ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Phan Thị Quyên
NÔNG THÔN VIỆT NAM QUA TIỂU THUYẾT
THỜI XA VẮNG CỦA LÊ LỰU
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.01.21
Tóm tắt luận văn thạc sĩ Văn học Việt Nam
Thái Nguyên, năm 2018
Công trình được hoàn thành tại
Trường Đại học Sư Phạm- Đại học Thái Nguyên
Người hướng dẫn khoa học: GS Phong Lê
Phản biện 1:...........................................................
Phản biện 2:...............................................................
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn tại:
Trường Đại học Sư Phạm- Đại học Thái Nguyên
Vào hồi.........giờ..........ngày.............tháng .........năm 2018.
Có thể tìm hiểu luận văn tại Trung tâm học liệu Đại học Thái
Nguyên và thư viên trường Đại học Sư Phạm- Đại học Thái Nguyên
MỞ ĐẦU
thôn xuất sắc của văn học Việt Nam tiền đổi mới. Tác phẩm đặt ra
một cách sáng rõ cái nhìn mới về nông thôn trong sự soi chiếu nhiều
chiều, đưa đến cho người đọc những khám phá, trải nghiệm riêng rất
đáng ghi nhận.Tìm hiểu Thời xa vắng của Lê Lựu, ta không chỉ hiểu
thêm về bộ mặt của nông thôn Việt nam mà còn khẳng định vị trí, sự
đóng góp của nhà văn cho sự phát triển nền văn xuôi Việt Nam trong
những năm đổi mới.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1. Những ý kiến chung về Lê Lựu và các sáng tác của ông
Trong sự phát triển không ngừng của văn học đương đại, Lê
Lựu ngày càng khẳng định được vị trí chắc chắn của mình trong lòng
độc giả và thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu phê bình (Trần
Đăng Khoa, Lê Hồng Lâm, Trần Bảo Hưng. Ngô Thảo…)
Những ý kiến trên đều thống nhất đề cao tâm huyết của Lê
Lựu trong sáng tạo nghệ thuật, khẳng định được vị trí, phong cách
trong những sáng tác của ông, góp phần tạo nên diện mạo của văn
học Việt Nam thời kì đổi mới.
2.2.Những ý kiến bàn riêng đến tiểu thuyết Thời xa vắng
Năm 1986, cuốn tiểu thuyết Thời xa vắng “trình làng” đã
thu hút được sự chú ý trong dư luận và được đánh giá là một “cọc
tiêu tiền trạm” của công cuộc đổi mới văn học. Tác phẩm này
nhanh chóng đã thu nhận nhiều ý kiến đánh giá của các nhà
nghiên cứu, phê bình.
Cuốn Lê Lựu tạp văn (2002) là một công trình tổng hợp
những bài viết, những bài phê bình văn học của Lê Lựu đối với
các nhà văn, nghề văn. Đặc biệt ở phần 4 cuốn sách đã tập hợp
khá nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu, phê bình liên quan đến
tiểu thuyết Thời xa vắng. Đó là Phong Vũ với “Tiểu thuyết đầu
quê” của Lê Lựu hai lần khốn khổ, vừa xung đột với hệ tư thưởng gia
trưởng, vừa xung đột với thành phố ở bộ phân phức tạp nhất của nó
là đàn bà, con gái” [32, tr.119], vậy nên cuộc sống của Sài bế tắc,
vướng vào hết bi kịch này đến bi kịch khác. Và từ những vấn đề trên,
Hoàng Ngọc Hiến đặt ra những vấn đề bức xúc của xã hội “Lê Lựu
chỉ đụng đến đề tài “người nhà quê và đô thị” một cách ngẫu nhiên:
chỉ là câu chuyện thương tâm một “anh nhà quê” chơi trèo với thành
phố bị hại. Trên đất nước ta sau khi thống nhất, không phải cán bộ
tiếp quản nào cũng trở thành chủ của thành phố, không ít “người nhà
quê” khi tiếp xúc với đô thị đã bị hại hoàn toàn, sống dỡ chết dở,
điêu đứng bi thảm, sự thất bại của họ mang ý nghĩa xã hội sâu sắc
[32, tr. 119].
Nhìn về đề tài hậu phương nông thôn miền Bắc trong chiến
tranh chống Mĩ có nhiều người viết, nhưng theo đánh giá của Tạ
Quang Tốn thì “Lê lựu là người viết thành công nhất” [92, tr. 22].
“Thời xa vắng viết về hậu phương chống Mĩ cứu nước với cả cái vui
và cái buồn, cái nông nhiệt và sự non nớt, những quầng sáng và bóng
mờ, có cả nụ cười và nước mắt” [92, tr.18].
Tìm hiểu tiểu thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu, Thiếu Mai
đã khẳng định tài năng xây dựng nhân vật của Lê Lựu: “Lê Lựu tỏ
ra hiểu nhân vật của mình đến chân tơ, kẽ tóc đến tận những ngọn
ngành, sâu thẳm nhất của tình cảm, suy nghĩ” [60, tr. 577].
Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn trong bài viết “Một đóng
góp vào việc nhận dạng con người Việt Nam hôm nay” cho rằng
“Lê Lựu chỉ nói riêng về con người, những mối quan hệ giữa
người với người. Một vấn đề muôn thủa mà cũng là vấn đề chúng
ta nói đi nói lại rất nhiều (…) làm thế nào để giúp con người nhận
thức về chính mình đầy đủ hơn từ đó tìm được cách sống hợp lí
mực nhất định sẽ so sánh, đối chiếu với những cuốn tiếu thuyết
của các nhà văn viết về đề tài nông thôn trước và sau đó.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Người viết đi sâu tìm hiểu Nông thôn Việt Nam qua tiểu thuyết
Thời xa vắng của Lê Lựu.
4. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
- Khẳng định vị trí của nhà văn Lê Lựu – một tác giả tiêu biểu
của văn xuôi Việt Nam thời kì tiền đổi mới, nhất là từ những năm
đầu thập niên 90 và những đóng góp của nhà văn cho tiểu thuyết thời
kì này.
- Cảm thụ toàn diện hơn về hiện thực cuộc sống nông thôn Việt
Nam thời kì đổi mới, đồng thời chỉ ra những nét đặc sắc trong
phương thức nghệ thuật thể hiện hình ảnh nông thôn của tiểu thuyết
Thời xa vắng so với những cuốn tiểu thuyết trước và sau đó.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận giải những vấn đề lý luận, thực tiễn liên quan đến luận
văn.
- Làm rõ những giá trị của tác phẩm trên phương diện nội dung và
nghệ thuật.
- Đánh giá, đối sánh với một số tác phẩm trước và sau thời kì đổi
mới cùng viết về nông thôn Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện luận văn, người viết kết hợp vận dụng một số phương
pháp nghiên cứu cơ bản như sau:
- Phương pháp thống kê.
- Phương pháp phân tích tổng hợp.
- Phương pháp so sánh văn học.
hóa, văn học, nghệ thuật. Trước những biến chuyển đó của thời đại,
văn học tự bản thân cũng xuất hiện những nhu cầu đổi mới. Được
cổ vũ bởi tinh thần dân chủ của Đại hội Đảng VI, các cây bút sau
1975 đã có nhiều nỗ lực trong lao động nghệ thuật, tạo được
những hướng đi mới táo bạo, độc đáo nhằm đáp ứng nhu cầu, thị
hiếu của văn học và độc giả hiện thời. Sự đổi mới của văn học
được thể hiện trên nhiều phương diện và trong nhiều thể loại.
Văn xuôi nói chung, tiểu thuyết nói riêng từ sau đổi mới đã
có những thay đổi đáng kể, với chủ trương “nhìn thẳng vào sự thật,
đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” đã mở ra đường hướng rõ ràng
và thông thoáng cho ngòi bút của các nhà văn.
Các nhà văn đón nhận nhu cầu này như một thách thức trong
quá trình sáng tạo. Không ít nhà văn trăn trở, tìm cách đổi mới tư
duy nghệ thuật trong việc phản ánh hiện thực để đáp ứng nhu cầu đổi
mới văn học. Như vậy, những quan niệm mới mẻ về văn hóa, văn
nghệ của Đảng làm thay đổi quan điểm, nhận thức về văn học và
nhận thức lại thực tại không còn là nhu cầu của cá nhân nghệ sĩ
mà còn là nhu cầu của thời đại.
1.1.2. Tiểu thuyết nông thôn trong bức tranh chung của tiểu thuyết
thời kì đổi mới
Chặng đường phát triển của văn xuôi nói chung và tiểu
thuyết nói riêng đều trải qua những quy luật phát triển nội tại
riêng trước những tác động của bối cảnh xã hội. Đánh giá sự
chuyển động đó, nhiều nhà nghiên cứu văn học như Phong Lê,
Nguyên Ngọc, Vũ Tuấn Anh, Bùi Việt Thắng... đều thống nhất
nhận định: văn xuôi nước ta từ năm 1975 đến những năm tám
mươi vẫn vận động và phát triển theo “quán tính” cũ, “vẫn
nghiêng về sự kiện, về sự bao quát hiện thực trong một diện rộng”
Chim én bay của Nguyễn Trí Huân, Nước mắt đỏ của Trần Huy
Quang, Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai, Không phải trò đùa của Khuất
Quang Thụy, Bến không chồng của Dương Hướng... đã xoáy vào
“mặt trái của tấm huy chương” với những “dọa chiến tranh” còn ám
ảnh, đeo đẳng bao số phận con người. Chiến tranh đã lùi xa nhưng vẫn
còn để lại bao hậu quả nghiệt ngã cho con người, nó vẫn là một “siêu đề
tài” cho văn học khám phá, biểu hiện. Nói như Giáo sư Phong Lê thì
“còn lâu về sau, chiến tranh vẫn cứ là một đề tài lớn, một kho chất liệu
không thể nào vơi cạn còn nằm sâu trong ký ức của con người” [48].
Hiện thực trong văn học thời kì đổi mới được nới rộng
phạm vi thể hiện. Không chỉ có hiện thực cách mạng, các biến cố
trong đời sống cộng đồng mà còn có hiện thực của cuộc sống
hàng ngày với các quan hệ thế sự phức tạp. Đó là vấn đề cải cách
ruộng đất, văn hoá, phong tục, hủ tục ở nông thôn; vấn đề sản
xuất, quản lý kinh tế- xã hội trong thời kỳ đổi mới; những mặt trái
của đời sống đô thị, của cơ chế thị trường; đó còn là vấn đề hôn
nhân gia đình, tâm lý xã hội... Viết về chủ đề gia đình- nơi gìn giữ
những giá trị thiêng của con người, các nhà văn thời kỳ đổi mới
lại cho thấy gia đình nhiều khi không còn là nơi “nghỉ ngơi tuyệt
đối an toàn” của con người. Thời xa vắng (Lê Lựu), Mùa lá rụng
trong vườn (Ma Văn Kháng), Phố (Chu Lai)... Thời xa vắng (Lê
Lựu) làm nổi bật bi kịch trong mối quan hệ giữa cá nhân và cộng
đồng. Sự nhu nhược, thiếu bản lĩnh cá nhân là nguyên nhân chủ
yếu đẩy cuộc đời Sài vào bi kịch. Nhưng nguyên nhân sâu xa hơn
là sự áp đặt của cộng đồng lên cá nhân. Chính gia đình, họ hàng,
đơn vị... đã đè bẹp ý thức cá nhân của Giang Minh Sài.
Tiểu thuyết thời kỳ đổi mới còn gia tăng những chủ đề thời
sự. Một số tác phẩm đã “áp sát” cuộc sống đời thường, đã bắt chạm
chóng phổ biến rộng rãi, chỉ trong mấy tháng đầu đã tái bản 4 lần
với số lượng lên đến 80 nghìn bản. Thời xa vắng trở thành sự kiện
nổi bật trong đời sống văn học lúc bấy giờ. Nó đã tạo đà, khởi
hứng và phát triển mạnh mẽ cho một khuynh hướng nhận thức lại
lịch sử nông thôn với cảm hứng phê phán. Tác phẩm đã xoáy sâu
vào những vấn đề có tính thời sự, nhạy cảm, phản đối những
chính sách của chính quyền trong chiến tranh... Tuy nhiên, qua sự
sàng lọc của thời gian, những vấn đề đặt ra trong tác phẩm được
coi là bước đột phá đầy mới mẻ trong cách nhìn về quá khứ nông
thôn, về người nông dân, trả lại những giá trị đích thực mà tác giả
đã miệt mài sáng tạo.
Bến không chồng của Dương Hướng là một bức tranh về
nông thôn, song những hoạt động sản xuất và đấu tranh ở nông
thôn, sự hình thành cuộc sống mới và con người mới chỉ là
“phông nền” mà cái chính vẫn là số phận bi thương của Nguyễn
Vạn, của Nghĩa, của Hạnh; là sự phá sản của dòng họ Nguyễn và
những người cùng trong tộc họ ở làng Đông. Mảnh đất lắm người
nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường cũng đi sâu vào vấn đề họ
tộc - một trong những vấn đề rắc rối nhất ở nông thôn. Nhưng
nếu Bến không chồng là “cuốn gia phả” thì Mảnh đất lắm người
nhiều ma chỉ “cắt lấy một khoảnh khắc nhỏ” của cuốn gia phả đó
để quan sát. Đó là cuộc xung đột có tính chất “truyền kiếp” giữa
hai dòng họ Vũ và Trịnh ở xóm Giếng Chùa. Tuy nhiên, xung đột
cơ bản ở xóm Giếng Chùa “không phải là cuộc đấu tranh “ai
thắng ai”, chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa tư bản, mà là “dòng họ
nào thắng, người của họ nào sẽ nhân danh Đảng nắm quyền lãnh
đạo trong làng” [94]. Qua những pha tranh chấp, giành giật gay
được những thành tựu đáng ghi nhận. Mốt cây bút thực sự bứt phá
và đi vào hội nhập cùng với dòng chảy của văn học đương đại. Ở
chặng này, quy tụ nhiều thế hệ sáng tạo. Với một đội ngũ hùng
hậu (trải qua bốn thế hệ) nhà văn, kể cả những cây bút lão thành
thuộc thời chống Pháp, Mỹ như Tô Hoài, Lê Lựu, Ngô Ngọc Bội,
Vũ Huy Anh, Cao Năm, Trịnh Thanh Phong, Trần Quang Vinh,
Dương Hướng, Nguyễn Hữu Nhàn... vẫn dẻo dai, sắc bén trên
từng trang viết. Tiểu thuyết viết về nông thôn giai đoạn này đã gặt
hái được nhiều thành tựu. Nhiều tác phẩm được nhận giải thưởng
từ các cuộc thi hoặc giải thường niên của Hội nhà văn, có một số
tác phẩm không đạt giải nhưng lại được dư luận quan tâm, gây
tiếng vang lớn đối với bạn đọc và giới nghiên cứu, phê bình văn
học, tạo nên sự sống động, tươi mới như Cuồng phong, Thời của
thánh thần, Thần thánh và bươm bướm, Ba người khác, Ma làng...
Ba cuộc thi tiểu thuyết do Hội nhà văn tổ chức bốn năm một
lần (từ năm 1998 – 2010) đã ghi nhận giá trị của mảng tiểu thuyết
nông thôn trước và sau thập niên đầu của thế kỷ XXI. Nhiều giải
thưởng đã được trao tặng cho các tác giả viết về đề tài này. Qua
mỗi cuộc thi, mảng tiểu thuyết nông thôn đều có tác phẩm đoạt giải
cao như Cuộc thi tiểu thuyết lần thứ hai (2002 – 2006) có 14 tác
phẩm đoạt giải, trong đó có 3 tác phẩm viết về nông thôn: Dòng
sông Mía đoạt giải A, Cánh đồng lưu lạc đoạt giải B, Trăm năm
thoáng chốc đoạt giải C. Cuộc thi tiểu thuyết lần 3 (2006 – 2010),
trong tổng số 51 tác phẩm lọt vào vòng chung khảo, mảng tiểu
thuyết viết về nông thôn chiếm một số lượng lớn (Cách trở âm
dương, Cuồng phong, Họ vẫn chưa về, Dưới chín tầng trời, Sấp
ngửa bàn tay, Màu rừng ruộng...). Thần thánh và bươm bướm của
Đỗ Minh Tuấn đạt giải C, những đóng góp của một số tiểu thuyết
chiến tranh, cải cách ruộng đất, hợp tác hóa nông nghiệp cũng đã
quay trở lại. Nông thôn với những cảnh tượng kinh hoàng, long
trời lở đất, với những năm đầu cách mạng và những năm chiến tranh
chống Mỹ đầy gian khổ, đẫm máu và cả sự hi sinh cao cả của những
người nông dân chân lấm tay bùn được hiện ra chân thực. Nhà văn
đề cao sức sống, bản lĩnh và tình đoàn kết, sự tương thân tương ái
của người nông dân trong việc bảo vệ làng xóm và trong cuộc sống
đời thường (Chuyện làng Cuội, Nước mắt một thời, Ba người khác,
Thời của thánh thần, Giời cao đất dày, Đồng làng đom đóm). Ngoài
ra, với sự xuất hiện hai chủ đề về số phận con người và hạnh phúc cá
nhân, đặc biệt là số phận của những người phụ nữ yếu duối, bất hạnh
trong cuộc sống hôn nhân gia đình đã đưa tiểu thuyết nông thôn ở
chặng đường này lên ngôi ở chiều sâu và chiều rộng trong phản ánh
hiện thực (Chuyện làng Cuội, Dòng sông Mía).
Như vậy, tiểu thuyết nông thôn những năm đầu thế kỷ XXI
có sự đa dạng và phong phú về chủ đề. Những vấn đề bức xúc,
phức tạp trong đời sống nông thôn đương đại được các nhà văn
phản ánh, nhận thức lại một cách chân thực, đầy đủ và sâu sắc.
Mọi vấn đề có tính cội rễ của đời sống xã hội nông thôn được đặt
ra một cách ráo riết, nhằm hướng tới sự quan tâm của người đọc,
giúp mọi người nhận rõ được bộ mặt của nông thôn Việt Nam
đương đại vừa thanh bình vừa hiện đại, vừa yên ả vừa sóng gió để
bạn đọc không ngừng suy tư, trăn trở.
Tiểu thuyết nông thôn những năm dầu thế kỷ XXI có nhiều tìm
tòi, thể nghiệm và cách tân trong hình thức nghệ thuật. Hàng loạt
cách viết mới của chủ nghĩa hiện đại, hậu hiện đại được khai mở như
bút pháp nhại, huyền thoại, kì ảo, nghịch dị, vô thức, những kĩ thuật
phân tâm học, kỹ thuật độc thoại nội tâm, dòng ý thức, lắp ghép điện
chiều sâu mới cho nền tiểu thuyết Việt Nam bằng những trang văn
rất riêng, Nó khẳng định tiếng nói, tâm hồn, bản lĩnh của dân tộc mà
các nhà văn đã và đang miệt mài sáng tạo.
1.2. Quan điểm nghệ thuật, con đường sáng tạo của Lê Lựu và vị
trí của tiểu thuyết Thời xa vắng
1.2.1. Quan niệm nghệ thuật
Quan niệm nghệ thuật chính là một phương tiện thiết yếu
của sáng tạo nghệ thuật. Do vậy, tìm hiểu quan niệm nghệ thuật
chính là bước đi thiết thực để đến với chiều sâu của các tác phẩm,
của giá trị văn học. Nhà văn Lê Lựu bộc lộ quan điểm nghệ thuật
thông qua những trang viết và chính lời nói của mình. Ông nói:
“Tôi là người ít học, ít đọc vì lười nghĩ ngợi. Toàn bộ những trang
viết của tôi chỉ theo đuổi một nguyên tắc là sự thật. Tôi không thể
viết được nếu không bám vào sự thật. Tôi chỉ là người kể chuyện,
có gì viết nấy” [69, tr.501]. Trong một lần “Hỏi chuyện tác giả, tìm
hiểu tác phẩm”, ông tiếp tục khẳng định với bạn đọc: “Tôi nghĩ,
văn chương phải đối thoại được với cuộc sống, viết thật lòng không
nói dối- nhờ cái thật mà đối thoại được với cuộc đời và người đang
sống” [69, tr. 547].
Như vậy, chúng ta nên hiểu "sự thật" đó như thế nào? Cái
thật trong văn học, theo quan niệm của Lê Lựu, nó bắt nguồn từ cái
thật trong cuộc sống mà cuộc sống thời bấy giờ có nhiều sự đổi thay
to lớn. Người đọc thích nhìn thẳng vào sự thật, nói thật và làm thật.
Qua văn chương, người đọc muốn hiểu thời đại lúc bấy giờ ra sao,
muốn nhận thức đúng thực chất các mối quan hệ xã hội của con
người trong một xã hội đầy biến động. Ông ý thức rằng, văn học
không thể tách rời hiện thực mà phải bám sát hiện thực. Vậy là đã rõ,
sông Hồng, thôn Mẫn Hoà, xã Tân Châu, huyện Khoái Châu, tỉnh
Hưng Yên trong một gia đình nông dân bình thường như bao gia
đình nông dân tại vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam. Làng quê
mà ông sinh ra và lớn lên là một vùng quê nghèo đói, một vùng
chiêm trũng ngập lụt. Ông lớn lên giữa lúc miền Bắc được hoàn
toàn giải phóng. Người nông dân bước vào công cuộc xây dựng xã
hội mới, người cày có ruộng.
Lê Lựu rời ghế nhà trường từ đầu những năm 60, lúc đó phong
trào “ba nhất” đang hừng hực khí thế. Lúc đầu, ông làm báo ở quân khu
III. Tiếp đến là phóng viên báo, công tác tại mặt trận đường dây 559
Trường Sơn thời kỳ chiến tranh, ông từng lăn lộn ở chiến trường máu
lửa với tư cách một người lính văn hóa…
Đến những năm 70, ông chuyển về tạp chí Văn nghệ quân đội,
từng là biên tập viên văn xuôi, thư kí tòa soạn. Ở đấy, ông không chỉ
làm công việc của một biên tập viên mà còn sáng tác. Trong đời
thường Lê Lựu chân thật, hồn nhiên, đôi lúc có phần “lôi thôi lếch
thếch”, “luộm thuộm” nhưng bên cạnh đó, ông sống rất gần gũi, chân
thật, cởi mở… đó chính là nguồn lực khiến ông không khô khan
trong sáng tác văn chương.
Khởi đầu sự nghiệp viết văn từ những năm 60 của thế kỷ
XX, Lê Lựu thuộc số ít những nhà văn thế hệ chống Mỹ tiếp tục
có những thành tựu nổi bật trong lao động nghệ thuật từ sau 1975,
nhất là từ công cuộc đổi mới văn học từ Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ VI tới nay. Gần 40 năm cầm bút với hơn 20 tập sách, số
lượng tác phẩm của Lê Lựu thuộc loại trung bình. Lê Lựu vốn
khởi nghiệp từ nghề báo nhưng lại thành công trong lĩnh vực văn
chương. Truyện ngắn đầu tay của ông là Tết làng Mục (1964), tiếp
đến là những tác phẩm Người cầm súng (1967), rồi sau đó là tiểu