Luận văn thạc sĩ chính trị học đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của HĐND cấp xã ở huyện thanh trì - Pdf 50

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...........................................................................................................1
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ
PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA HĐND CẤP XÃ.............................8
1.1. Cấp xã, chức năng cấp xã...........................................................................8
1.2. Chính quyền cấp xã và đặc điểm HĐND cấp xã......................................10
1.3. Nội dung đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của HĐND cấp xã.....27
1.4. Tầm quan trọng của đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của
HĐND cấp xã..................................................................................................31
Chương 2. THỰC TRẠNG ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG THỨC
HOẠT ĐỘNG CỦA HĐND CẤP XÃ Ở HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH
PHỐ HÀ NỘI.................................................................................................36
2.1. Khái quát về HĐND cấp xã ở huyện Thanh Trì.......................................36
2.2. Thực trạng đổi mới tổ chức của HĐND cấp xã ở huyện Thanh Trì...............41
2.3. Thực trạng đổi mới phương thức hoạt động của HĐND cấp xã ở huyện
Thanh Trì.........................................................................................................48
Chương 3. QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ
PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA HĐND CẤP XÃ Ở HUYỆN
THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY....................................68
3.1. Quan điểm đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của HĐND cấp xã
trong bộ máy nhà nước....................................................................................68
3.2. Một số giải pháp nhằm đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của
HĐND cấp xã ở huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội hiện nay......................73
KẾT LUẬN....................................................................................................97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................99


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1. HĐND:


Thanh Trì nhiệm kỳ 2004 - 2011 và nhiệm kỳ 2011 - 2016............46
Bảng 2.6: Về chuyên môn của Thường trực HĐND cấp xã ở huyện
Thanh Trì nhiệm kỳ 2004 - 2011 và nhiệm kỳ 2011 - 2016............47


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong bộ máy Nhà nước ta, Hội đồng nhân dân (HĐND) là cơ quan
quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền
làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước
nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. HĐND cấp xã là cơ quan
quyền lực nhà nước ở cấp xã. Với tính chất đó, HĐND cấp xã nước ta có vai
trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo quyền lực nhân dân, phát huy dân
chủ, đảm bảo hiệu lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước. Vì vậy,
nâng cao năng lực hoạt động của HĐND các cấp trong đó có HĐND cấp xã là
một trong những nhiệm vụ rất cơ bản của quá trình xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay.
Chính quyền cấp xã là nơi gần dân nhất, trực tiếp giải quyết các công
việc cụ thể của dân, là nơi gắn bó giữa chính quyền với người dân. Thực tiễn
cho thấy ở đâu chính quyền xã mạnh thì ở đó mọi chủ trương của Đảng, pháp
luật của Nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh, ở đâu chính quyền xã kém
thì ở đó đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá của nhân dân gặp nhiều khó khăn,
trật tự an ninh không được đảm bảo, quyền làm chủ của nhân dân không được
phát huy.
HĐND cấp xã là cơ quan quyền lực nhà nước ở cơ sở, trong suốt quá
trình hoạt động HĐND cấp xã luôn luôn được xây dựng, đổi mới và đã từng
bước trưởng thành, hoàn thiện đóng góp một vai trò hết sức quan trọng trong
tổ chức bộ máy nhà nước, góp phần đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài:
2.1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến cấp xã
và HĐND cấp xã


3

Vấn đề tổ chức và hoạt động của HĐND nói chung và HĐND xã nói
riêng là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội như: Luật
học, Lý luận lịch sử nhà nước và pháp luật, Hành chính học, Chính trị
học... cho nên có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề này đã
được công bố như:
Hoàng Chí Bảo (Chủ biên), Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn nước
ta hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004. Ở đây các tác giả đã đề
cập đến việc thay đổi cơ cấu HĐND xã, tăng cường số lượng đại biểu là dân,
là quần chúng ngoài Đảng, áp dụng những biện pháp tăng thẩm quyền, quyền
hạn của HĐND trong việc kiểm tra, giám sát UBND...
Chu Văn Thành (chủ biên), Hệ thống chính trị cơ sở: thực trạng và một
số giải pháp đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 2004. Các tác giả đã
nghiên cứu, khảo sát có hệ thống về thực trạng tổ chức hoạt động của Hệ
thống chính trị địa phương trên phạm vi cả nước và đi tới nhận định rằng
HĐND, UBND cấp xã luôn giữ vị trí vai trò trọng tâm trong nâng cao chất
lượng hệ thống chính trị cơ sở, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đổi mới. Từ đó
các tác giả đã đề ra phương hướng và một số giải pháp thiết thực để củng cố về
tổ chức, hoạt động của HĐND, UBND, góp phần đổi mới, nâng cao chất lượng
của hệ thống chính trị cơ sở.
Đào Trí Úc (chủ biên), Mô hình tổ chức và hoạt động của Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Tư pháp Hà Nội, 2004. Trong tác
phẩm này tác giả tập trung phân tích và kiến nghị về mô hình tổ chức và hoạt
động của chính quyền địa phương trong đó đặc biệt chú ý đến mô hình của

Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 2/2003.
Nguyễn Quốc Tuấn, “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động
của HĐND và UBND các cấp”, Tổ chức nhà nước, số 4/2004...
Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc khóa VI-XI
2.1. Các tài liệu nghiên cứu liên quan đến HĐND và đổi mới tổ chức,
phương thức hoạt động của HĐND cấp xã ở huyện Thanh Trì


5

Thành ủy Hà Nội, Đề án 04-ĐA/TU ngày 19/10/2012 của Ban Thường
vụ Thành ủy về “Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của
HĐND các cấp thành phố Hà Nội giai đoạn 2011-2016”.
Thường trực HĐND thành phố Hà Nội, Đề án về “Đổi mới công tác
tiếp công dân của đại biểu HĐND thành phố Hà Nội khóa XIV, nhiệm kỳ
2011-2016 ”.
Vấn đề về tổ chức bộ máy nhà nước nói chung và vấn đề đổi mới tổ
chức hoạt động của HĐND cấp xã nói riêng được rất nhiều nhà khoa học
quan tâm nghiên cứu nhưng các công trình nghiên cứu chủ yếu tiếp cận
HĐND từ góc độ Nhà nước và Pháp luật một cách khái quát, còn ở góc độ
Chính trị học, khi đặt vấn đề tổ chức và hoạt động của HĐND cấp xã trong
việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chưa có một tác giả nào
nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện. Vì vậy vấn đề đổi mới tổ chức và
hoạt động của HĐND cấp xã là vấn đề quan trọng, cần thiết trong quá trình
đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích: Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và đánh giá
đúng thực trạng việc đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của HĐND
cấp xã ở huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, từ đó đề xuất những quan điểm,
giải pháp tiếp tục đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của HĐND cấp

riêng; về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của HĐND trong bộ máy nhà nước
Luận văn còn được nghiên cứu trên cơ sở các số liệu được điều tra,
khảo sát về tổ chức và hoạt động của HĐND cấp xã huyện Thanh Trì.
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên
cứu cụ thể như: Phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích tài liệu; phương
pháp thống kê, phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp so sánh...
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn.


7

Về mặt lý luận: Thông qua việc phân tích đánh giá thực trạng tổ chức
và phương thức hoạt động của HĐND cấp xã ở huyện Thanh Trì, từ đó tác giả
đưa ra được những giải pháp nhằm đổi mới HĐND cấp xã trong giai đoạn
hiện nay. Nếu đạt được yêu cầu trên, tác giả hy vọng luận văn sẽ góp phần
nhận thức sâu hơn về HĐND cấp xã, đặc biệt là vai trò của nó trong bộ máy
nhà nước.
Về mặt thực tiễn: Kết quả luận văn có thể áp dụng thực tiễn đổi mới tổ
chức và phương thức hoạt động của HĐND cấp xã ở huyện Thanh Trì, thành
phố Hà Nội hiện nay, cũng như làm tài liệu tham khảo việc nghiên cứu, giảng
dạy về nhà nước, pháp luật, về quyền lực nhà nước và các cơ quan quyền lực
nhà nước, về hệ thống chính trị cơ sở... ở các trường đào tạo cán bộ của Đảng
và Nhà nước cấp huyện.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục
luận văn được kết cấu thành 3 chương, 9 tiết.


8


chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp
luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ
của nhân dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc
sống của cộng đồng dân cư.
Cấp xã là đơn vị cấp thấp nhất, vì thế Chính quyền cấp xã chỉ bao gồm
HĐND và UBND. Qua đó có thể hiểu, cấp xã là một cấp cuối cùng trong hệ
thống chính quyền 4 cấp của Việt Nam, là nơi trực tiếp thực hiện các chủ
trương chính sách của Đảng và Nhà nước, các mục tiêu kinh tế, văn hóa, xã
hội, an ninh quốc phòng ở cơ sở, thực hiện việc quản lý hành chính nhà nước
trên địa bàn.
Từ những phân tích trên đây, có thể nêu khái quát khái niệm cấp xã như
sau: Cấp xã là cấp thấp nhất trong hệ thống chính quyền 4 cấp ở Việt Nam,
thực hiện quyền lực nhà nước ở cơ sở, có chức năng thay mặt nhân dân địa
phương, căn cứ vào nguyện vọng của nhân dân địa phương, quyết định và tổ
chức thực hiện những vấn đề có liên quan đến phát triển kinh tế, văn hóa, xã
hội, an ninh, quốc phòng và đời sống của nhân dân địa phương, theo Hiến
pháp, pháp luật và các mệnh lệnh, quyết định của cấp trên.
1.1.2. Chức năng của cấp xã:
- Tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật tại địa
phương; quyết định các vấn đề của của địa phương do luật định; chịu sự kiểm
tra, giám sát của cơ quan nhà nước cấp trên.
- Quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm
năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế - xã hội,
không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa
phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước.
- Chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan
nhà nước cấp trên nhằm bảo đảm thực hiện chủ trương, biện pháp phát triển
kinh tế - xã hội và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn.




11

phân bố rộng khắp từ Bắc vào Nam, từ miền xuôi lên miền núi, đến các hải
đảo. Tổ chức dân cư ở làng xã nước ta mang tính quần cư hơn là hỗn cư. So
với các thành phố, thị xã trong các thôn, làng thường có quan hệ họ hàng,
dòng tộc, có nhiều làng chỉ có một dòng tộc, mặt khác với địa hình kéo dài
núi non, sông ngòi phức tạp đã chia lãnh thổ Việt Nam thành những vùng đất
nhỏ hẹp khác nhau, vì vậy mật độ dân cư của các làng xã cũng khác nhau. Xã
đông dân cư chủ yếu tập trung ở các vùng đồng bằng, xã có dân cư ít nhưng
lại sống trên một diện tích đất đai rộng lớn chủ yếu là các xã miền núi, vùng
sâu, vùng xa.
Với một tỷ lệ dân số đông được phân bố rộng khắp trên phạm vi cả
nước là một lợi thế để huy động nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội,
phát triển nông nghiệp, nông thôn, bảo vệ và giữ vững an ninh quốc phòng
của đất nước. Nhưng nó cũng gây nhiều khó khăn cho việc quản lý dân cư,
giải quyết công ăn việc làm, đảm bảo an ninh trật tự an toàn xã hội.
- Về phát triển kinh tế xã hội, nếu như ở các thành phố, nhất là các
thành phố lớn, việc phát triển kinh tế chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực công
nghiệp, dịch vụ, thương mại. Còn ở nông thôn kinh tế chủ đạo vẫn là sản xuất
nông nghiệp, chăn nuôi, trồng trọt, tiểu thủ công nghiệp.
- Về văn hoá, xuất phát từ đặc điểm của dân tộc Việt Nam, trải qua
hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam vẫn phải đấu tranh
chống lại thiên tai, địch hoạ vừa xây dựng đất nước. Do đó tạo cho dân tộc
Việt Nam một nền văn hoá đa dạng, phong phú, giàu bản sắc, một trong
những nét đặc trưng của văn hoá làng xã Việt Nam và Hương ước, lệ làng.
Hương ước, lệ làng Việt Nam có quá trình hình thành, tồn tại và phát
triển qua nhiều thế kỷ. Gắn liền với mọi biến cố thăng trầm về chính trị, kinh
tế, văn hoá, xã hội, Hương ước là sản phẩm mang tính pháp lý do dân làng
sáng tạo ra. Các cộng đồng làng xã đã sử dụng nó làm thước đo chuẩn mực để

đó yêu cầu phải tổ chức được mô hình chính quyền có cơ cấu tổ chức hợp lý,


13

khoa học với cơ chế quản lý thích hợp để bảo đảm tổ chức quyền lực nhà
nước ở cơ sở.
1.2.1.2. Vị trí, vai trò của chính quyền xã trong bộ máy nhà nước.
Chính quyền xã (cấp xã gồm: xã, phường, thị trấn), là một cấp trong hệ
thống hành chính bốn cấp trong bộ máy Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, là nền tảng của hệ thống chính trị. Là cơ sở thực tiễn để hình thành
cũng như thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước, chính quyền xã có HĐND và UBND.
Đánh giá về vấn đề này GS.TS Hoàng Chí Bảo trong cuốn Hệ thống
chính trị ở cơ sở nông thôn nước ta hiện nay đã khẳng định:
Chính quyền cơ sở cấp xã là trung tâm của hệ thống chính trị ở cơ sở,
có vai trò quan trọng thể hiện trên những mặt chủ yếu sau:
Một là, hệ thống chính quyền cơ sở là hệ thống quyền lực có địa bàn
rộng lớn nhất, có quan hệ trực tiếp nhất với cơ sở, nhân dân.
Hai là, tất cả các quy định, chỉ thị, hướng dẫn của cơ quan Nhà nước
cấp trên có được triển khai thực hiện ở nông thôn hay không, hiệu quả đến
dân đều phải thông qua chính quyền cấp xã.
Ba là, nhân dân gắn bó, tin tưởng vào Đảng, Nhà nước như thế nào
cũng thông qua hoạt động quản lý của chính quyền và quyền lực của cán bộ
chính quyền cơ sở với dân trong việc giải quyết những nhu cầu dân sinh, dân
chủ, dân quyền.
Bốn là, sức mạnh hiệu lực, hiệu quả quản lý của chính quyền cơ sở là ở
nơi dân, là việc quy tụ được lòng dân, phát huy tình đoàn kết, truyền thống
làng xã, tinh thần làm chủ của nhân dân.
Năm là, hệ thống chính trị cơ sở có phát huy được vai trò lãnh đạo, tổ

cấp bầu là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa
phương, chịu trách nhiệm trước HĐND và cơ quan hành chính nhà nước cấp


15

trên; UBND tổ chức việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, tổ
chức thực hiện nghị quyết của HĐND và thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan
nhà nước cấp trến giao”. [29, tr.66].
UBND xã có hai tư cách vừa là cơ quan chấp hành của HĐND vừa là
cơ quan hành chính Nhà nước ở cấp cơ sở.
Với tư cách là cơ quan chấp hành của HĐND, UBND xã có vai trò quan
trọng trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước trên các lĩnh
vực đời sống xã hội ở địa phương bằng pháp luật, theo pháp luật. Tổ chức và chỉ
đạo việc thi hành chủ trương và Nghị quyết của HĐND xã biến ý chí, nguyện
vọng của nhân dân làng xã thành những hoạt động cụ thể có hiệu quả.
Còn với tư cách là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, UBND
xã có vai trò quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực đời sống kinh tế xã hội ở địa phương mình đồng thời cũng là cơ quan quản lý việc chấp hành,
điều hành các quyết định, chỉ thị của UBND huyện cũng như các chủ trương,
đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước.
Như vậy chính quyền xã là bộ phận quan trọng trong bộ máy nhà nước,
là trung tâm, là lực lượng nòng cốt của hệ thống chính trị ở nông thôn.
1.2.2. Đặc điểm của HĐND cấp xã
1.2.2.1. Cơ cấu, tổ chức HĐND cấp xã
Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật bầu cử đại biểu HĐND năm
2003 thì số đại biểu HĐND ở cấp xã, phường, thị trấn được ấn định như sau:
- Xã, thị trấn miền xuôi có từ bốn nghìn người trở xuống được bầu 25
đại biểu, có trên 4000 người thì cứ thêm 2000 người được bầu thêm một đại
biểu, nhưng tổng số không quá 35 đại biểu.
- Xã, thị trấn miền núi và hải đảo có từ 3000 người trở xuống đến 2000

theo đề nghị của chủ toạ cuộc họp hoặc của Chủ tịch UBND cùng cấp.
Ngày họp, nơi họp và chương trình của kỳ họp HĐND phải được thông
báo cho nhân dân biết, chậm nhất là năm ngày trước ngày khai mạc kỳ họp.


17

Kỳ họp HĐND cấp xã được tiến hành khi có ít nhất hai phần ba tổng số
đại biểu HĐND tham gia.
Tham dự kỳ họp, ngoài đại biểu HĐND còn có: đại biểu Quốc hội, đại
biểu HĐND cấp trên đã được bầu ở địa phương, Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam, người đứng đầu các đoàn thể nhân dân ở địa phương, đại diện
cử tri, các đại biểu này chỉ được phát biểu ý kiến nhưng không được biểu quyết.
Các tài liệu cần thiết của kỳ họp HĐND cần được gửi đến đại biểu
HĐND chậm nhất là năm ngày trước khi khai mạc kỳ họp.
Kỳ họp thứ nhất của mỗi khoá HĐND do Chủ tịch HĐND khoá trước
triệu tập và chỉ đạo cho đến khi HĐND bầu được Chủ tịch HĐND khoá mới.
Kỳ họp thứ nhất bầu ra:
- Chủ tịch HĐND trong số các đại biểu HĐND theo sự giới thiệu của
Chủ toạ kỳ họp.
- Phó Chủ tịch HĐND trong số các đại biểu HĐND theo sự giới thiệu
của Chủ tịch HĐND.
- Chủ tịch UBND trong số các đại biểu HĐND theo sự giới thiệu của
Chủ tịch HĐND.
- Phó Chủ tịch và các thành viên khác của UBND theo sự giới thiệu của
Chủ tịch UBND.
- Thư ký kỳ họp của mỗi khoá HĐND theo sự giới thiệu của chủ toạ kỳ họp.
- Đại biểu HĐND có quyền giới thiệu và ứng cử vào các chức danh trên.
Hình thức biểu quyết: giơ tay, bỏ phiếu kín hoặc bằng cách khác theo
đề nghị của chủ toạ kỳ họp.

bầu theo đề nghị của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp hoặc của ít
nhất một phần ba tổng số đại biểu HĐND;
- Phối hợp với UBND quyết định việc đưa ra HĐND hoặc đưa ra cử tri
bãi nhiệm đại biểu HĐND theo đề nghị của Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam cùng cấp;
- Báo cáo về hoạt động của HĐND cùng cấp lên HĐND và UBND cấp
trên trực tiếp;


19

- Giữ mối liên hệ và phối hợp công tác với Ban thường trực Uỷ ban
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp; mỗi năm hai lần thông báo cho Uỷ ban
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp về hoạt động của HĐND.
* Hoạt động của đại biểu HĐND cấp xã:
Đại biểu HĐND cấp xã là người đại diện cho ý chí nguyện vọng của
nhân dân địa phương, gương mẫu chấp hành pháp luật, chính sách của Nhà
nước, tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách, pháp
luật của Đảng và Nhà nước, tham gia vào việc quản lý Nhà nước.
Nhiệm kỳ của đại biểu HĐND mỗi khoá bắt đầu từ kỳ họp thứ nhất của
HĐND khoá đó đến kỳ họp thứ nhất của HĐND khoá sau. Đại biểu HĐND
được bầu bổ sung bắt đầu làm nhiệm vụ đại biểu từ kỳ họp sau cuộc bầu cử
bổ sung đến kỳ họp thứ nhất của HĐND khoá sau.
Đại biểu HĐND có nhiệm vụ tham dự đầy đủ các kỳ họp, phiên họp
của HĐND, tham gia thảo luận và biểu quyết các vấn đề thuộc nhiệm vụ,
quyền hạn của HĐND. Đại biểu HĐND nào không tham dự được kỳ họp phải
có lý do và phải báo cáo trước với Chủ tịch HĐND. Đại biểu HĐND nào
không tham dự được phiên họp phải có lý do và phải báo cáo trước với Chủ
tọa phiên họp.
Đại biểu HĐND phải liên hệ chặt chẽ với cử tri ở đơn vị bầu ra mình,

Đại biểu HĐND có quyền kiến nghị với cơ quan nhà nước về việc thi
hành pháp luật, chính sách của Nhà nước và về những vấn đề thuộc lợi ích
chung cơ quan hữu quan có trách nhiệm trả lời kiến nghị của đại biểu.
Đại biểu HĐND có quyền đề nghị HĐND bỏ phiếu tín nhiệm đối với
người do HĐND cùng cấp bầu.
1.2.2.3. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cấp xã
* Chức năng của HĐND cấp xã.
Chức năng của HĐND cấp xã là phương diện, mặt hoạt động cơ bản
của HĐND để thực hiện các nhiệm vụ của HĐND. Là cơ quan quyền lực nhà
nước ở cơ sở. HĐND cấp xã có các chức năng cơ bản sau đây:


21

- Chức năng ra Nghị quyết: Để quản lý các mặt đời sống ở địa phương,
điều chỉnh các quan hệ xã hội phát minh trên địa bàn địa phương. HĐND cấp
xã ra các Nghị quyết về: Phát triển kinh tế - xã hội, phát triển giáo dục, y tế,
văn hoá, thông tin, thể dục thể thao, khoa học công nghệ, tài nguyên và môi
trường, quốc phòng và an ninh, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn địa phương,
thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo, thi hành pháp luật, xây
dựng chính quyền.
Nội dung, phạm vi Nghị quyết của HĐND cấp xã tuỳ thuộc vào nhiệm
vụ, quyền hạn của HĐND cấp xã được quy định trong Luật tổ chức HĐND và
UBND. Đồng thời Nghị quyết của HĐND cấp xã cũng phải có tính hợp lý và
hợp pháp tức là phải phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của từng địa phương
nhưng không được trái với các quy định trong Hiến pháp, pháp luật và các
văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên.
- Chức năng giám sát của HĐND cấp xã:
Giám sát là chức năng quan trọng của HĐND nói chung. Trong những
năm qua HĐND các cấp đã rất quan tâm thực hiện chức năng này, góp phần

thiết, khi phát hiện có sai phạm thì có quyền yêu cầu các cơ quan, tổ chức đó
xem xét, xử lý theo thẩm quyền.
* Nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cấp xã.
Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 đã quy định HĐND cấp xã có
những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
- Trong lĩnh vực kinh tế.
HĐND cấp xã thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: quyết định
biện pháp thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm; kế hoạch
sử dụng lao động công ích hàng năm; biện pháp thực hiện chương trình
khuyến nông, khuyến ngư, khuyến công và chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cây
trồng, vật nuôi theo quy hoạch chung; quyết định dự toán thu ngân sách nhà
nước trên địa bàn; dự toán thu, chi ngân sách địa phương và phân bổ dự toán
ngân sách cấp mình; phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương; các chủ



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status