10
chọn phụ gia tương hợp, lựa chọn quy trình chế tạo mỡ,… Thật vậy,
để giải thích về cơ chế làm đặc của silica trong môi trường dầu khoáng,
cần phải căn cứ vào hình thái cấu trúc của silica và quá trình hình thành
gel giữa silica và dầu. Khi phân tán silica vào trong môi trường dầu,
các phần tử dầu sẽ chui vào trong các mạng lưới không gian của silica.
Khi đó, các mạng lưới silica sẽ chứa đầy các hạt dầu. Hỗn hợp gồm
dầu và silica sẽ tạo gel và hình thành mỡ (hình 3.7).
3.1.2. Các đặc trưng của nano silica biến tính hữu cơ
3.1.2.1. Silica/nhựa epoxy
Ảnh SEM của mẫu silica sau khi biến tính bằng nhựa epoxy cho
thấy, các hạt silica có hình cầu và kích thước không thay đổi nhiều
(khoảng 40 ÷ 60 nm). Kết quả xác định phổ hồng ngoại chuyển hóa
fourier của silica chưa biến tính có một số pic đặc trưng như: pic ở số
sóng 3468 cm-1, đặc trưng cho dao động liên kết của các nhóm -OH tự
do; pic 1101 cm-1 là dao động bất đối xứng của Si-O-Si; pic ở 966 cm-1
là của Si-O trong nhóm silanol; pic ở 810 cm-1 là dao động đối xứng
của Si-O-Si trong mạng silica; pic 1652 cm-1 là của các phân tử nước
hấp phụ vật lý bao quanh silica. Sau biến tính bằng nhựa epoxy, đã xuất
hiện các đỉnh pic mới của silica biến tính so với silica chưa biến tính.
Đó là các đỉnh ở các vị trí số sóng 2863 cm-1 và 2965 cm-1, đặc trưng
cho dao động hóa trị của nhóm -CH2- trong mạch cacbon của epoxy.

để chế tạo mỡ bôi trơn chống ăn mòn kim loại.
3.1.2.3. Silica/n-butanol


12
Khi nghiên cứu hình thái cấu trúc bề mặt hạt silica biến tính bằng
n-butanol, kết quả ảnh SEM vật liệu cho thấy, mẫu silica sau khi biến tính
có kích thước hạt trong khoảng từ (40 ÷ 50) nm và tương đối đồng đều.
Sự hiện diện của các nhóm butoxyl trên bề mặt nano silica được chứng
minh thông qua phổ hồng ngoại. Các pic xuất hiện ở vị trí 2997 cm-1 và
2887 cm-1 đặc trưng cho dao động đối xứng và bất đối xứng của liên
kết C-H trong các nhóm metylen và nhóm metyl. Ngoài ra, các đỉnh hấp
thụ ở 1413 cm-1, 1487 cm-1 đặc trưng cho dao động của nhóm metyl.
Từ kết quả đo phổ hồng ngoại, có thể dự đoán sự hình thành liên kết
giữa nano silica và n-butanol theo sơ đồ sau:
≡Si-OH + CCl4 → ≡Si-Cl + HO-CCl3
≡Si-Cl + CH3-CH2-CH2-CH2-OH → ≡Si-O-CH2-CH2-CH2-CH3 + HCl

Để làm rõ hơn về sự thay đổi bề mặt silica sau biến tính, đã tiến
hành đo góc tiếp xúc động. Kết quả đo góc tiếp xúc động của silica
biến tính n-butanol là 99,35o. Như vậy, bề mặt của silica sau khi biến
tính bằng n-butanol đã thay đổi từ ưa nước sang ít ưa nước hơn. Kết
quả đo phân tích nhiệt khối lượng khẳng định thêm về sự thay đổi này,
trên giản đồ của silica/n-butanol có một pic tỏa nhiệt ở 283 oC, đây là
phản ứng cháy của các nhóm butoxyl. Từ đó có thể khẳng định các
nhóm butoxyl đã được gắn trên bề mặt nano silica.
Qua kết quả nghiên cứu về silica biến tính, có thể kết luận là quá
trình biến tính đã được thực hiện, silica đã chuyển từ dạng ưa nước sang
dạng kị nước. Quá trình này có một ý nghĩa rất quan trọng trong chế tạo
mỡ bôi trơn, chống ăn mòn kim loại. Ngoài vai trò làm tăng khả năng

BS150
245
220
Màu trắng, không mịn
Căn cứ vào kết quả thử nghiệm trong Bảng 3.4, nếu sử dụng dầu
SN150 với thành phần chất làm đặc 20 %, mỡ có nhiệt độ nhỏ giọt thấp
hơn so với mỡ sử dụng hai loại dầu còn lại. Mặt khác, trong quá trình
chế tạo, các mẫu mỡ có chứa SN150 ở nhiệt độ phân tán chất làm đặc
cao (>150 oC), dầu dễ bị bay hơi. Bên cạnh đó, dầu SN150 có độ nhớt
động học ở 100 oC tương đối thấp, do đó không thích hợp chế tạo mỡ sử
dụng trong môi trường nhiệt độ cao. Đối với dầu BS150, mỡ cho nhiệt
độ nhỏ giọt tương đối cao, độ xuyên kim phù hợp. Tuy nhiên mỡ không
mịn, ít đồng nhất hơn so với các mẫu thí nghiệm sử dụng dầu SN500.
Thử nghiệm đối với dầu SN500, mỡ có cảm quan trắng, mịn, nhiệt độ
nhỏ giọt 235 oC, độ xuyên kim 26,7 mm, thích hợp để chế tạo mỡ bôi


14
trơn chống ăn mòn kim loại. Như vậy, việc lựa chọn dầu SN500 là phù
hợp với mục đích nghiên cứu tiếp theo của đề tài.
3.2.2. Nghiên cứu lựa chọn tỉ lệ thành phần chất làm đặc
Nguyên tắc của việc xác định tỉ lệ chất làm đặc/dầu là tăng dần hàm
lượng chất làm đặc silica. Song song với đó là tiến hành kiểm tra các
tính chất của mỡ, dựa vào các tính chất đó để lựa chọn hàm lượng chất
làm đặc thích hợp. Cụ thể, với mỗi một loại silica được biến tính bởi
các tác nhân khác nhau sẽ được khảo sát với các tỉ lệ silica/dầu khoáng
SN500 lần lượt là: 11/85, 13/83, 15/81, 17/79, 19/77, 21/75. Thành phần
và tính chất của các loại mỡ khảo sát khi thay đổi tỉ lệ chất làm đặc được
đưa ra trên các bảng 3.5, bảng 3.6 và bảng 3.7 (Trong đó: CT1- Nhiệt
độ nhỏ giọt, oC; CT2- Độ xuyên kim, 10-1 mm; CT3- Độ ổn định keo,

447

403

331

265

208

6,1

4,9

4,1

3,5

3,0

Mềm

Mềm

Dẻo

Dẻo

Quánh


một giá trị nhất định thì nhiệt độ nhỏ giọt không tăng nữa. Tỉ lệ này
đối với mỡ SE và SH là 17/79, mỡ SB là 19/77. Về độ xuyên kim, khi
tăng tỉ lệ chất làm đặc thì độ xuyên kim của mỡ giảm đi rất nhanh.
Bảng 3.6: Thành phần và tính chất của mỡ được chế tạo
từ chất làm đặc nano silica biến tính HMDS (SH)
Tên
chỉ
tiêu
CT1
CT2

Tỉ lệ nano silica biến tính HMDS/dầu SN500
11/85 13/83 15/81 17/79 19/77
-

CT3
CT4

Lỏng

21/75

159

172

235

235


Quánh

Phương
pháp
thử
ASTM
D2265
ASTM
D217
ASTM
D6184

Bảng 3.7: Thành phần và tính chất của mỡ được chế tạo
từ chất làm đặc nano silica biến tính n-butanol (SB)
Tên
chỉ
tiêu
CT1
CT2
CT3

Tỉ lệ nano silica biến tính n-butanol/dầu SN500
11/85 13/83 15/81 17/79 19/77
-

21/75

Phương
pháp
thử

3,0

2,5

2,4

ASTM


16
D6184
CT4

Lỏng

Mềm

Mềm

Dẻo

Dẻo

Quánh

Về độ ổn định keo, khi hàm lượng chất làm đặc tăng lên, độ tách
dầu của mỡ giảm đi. Ở tỉ lệ chất làm đặc 19/77, mỡ chế tạo từ SH và
SB đạt giá trị 2,5 %, mỡ chế tạo từ SE có độ tách dầu cao hơn (3,5 %).
Căn cứ vào mục đích chế tạo mỡ bôi trơn chống ăn mòn kim loại
có khả năng sử dụng được ở các điều kiện khắc nghiệt, đã lựa chọn

tăng hàm lượng điphenylamin lên, độ giảm áp suất của mỡ tiếp tục
giảm đi. Với khoảng 0,4 % khối lượng điphenylamin thì áp suất giảm
2 psi. Tuy nhiên, nếu tiếp tục tăng lượng điphenylamin lên, độ giảm
áp suất của mỡ không thay đổi. Tương tự khảo sát độ bền oxi hóa của
các loại mỡ SE, SB với phụ gia điphenylamin cũng cho kết quả tương
tự, mặc dù mức độ bền oxi hóa của mỡ SE và SB thấp hơn một chút
so với mỡ SH. Từ các kết quả nghiên cứu trên, đã lựa chọn phụ gia
điphenylamin làm tác nhân chống oxi hóa cho mỡ với hàm lượng
khoảng 0,4 đến 0,5 % khối lượng.
3.3.1.3. Sự ảnh hưởng của phụ gia chống gỉ P89
Mục đích của luận án là chế tạo mỡ bôi trơn chống ăn mòn kim loại.
Vì thế yếu tố bảo vệ bề mặt kim loại, chống lại sự tạo gỉ là một yếu tố
quan trọng mà mỡ cần phải đạt được. Hiệu quả bảo vệ kim loại của P89
được nghiên cứu khảo sát thông qua mối quan hệ giữa hàm lượng phụ
gia P89 và hiệu quả bảo vệ kim loại. Phép đo được thực hiện theo
TCVN 7699-2-52: 2007, trên các mẫu kim loại thép (CT3), đồng, nhôm
phủ mỡ. Phép đo áp dụng mức khắc nghiệt 3, gồm 4 chu kỳ phun (1chu
kỳ = 24 giờ). Trong mỗi chu kỳ, phun sương muối liên tục trong 2 giờ,
sau đó lưu trữ bảo quản ẩm từ (20 ÷ 22) giờ. Sau 4 chu kỳ phun sương
muối là giai đoạn bảo quản 3 ngày trong điều kiện khí quyển tiêu chuẩn
thử nghiệm (nhiệt độ (23 ± 2) oC; độ ẩm từ (45 ÷ 55) %). Sau quá trình
thử nghiệm theo mức khắc nghiệt 3, tiến hành kiểm tra hoạt động của


18
kênh ngày và kênh đêm. Cả hai kênh đều hoạt động bình thường. Bề
mặt màng phủ trên các kênh mẫu phủ màng mỡ không phụ gia của các
loại mỡ SE, SH, SB trên thép CT3 bị ăn mòn nhiều, mức độ gỉ rất cao
(90 %), bề mặt lớp mỡ bị thay đổi màu sắc. Thử nghiệm trên kim loại
đồng và nhôm cũng cho kết quả tương tự. Tuy nhiên, nhôm có mức độ

01
02
03
04
05
06

Hàm lượng
tricrezyl photphat,
% KL
0
0,1
0,2
0,3
0,4
0,5

Đường kính vết mài mòn, mm
Mỡ SE

Mỡ SH

Mỡ SB

1,60
1,08
0,79
0,62
0,47
0,47

độ có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của mỡ. Sự thay đổi nhiệt độ


20
trong từng giai đoạn chế tạo có ảnh hưởng nhiều tới chất lượng mỡ
trong quá trình sử dụng. Trong đó, quan trọng nhất là giai đoạn làm
nguội hỗn hợp mỡ. Trong thử nghiệm này, các mẫu mỡ khảo sát được
chế tạo với tỉ lệ chất làm đặc là 19/77, phương pháp khảo sát được lựa
chọn từ 2 chế độ làm nguội:
Chế độ 1: làm nguội nhanh bằng nước.
Chế độ 2: làm nguội chậm, tốc độ 1 oC/phút.
Kết quả thực nghiệm cho thấy, mỡ được làm nguội ở chế độ 2 cho
kết quả tốt hơn, mỡ có độ xuyên kim ổn định, độ ổn định keo cao.
3.3.3. Ảnh hưởng của tốc độ khuấy đến chất lượng mỡ
Qua nghiên cứu, tốc độ khuấy tối ưu cho các giai đoạn được đưa ra
trong bảng 3.14.
Bảng 3.14: Tốc độ khuấy trong các giai đoạn chế tạo mỡ
Tốc độ khuấy của các loại mỡ, vòng/phút
Mỡ SE
Mỡ SH
Mỡ SB
Phân tán silica vào dầu 110÷120
90÷100
110÷120
Tạo mỡ
50
50
30÷40
Làm lạnh, ổn định mỡ Không khuấy Không khuấy Không khuấy
Giai đoạn chế tạo mỡ

Từ kết quả thử nghiệm cho thấy, các mẫu mỡ đều có độ ổn định thể
keo trong giới hạn cho phép.
3.4.3. Nghiên cứu khả năng bôi trơn, giảm mài mòn của mỡ
Bảng 3.17: Kết quả đo khả năng giảm mài mòn của mỡ
Mẫu mỡ
Chỉ tiêu
MSE
MSH
MSB
Đường kính vết mài mòn, mm
0,46
0,52
0,53
Giới hạn đường kính vết mài
1
1
1
mòn, mm
Kết quả thực nghiệm được đưa ra trên Bảng 3.17 cho thấy, các loại
mỡ chế tạo được đều có khả năng giảm mài mòn trong giới hạn cho
phép. Các giá trị đo được đều nhỏ hơn 1 mm, trong đó mỡ MSE có giá


22
trị nhỏ nhất (0,46 mm), tức là khả năng giảm mài mòn của MSE là tốt
nhất, tiếp đến là mỡ MSH và MSE.
3.4.4. Áp dụng phương pháp thử gia tốc trong tủ khí hậu để đánh
giá khả năng bảo vệ kim loại
Để đánh giá khả năng bảo vệ kim loại của mỡ trong điều kiện thử
nghiệm gia tốc theo tiêu chuẩn ГОСТ 9054-75, đã tiến hành thử nghiệm

khoảng giới hạn cho phép (


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status