Các nhân tố tác động đến hành vi quản trị lợi nhuận của người quản lý tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam tt - Pdf 50

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
--------------

NGƠ HỒNG ĐIỆP

CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HÀNH VI
QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN CỦA NGƯỜI QUẢN LÝ
TẠI CÁC CƠNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHỐN VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2018


Công trình được hoàn thành tại: Trường ĐH Kinh tế TP. Hồ
Chí Minh
Người hướng dẫn khoa Học: PGS.TS. Bùi Văn Dương

Phản biện 1:

Phản biện 2:

Phản biện 3:

Luận án đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp
trường họp tại

Vào hồi


tham gia quản trị lợi nhuận (Healy và Wahlen, 1999; Dechow và
Skinner, 2000). Nhiều nghiên cứu đã công bố cho thấy người
quản lý quản trị lợi nhuận (QTLN) xuất phát từ những mục đích,


2
những động cơ đã định trước như: vì lợi ích cá nhân của người
quản lý, để tránh vi phạm các thỏa thuận trên các hợp đồng, để
đạt lợi ích từ thị trường vốn (đạt được lợi nhuận mục tiêu, để phát
hành cổ phiếu với giá cao, để được lợi khi sáp nhập, chia tách
hay mua bán doanh nghiệp), hoặc phản ứng lại với các chính sách
của Nhà Nước như giảm số thuế TNDN, để được ưu đãi đầu tư,
ưu đãi về thuế,…. Bên cạnh đó, người quản lý có thể QTLN bằng
cách cắt giảm chi phí nghiên cứu và phát triển, chi phí quảng cáo,
chi phí đào tạo, tăng thời gian bán chịu cho khách hàng, giảm giá
bán niêm yết nếu mua hàng với số lượng lớn,… QTLN có liên
quan chặt chẽ đến chất lượng thông tin của BCTC của các công
ty và là chủ đề thường xuyên được quan tâm trong nghiên cứu
lĩnh vực kế toán (Collins, Pincus và Xie, 1999; Barth, Landsman
và Lang, 2008).
Việt Nam hiện nay là thành viên của nhiều hiệp ước kinh tế
như WTO, AEC,... đòi hỏi phải hội nhập nhanh các định chế quốc
tế để tăng tính minh bạch thông tin công bố. Nhà Nước Việt Nam
đã không ngừng nỗ lực để hoàn thiện dần hệ thống pháp lý cần
thiết nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của TTCK, thu hút
vốn đầu tư thông qua TTCK, đồng thời cũng hướng đến mục tiêu
gia tăng chất lượng thông tin BCTC của các CTNY. Từ những
phân tích trên, tác giả cho rằng việc tìm hiểu, phát hiện, đo lường
hành vi QTLN và xác định các nhân tố tác động và mức độ tác
động đến hành vi QTLN là rất cần thiết xét về lý luận khoa học



4
-

Xét về thời gian: Luận án sử dụng số liệu báo cáo năm,
giai đoạn 2010 – 2016.

5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp trong đó
phương pháp định lượng là chính. Cụ thể: Phương pháp nghiên
cứu định tính: Luận án sử dụng phương pháp phỏng vấn chuyên
sâu với các chuyên gia, tham vấn ý kiến về các biến nhân tố đưa
vào mô hình nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu định lượng:
Luận án sử dụng phương pháp này để kiểm định giả thuyết
nghiên cứu về các nhân tố tác động và mức độ tác động của các
nhân tố đến hành vi QTLN.
6. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN
Về mặt nghiên cứu: (1) Hệ thống hoá các lý thuyết nền tảng
về hành vi QTLN, đánh giá thực trạng của các công ty niêm yết
trên thị trường chứng khoán Việt Nam liên quan đến hành vi
QTLN (QTLN thông qua các khoản dồn tích và QTLN thông qua
các nghiệp vụ kinh tế phát sinh) và xác định các nhân tố tác động
cũng như mức độ tác động của các nhân tố đến hành vi này; và
(2) mở rộng thêm cánh cửa khoa học nghiên cứu về hành vi
QTLN tại Việt Nam.
Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu của luận án kỳ vọng sẽ có ý
nghĩa thực tiễn đối với: (1) Những nhà hoạch định chính sách,
các đơn vị lập pháp có cái nhìn sâu sắc hơn, bao quát hơn, từ đó
xây dựng được hệ thống các quy định mang tính khả thi cao hơn,

vọng sẽ bằng 0 (zero) nên dồn tích bất thường cũng chính là tổng
dồn tích tại một thời điểm và được xác định bằng công thức bên
dưới. Nếu tổng dồn tích không bằng 0 thì đó là biểu hiện của
QTLN.
Mô hình DeAngelo (1986): DeAngelo (1986) cho rằng dồn
tích bình thường NDA phát sinh là ngẫu nhiên. Nếu doanh nghiệp
ở trạng thái đứng yên thì NDA ở thời điểm t bằng với NDA ở
thời điểm t-1. Vì vậy, sự khác biệt giữa NDA ở thời điểm t và
thời điểm t-1 chính là DA và cũng chính là biểu hiện của hành vi
QTLN. DeAngelo (1986) đã tiến thêm một bước, đã xác định dồn
tích bất thường riêng biệt cho mỗi DN bằng cách tính chênh lệch
giữa tổng dồn tích của hai kỳ kế tiếp nhau trên tổng tài sản.
Mô hình Jones (1991): Jones (1991) tin rằng sự biến đổi của
doanh thu sẽ mang đến sự thay đổi của vốn kinh doanh, dẫn đến
sự thay đổi trong việc tính toán các khoản trích trước và khấu hao
tài sản cố định. Tất cả các điều này đều tác động đến lợi nhuận
của doanh nghiệp. Jones (1991) đã dùng biến doanh thu (REV)


7
và biến tài sản cố định (PPE) như là các biến độc lập để đo lường
DA. Tổng biến dồn tích = Lợi nhuận sau thuế - Dòng tiền từ hoạt
động kinh doanh
Các mô hình cải tiến mô hình của Jones (1991)
Dechow, Sloan và Sweedney (1995): Dechow, Sloan và
Sweedney (1995) đã cải tiến mô hình Jones (1991) bằng cách bổ
sung thêm một yếu tố tạo ra dồn tích bình thường là nợ phải thu.
Họ cho rằng, người quản lý điều chỉnh doanh thu không liên quan
đến tiền thì phải ghi nhận nợ phải thu.
Kothari, Leone và Wasley (2005): Kothari, Leone và Wasley

Dechow, Sloan, và Sweeney (1995) cho rằng mô hình Jones
điều chỉnh (1995) là mô hình tốt nhất để phát hiện hành vi QTLN.
Chen (2011) đã đưa ra 03 nhận định: Thứ nhất, mô hình Jones
điều chỉnh vẫn là sự lựa chọn tốt nhất để phát hiện hành vi QTLN
so với các phương pháp đo lường khác; Thứ hai, mô hình Jones
điều chỉnh đôi khi gặp vấn đề, do đó cần sử dụng thêm cách tiếp
cận khác cùng một lúc, sau đó so sánh với kết quả từ Jones điều
chỉnh; Thứ ba, mọi nỗ lực tìm ra một phương pháp tốt hơn để
phát hiện hành vi QTLN vẫn phải tiến hành, mô hình Jones điều
chỉnh vẫn không có mô hình khác thay thế.
Tại Việt Nam, Phạm Thị Bích Vân (2012) đưa ra kết luận
rằng “Mô hình Jones (1991) không hiệu quả trong việc phát hiện
hành vi QTLN của các doanh nghiệp niêm yết TTCK Việt Nam”.
Nguyễn Anh Hiền và Phạm Thanh Trung (2015) đã chứng minh
được rằng thì mô hình Kothari, Leone và Wasley (2005) là phù
hợp nhất để nhận diện hành vi QTLN tại các CTNY trên TTCK
Việt Nam. Võ Thị Quý và Dương Trọng Nhân (2017) chứng
minh được rằng mô hình Jones (1991) và Mô hình Kothari, Leone
và Wasley (2005) là phù hợp trong việc phát hiện hành vi QTLN
tại các công ty niêm yết trên HOSE.


9
1.2. CÁC NGHIÊN CỨU VỀ NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN
HÀNH VI QTLN
1.2.1.

Cấu trúc của HĐQT

Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc điều hành: Có hai kết quả

chiều giữa tỷ lệ thành viên HĐQT có chuyên môn tài chính với
mức độ QTLN.
Thành viên nữ trong HĐQT: Srinidhi và cộng sự (2011),
Thiruvadi and Huang (2011) cho rằng càng nhiều thành viên nữ
trong HĐQT thì chất lượng báo cáo tài chính sẽ gia tăng.
Luckerath - Rover (2011) tìm thấy mối tương quan cùng chiều
giữa thành viên nữ trong HĐQT với chất lượng thông tin báo cáo
của doanh nghiệp. Adams và Ferreira (2009, Akpan và cộng sự
(2014) tìm thấy mối quan hệ ngược chiều giữa thành viên nữ
HĐQT với hiệu quả hoạt động của công ty.
1.2.2.

Ủy ban kiểm toán

Qui mô Ủy ban kiểm toán: Lin và cộng sự (2006) cho thấy
số lượng thành viên trong ủy ban này có quan hệ ngược chiều với
mức độ QTLN. Danoshana và cộng sự (2013) cho rằng số lượng
thành viên của ủy ban kiểm toán có quan hệ cùng chiều với hiệu
quả hoạt động của công ty. Bedard và cộng sự (2004), Baxter và
Cotter (2009), Soliman và cộng sự (2013), Bamahros và cộng sự
(2015), Nekhili và cộng sự (2016) không tìm thấy tác động giữa
quy mô Uỷ ban kiểm toán với mức độ QTLN.
Chuyên môn của thành viên ủy ban kiểm toán: Choi và cộng
sự (2004), Abbott và cộng sự (2004) cho rằng sự hiện diện ít nhất
một thành viên có chuyên môn về tài chính trong Ủy ban kiểm
toán sẽ làm giảm mức độ QTLN của người quản lý. Abdul


11
Rahman và Ali (2006), Lin và cộng sự (2006) không mối quan


12
Sở hữu vốn quản lý: Masmoudi Ayadi và cộng sự (2014),
Nekhili và cộng sự (2016) đã tìm thấy mối quan hệ ngược chiều
có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ sở hữu vốn quản lý với mức độ
QTLN. Charfeddine và cộng sự (2013), Aygun và cộng sự (2014)
chứng minh được mối liên hệ cùng chiều giữa tỷ lệ sở hữu quản
lý với các khoản dồn tích bất thường.
Sở hữu vốn Nhà nước: Ayemere và cộng sự (2015) cũng tìm
thấy quan hệ ngược chiều giữa tỷ lệ sở hữu vốn nhà nước với
mức độ QTLN. Guo và Ma (2015) đã tìm được mối quan hệ cùng
chiều giữa tỷ lệ sở hữu vốn Nhà nước với mức độ QTLN. Bozec
và cộng sự (2002) không tìm ra mối quan hệ có ý nghĩa giữa sở
hữu Nhà nước với vấn đề trình BCTC.
Sở hữu vốn Tổ chức: Jiambalvo và cộng sự (2002), Hadani
và cộng sự (2011) cho rằng với doanh nghiệp có tỷ lệ sở hữu tổ
chức càng cao thì sẽ ít có khả năng QTLN. Hashim và Devi
(2012), Masmoudi và cộng sự (2014) cũng tìm thấy bằng chứng
rằng mức độ thông tin về lợi nhuận được công bố sẽ tăng khi có
sự tham gia của các nhà đầu tư tổ chức.
Sở hữu vốn Tập trung: Firth và cộng sự (2006) phát hiện rằng
thông tin về lợi nhuận sẽ giảm khi mức độ tập trung vốn tăng lên.
Emamgholipour và cộng sự (2013), Guo và Ma (2015) cho rằng
khi sở hữu tập trung về tổ chức thì sẽ khuyến khích QTLN. Ben
Slama và cộng sự (2007), Alves (2012), Ellili (2013) cho rằng sở
hữu tập trung có mối quan hệ ngược chiều với mức độ khoản dồn
tích bất thường.
Sở hữu vốn Nước ngoài: Nghiên cứu của Kim (2008), Jun
Guo và cộng sự (2014), Gue và Ma (2015) đã chứng minh được



14
Việt Nam khác biệt so với vài trò của Uỷ Ban kiểm toán tại các
CTNY tại các nước phát triển. Tác giả chưa tìm thấy nhiều công
trình nghiên cứu ảnh hưởng của nhân tố thuộc Ban kiểm soát tác
động đến hành vi QTLN tại CTNY Việt Nam.
Định hướng nghiên cứu của luận án
Trên cơ sở phân tích tổng quan các công trình nghiên cứu ở
Việt Nam và trên thế giới, những vấn đề đã nghiên cứu và chưa
nghiên cứu, tác giả nhận thấy cần thiết phải có một nghiên cứu
rộng hơn, đầy đủ hơn về các nhân tố tác động đến hành vi QTLN
tại các công ty niêm yết Việt Nam, làm cơ sở để đưa các kiến
nghị nhằm nâng cao chất lượng thông tin lợi nhuận trên BCTC,
kiểm soát hành vi QTLN của doanh nghiệp. Định hướng nghiên
cứu của luận án là:
-

Tìm hiểu các nhân tố tác động đến hành vi QTLN, trong
đó mở rộng thêm nhân tố BKS vào mô hình nghiên cứu.

-

Nghiên cứu cả hai hình thức QTLN: QTLN thông qua các
khoản dồn tích và QTLN thông qua các nghiệp vụ kinh tế
phát sinh.


15
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1. ĐỊNH NGHĨA VÀ PHÂN LOẠI HÀNH VI QTLN

Meckling, 1976; Ross,1973) còn gọi là lý thuyết uỷ quyền tập
trung vào mối quan hệ giữa người chủ sở hữu và một bên là bên
được ủy quyền. Trong công ty cổ phần, người uỷ quyền chính là
chủ sở hữu (cổ đông) thuê người được uỷ quyền (người quản lý)
thông qua các hợp đồng. Vấn đề đại diện tất yếu tạo ra mâu thuẫn
giữa bên ủy quyền và bên đại diện, giữa cổ đông và chủ nợ. Để
giải quyết những mâu thuẫn này, người quản lý sẽ tác động vào
số liệu kế toán, vào các nghiệp vụ kinh tế phát sinh để đảm bảo
dung hòa lợi ích của các bên. Luận án vận dụng lý thuyết đại diện
để biện giải hành vi QTLN và một số nhân tố tác động đến hành
vi QTLN.
Lý thuyết các bên liên quan
Lý thuyết các bên liên quan được giới thiệu đầu tiên bởi
Freeman năm 1984. Ý tưởng trung tâm của lý thuyết này là sự
thành công của một tổ chức phụ thuộc vào mối quan hệ giữa
người quản lý với các bên liên quan như nhà đầu tư, chủ nợ,
người lao động, khách hàng, nhà cung cấp, nhà nước và các đối
tượng khác có liên quan đến việc đạt được mục tiêu của doanh
nghiệp. Người quản lý chịu sức ép phải quan tâm đến lợi ích của
nhiều đối tượng liên quan và cả lợi ích của bản thân nên hoàn
toàn có thể lý giải khả năng người quản lý sẽ thực hiện QTLN.
Vì lẽ đó, luận án vận dụng nội dung lý thuyết này để biện giải
cho kết quả nghiên cứu.
Lý thuyến tín hiệu


17
Ross (1977), Cho và Sobel (1990) cho rằng sự mâu thuẫn vốn
có của cổ đông và người quản lý làm cho người quản lý tập trung
cung cấp những tín hiệu trọng tâm, đáp ứng các nhu cầu thông

sách kế toán. Lý thuyết này cho rằng công ty là một tập hợp các
hợp đồng, chủ yếu là hợp đồng với nhân viên, với nhà cung cấp
sản phẩm hàng hóa và với nhà cung cấp vốn. Lý thuyết kế toán
thực chứng cho rằng các chính sách kế toán được lựa chọn là một
trong những nỗ lực của công ty để giảm thiểu chi phí hợp đồng,
để tối đa hóa lợi ích cho người quản lý. Việc người quản lý vận
dụng linh hoạt các chính sách kế toán được thừa nhận để QTLN
là rất phổ biến. Vì vậy, luận án cho rằng vận dụng lý thuyết kế
toán thực chứng để xem xét và biện giải kết quả nghiên cứu một
số nhân tố tác động đến hành vi QTLN, đặc biệt là QTLN thông
qua các khoản dồn tích là rất phù hợp.


19
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ QUY TRÌNH
NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp và thiết
kế nghiên cứu theo nhóm hỗn hợp gắn kết. Luận án sử dụng
phương pháp định lượng để kiểm định các nhân tố tác động và
mức độ tác động của các nhân tố đến hành vi QTLN tại các
CTNY trên TTCK Việt Nam. Luận án thực hiện nghiên cứu định
tính, áp dụng công cụ phỏng vấn sâu với các chuyên gia, nhằm
thảo luận các biến đưa vào mô hình, làm cơ sở cho việc phân tích
các nhân tố tác động đến hành vi QTLN.
Qui trình nghiên cứu
Bước 1: Luận án tổng hợp các công trình nghiên cứu trong
nước và trên thế giới liên quan đến hành vi QTLN, tập trung
nghiên cứu cách thức đo lường hành vi QTLN, động cơ dẫn đến

Nghiên cứu định tính
Để thực hiện nghiên cứu định tính tác giả tiến hành phỏng
vấn trực tiếp 12 chuyên gia là những người có am hiểu sâu rộng,
có nhiều năm kinh nghiệm làm việc thực tiễn thuộc lĩnh vực
nghiên cứu của luận án.
Dựa trên các công trình nghiên cứu trên thế giới, luận án xác
định 16 biến kế thừa. Tác giả tham vấn ý kiến của chuyên gia
bằng câu hỏi mở liên quan đến 16 biến nhân tố này. Bên cạnh đó,
phỏng vấn chuyên sâu các chuyên gia giúp luận án tiếp nhận được
nhiều biến chưa tìm thấy công trình nghiên cứu tại Việt Nam như:
Hiệu quả kinh doanh so với kế hoạch đề ra của đại hội cổ đông,


21
khả năng thanh toán nợ vay ngắn hạn, mức độ gia tăng kế hoạch
lợi nhuận năm nay so với năm trước, thâm niên của giám đốc
điều hành, số lượng bài viết được đăng tải trên các báo chuyên
ngành, mức phí kiểm toán. Dựa trên số liệu có thể thu thập được
từ TTCK, tác giả đề xuất 3 biến mới: Tỷ lệ thành viên nữ thuộc
BKS, tỷ lệ nợ vay ngắn hạn trên tổng tài sản ngắn hạn và mức độ
hoàn thành kế hoạch.
Nghiên cứu định lượng
Mẫu nghiên cứu
Mẫu nghiên cứu của luận án có 416 công ty đang niêm yết
trên hai sàn giao dịch chứng khoán HOSE và HNX, giai đoạn
2010-2016.
Quy trình tính toán và phân tích dữ liệu nghiên cứu
Quy trình tính toán và phân tích dữ liệu nghiên cứu sẽ được
thực hiện như sau:
Bước 1: Xác định giá trị của biến phụ thuộc thông qua mô

động đến hành vi QTLN tại các CTNY trên TTCK Việt Nam.
Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh được rằng người
quản lý kết hợp hai hình thức QTLN (A_EM và R_EM) vì mỗi
hình thức QTLN có đặc điểm riêng, kỹ thuật riêng, chi phí riêng
và có mức độ tác động riêng tác động riêng. Mục tiêu của luận
án là đánh giá mức độ QTLN riêng biệt từng hình thức và kiểm
định tác động các nhân tố đến từng hình thức QTLN tại CTNY
Việt Nam nên đã xây dựng 02 mô hình nghiên cứu. Mỗi mô hình
gồm có 19 biến độc lập kết hợp với biến phụ thuộc (A_EM và
R_EM).


23
3.4. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Mục tiêu của luận án là đo lường, đánh giá thực trạng hành
vi QTLN và xác định các nhân tố tác động đến hành vi QTLN tại
các CTNY trên TTCK Việt Nam. Như đã trình bày ở mục 3.3 –
Mô hình nghiên cứu, luận án xây dựng 02 mô hình nghiên cứu
với 02 biến phụ thuộc (A_EM, R_EM) và 19 biến nhân tố. Trên
cơ sở vận dụng các lý thuyết nền, luận án phát triển 19 giả thuyết
nghiên cứu như sau:
Bảng mô tả giả thuyết nghiên cứu
Giả
thuy
ết
H1

H2

Nội dung lý thuyết

càng thấp

H5

Tỷ lệ thành viên HĐQT có
chuyên môn tài chính càng cao thì
mức độ QTLN càng thấp

H6

Tỷ lệ thành viên nữ thuộc HĐQT
càng cao thì mức độ QTLN càng
thấp

H7

Số lượng thành viên BKS càng
lớn thì mức độ QTLN càng thấp

Lý thuyết phụ
thuộc nguồn lực
Lý thuyết đại diện
Lý thuyết phụ
thuộc nguồn lực
Lý thuyết phụ
thuộc nguồn lực

-

-


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status