Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của một số dòng đậu tương nhập nội từ hàn quốc tại thái nguyên - Pdf 50

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

PHẠM XUÂN HẢI

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG,
PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ DÒNG ĐẬU TƯƠNG
NHẬP NỘI TỪ HÀN QUỐC TẠI THÁI NGUYÊN
Ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 8.62.01.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Người hướng dẫn khoa học: TS. Lưu Thị Xuyến

Thái Nguyên, năm 2018


i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
là trung thực và chưa từng được ai công bố. Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự
giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin
trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Thái Nguyên, ngày 18 tháng 12 năm 2017
Tác giả luận văn

Phạm Xuân Hải


ii
LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU ...................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................ 1
2. Mục tiêu nghiên cứu .................................................................................. 2
3. Ý nghĩa của đề tài ...................................................................................... 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ........................................................ 4
1.1. Cơ sở khoa học ....................................................................................... 4
1.2. Yêu cầu sinh thái của cây đậu tương ..................................................... 5
1.2.1. Nhiệt độ ............................................................................................... 5
1.2.2. Nước .................................................................................................... 6
1.2.3. Ánh sáng.............................................................................................. 7
1.2.4. Đất đai ................................................................................................. 7
1.2.5. Dinh dưỡng.......................................................................................... 8
1.3. Tình hình sản xuất và chọn tạo giống đậu tương trên thế giới và
Việt Nam ....................................................................................................... 8
1.3.1. Tình hình sản xuất và chọn tạo giống đậu tương trên thế giới ........... 8
1.3.2. Tình hình sản xuất, chọn tạo giống đậu tương ở Việt Nam .............. 15
1.3.3. Kết quả nghiên cứu về chọn tạo giống đậu tương ở Việt Nam ........ 17
1.4. Kết luận rút ra từ tổng quan tài liệu nghiên cứu .................................. 24
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............. 25
2.1. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu ..................................... 25
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu........................................................................ 25


iv
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................... 25
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu ........................................................ 25
2.2.1. Địa điểm nghiên cứu ......................................................................... 25
2.2.2. Thời gian nghiên cứu ........................................................................ 26
2.3. Nội dung nghiên cứu ............................................................................ 26
2.4. Phương pháp nghiên cứu...................................................................... 26

3.5. Khả năng hình thành nốt sần hữu hiệu của các dòng đậu tương thí
nghiệm năm 2017 Thái Nguyên .................................................................. 51
3.5.1. Khả năng hình thành nốt sần hữu hiệu thời kỳ hoa rộ: ..................... 52
3.5.2. Khả năng hình thành nốt sần hữu hiệu thời kỳ chắc xanh: ............... 54
3.6. Tình hình sâu bệnh của các dòng đậu tương thí nghiệm năm 2017
tại Thái Nguyên ........................................................................................... 56
3.7. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các dòng đậu
tương thí nghiệm vụ Xuân năm 2017 tại Thái Nguyên .............................. 59
3.7.1. Các yếu tố cấu thành năng suất. ........................................................ 59
3.7.1. Năng suất của các dòng đậu tương thí nghiệm ................................. 62
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ......................................................... 67
5.1. Kết luận ................................................................................................ 67
5.2. Đề nghị ................................................................................................. 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................ 69
PHỤ LỤC ................................................................................................... 70


vi
DANH MỤC CÁC CỤM, TỪ VIẾT TẮT
CCC

: Chiều cao cây

cs

: Cộng sự

Đ/C

: Đối chứng


: Nông nghiệp

NS

: Năng suất

NSLT

: Năng suất lý thuyết

NSTT

: Năng suất thực thu

Nxb

: Nhà xuất bản

TGST

: Thời gian sinh trưởng

VHT

: Vụ Hè Thu

VX

: Vụ Xuân



viii
Bảng 3.8: Các yếu tố cấu thành năng suất dòng đậu tương thí nghiệm
năm 2017 tại Thái Nguyên.......................................................... 60
Bảng 3.9: Năng suất lý thuyết của các dòng đậu tương thí nghiệm năm
2017 tại Thái Nguyên.................................................................. 63
Bảng 3.10: Năng suất thực thu của các dòng đậu tương thí nghiệm
năm 2017 tại Thái Nguyên.......................................................... 65


ix
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: Biểu đồ năng suất lý thuyết của các dòng đậu tương thí
nghiệm vụ Xuân và vụ Hè Thu năm 2017 ................................. 64
Hình 3.2: Biểu đồ năng suất thực thu của các dòng đậu tương thí
nghiệm vụ Xuân và vụ Hè Thu năm 2017 ................................. 66


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cây đậu tương (Glycine max (L.) Merrill) là một cây trồng cạn có tác
dụng rất nhiều mặt và là cây có giá trị kinh tế cao. Sản phẩm của nó cung cấp
thực phẩm cho con người, nguyên liệu cho chế biến, thức ăn gia súc gia cầm
và là mặt hàng xuất khẩu có giá trị. Ngoài ra đậu tương còn là cây cải tạo đất
rất tốt (Ngô Thế Dân và cs, 1999) [2].
Hạt đậu tương là loại sản phẩm duy nhất mà giá trị của nó được đánh
giá đồng thời cả prôtêin và lipit. Theo các phân tích sinh hoá trong hạt đậu
tương thì hàm lượng prôtêin chiếm khoảng 36-40%, lipittừ 12 - 20% và còn

trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã ký kết hợp tác với phía Hàn Quốc
nhập nội 300 dòng đậu tương mới về khảo sát. Kết quả cho thấy qua 2 vụ thử
nghiệm 300 dòng trên có một số dòng tỏ ra có triển vọng tốt. Để đánh giá
được chính xác khả sinh trưởng, phát triển của các dòng có triển vọng đã lựa
chọn được qua 2 vụ thí nghiệm tại Thái Nguyên làm cơ sở cho việc chọn
giống đậu tương thích hợp cho tỉnh phục vụ sản xuất, chúng tôi thực hiện đề
tài: “Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của một số dòng đậu tương
nhập nội từ Hàn Quốc tại Thái Nguyên”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Chọn được dòng đậu tương nhập nội từ Hàn Quốc có khả năng sinh
trưởng, phát triển tốt tại Thái Nguyên giới thiệu cho công tác giống.
3. Ý nghĩa của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
Đề tài là công trình nghiên cứu về khả năng sinh trưởng, phát triển và
cho năng suất cá thể của các dòng đậu tương nhập nội từ Hàn Quốc. Các kết
quả nghiên cứu đạt được sẽ góp phần cung cấp dẫn liệu khoa học cho công tác
nghiên cứu và chọn tạo giống đậu tương. Mặt khác, kết quả nghiên cứu của đề
tài sẽ là cơ sở và gợi ý cho các nghiên cứu tiếp theo về cây đậu tương.


3
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp lựa chọn được những dòng đậu
tương có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt, năng suất cá thể cao phù hợp
với điều kiện sinh thái của vùng. Phục vụ cho việc công nhận giống mới và
phát triển đậu tương của vùng.


4
Chương 1

1.2. Yêu cầu sinh thái của cây đậu tương
1.2.1. Nhiệt độ
Nhiệt độ tối thiểu và tối đa cho cây đậu tương ở thời kỳ nảy mầm nằm
trong phạm vi từ 10 - 40oC. Dưới 10oC thì sự vươn dài của trục mầm dưới lá
bị ảnh hưởng. Hạt đậu tương muốn mọc được cần có nhiệt độ từ 10 - 12oC
càng ấm thì hạt đậu tương càng dễ mọc và mọc nhanh (Ngô Thế Dân và cs,
1999) [2].
Cây đậu tương tuy có nguồn gốc ôn đới nhưng không phải là cây chịu
được rét. Tổng tích ôn của nó biến động trong khoảng 1700 - 2700oC. Đậu
tương có thể sinh trưởng trong phạm vi nhiệt độ không khí từ 27 - 42oC.
Trong quá trình sinh trưởng, nếu nhiệt độ biến động trên hoặc dưới mức thích
hợp quá nhiều đều có thể gây thiệt hại cho đậu tương. Khả năng bị thiệt hại do
nhiệt độ tùy thuộc vào từng giai đoạn sinh trưởng của cây. Nhiệt độ thích hợp
cho quá trình nảy mầm của hạt đậu tương là từ 22 - 26oC nếu nhiệt độ quá cao
hoặc quá thấp đều ảnh hưởng đến quá trình nảy mầm.
Thời kỳ cây con từ khi ra lá đến khi cây ra 3 lá kép, đậu tương có khả
năng chịu rét hơn chịu hạn. Nhiệt độ thích hợp cho sự sinh trưởng của cây con
là từ 22 - 27oC.
Thời kỳ phát triển thân, cành, lá. Thời kỳ này thân cành phát triển mạnh,
nhiệt độ thích hợp cho thời kỳ này là 20 - 30oC, thấp nhất là 15oC, cao nhất là
37oC. Nhiệt độ thích hợp nhất cho sự quang hợp của cây đậu tương là từ 25 40oC. Nhiệt độ thấp ảnh hưởng đến ra hoa, kết quả, nếu nhiệt độ 100oC sẽ ngăn
cản sự phân hóa mầm hoa, nhiệt độ dưới 18oC có khả năng làm cho quả không
đậu, nhiệt độ cao trên 40oC làm ảnh hưởng rất lớn đến hình thành đốt, lóng và
phân hóa mầm hoa. Nhiệt độ thích hợp nhất cho thời kỳ ra hoa là 22 - 25oC.
Nhiệt độ còn ảnh hưởng tới sự cố định Nitơ vi khuẩn Rhizobium
Jaconicum bị hạn chế ở nhiệt độ 33oC, nhiệt độ thích hợp cho vi khuẩn hoạt
động là 25 - 27oC.


6

7
gian nhất định nhưng muốn đạt năng suất cao cần phải đảm bảo cho cây
thường xuyên đủ ẩm, nếu gặp hạn đặc biệt vào các giai đoạn quan trọng thì
phải tìm mọi cách khắc phục để tưới cho cây (Phạm Văn Thiều, 2006) [15].
1.2.3. Ánh sáng
Là yếu tố ảnh hưởng sâu sắc đến hình thái cây đậu tương, nó làm thay
đổi thời gian nở hoa và chín, ảnh hưởng tới chiều cao cây, diện tích lá và rất
nhiều các đặc tính di truyền khác của đậu tương.
Ánh sáng là yếu tố quyết định quá trình quang hợp, sự cố định nitơ và
sản lượng chất khô cũng như nhiều đặc tính khác phụ thuộc vào quang hợp.
Cây đậu tương có phản ứng với độ dài ngày, các giống khác nhau
phản ứng với độ dài ngày khác nhau, là một cây ngắn ngày điển hình, sự
tác động của ánh sáng ngày ngắn mạnh nhất là vào giai đoạn trước khi cây
ra hoa, lúc này ánh sáng ngày ngắn sẽ làm cho cây rút ngắn thời gian sinh
trưởng, làm giảm chiều cao cây, số đốt cũng như độ dài các lóng (Phạm
Văn Thiều, 2006) [15].
Cây đậu tương chịu ảnh hưởng nhiều của cường độ ánh sáng, trong
điều kiện có độ dài ngày thích hợp thì chỉ có 30% cường độ bức xạ mặt trời là
được, do đó ta có thể trồng xen đậu tương với các loại cây trồng khác. Trong
thời kỳ ra hoa và hình thành hạt, số giờ chiếu sáng thích hợp là từ 6 - 12 giờ,
lúc này nếu gặp điều kiện ngày dài thời gian chiếu sáng trên 13giờ/ngày thì
cây sẽ không ra hoa được (Phạm Văn Thiều, 2006) [15].
1.2.4. Đất đai
Đậu tương có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau, thích hợp nhất là
đất thịt nhẹ, tơi xốp, sâu màu, thoáng, thoát nước, pH từ 6,5 - 7,2. Đậu tương
không sống được trên đất quá chua hoặc quá kiềm. Đất ít màu, chua vẫn có
thể trồng được đậu tương, nhưng cần phải thoát nước, bón nhiều lân và vôi.
Trong vụ xuân có thể gieo đậu tương trên các chân cao, không đủ nước
để cấy lúa chiêm xuân, chân đất bãi ven sông ở các tỉnh Đồng bằng và Trung


sản lượng không ngừng tăng lên qua các thời kỳ.


9
Số liệu thống kê về diện tích, năng suất và sản lượng trên thế giới được
thể hiện ở bảng 1.1
Bảng 1.1: Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới 5 năm 2010-2014
Diện tích

Năng suất

Sản lượng

(triệu ha)

(tạ/ha)

(triệu tấn)

2010

102,79

25,77

264,91

2011

103,82


(Nguồn: FAOSTAT, 2016) [22]
Qua số liệu bảng 1.1 cho thấy: Diện tích trồng đậu tương trên thế giới
hàng năm không ngừng tăng. Năm 2014 diện tích tăng khoảng 15 triệu ha so
với năm 2010. Diện tích trồng đậu tương lớn nhất trên thế giới là 117,72 triệu
ha vào năm 2014. Về năng suất, trong 5 năm, từ năm 2010 - 2014 năng suất
đậu tương trên thế giới tương đối ổn định dao động từ 22,93 - 26,2 tạ/ha. Năm
2012, năng suất đậu tương trên thế giới thấp nhất là 22,93 tạ/ha. Năm 2014,
năng suất đậu tương cao nhất là 26,2 tạ/ha. Do hàng năm diện tích trồng liên
tục tăng lên nên sản lượng đậu tương trên thế giới cũng tăng lên, trong 4 năm
từ 2010 - 2014 tăng 43,53 triệu tấn.


10
Bảng 1.2: Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương của 4 nước
trồng đậu tương chủ yếu trên thế giới
Tên nước

Mỹ

Braxin

Acgentina

Trung
Quốc

Diên tích

Năng suất


203,44

2013

85,79

28,34

243,09

2014

91,86

29,53

271,21

2010

23,33

29,48

68,76

2011

23,97


18,13

29,05

52,68

2011

18,76

26,05

48,89

2012

17,58

22,81

40,10

2013

19,42

25,39

49,31


13,01

2013

6,79

17,60

11,95

2014

6,73

18,13

12,20

Năm

(Nguồn: FAOSTAT, 2016)[22]
Trong 5 năm gần đây diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương của Mỹ
không ngừng tăng lên. Năm 2014 là năm Mỹ đạt đỉnh cao về cả diện tích, năng
suất và sản lượng khẳng định vị trí số một trong sản xuất đậu tương. Có được


11
thành công như vậy phải nói rằng nước Mỹ đã hết sức chú trọng đến việc phát
triển đậu đỗ. Không những tăng về diện tích mà Mỹ còn quan tâm đến vấn đề

năm, Trung Quốc vẫn phải nhập khẩu một lượng lớn đậu tương từ châu Mỹ;
Trung Quốc là nước phải nhập đậu tương lớn nhất trên thế giới.
1.3.1.2. Kết quả nghiên cứu về chọn tạo giống đậu tương trên thế giới
Nhận thức được vai trò vô cùng quan trọng, cũng như nhu cầu của con
người sử dụng các sản phẩm được chế biến từ đậu tương ngày một tăng mà
nhiều nước đã đầu tư lớn cho việc tăng năng suất và diện tích cây đậu tương.
Để thực hiện được điều đó họ đã chú trọng đến đẩy mạnh việc áp dụng khoa
học kỹ thuật trong công tác nghiên cứu chọn tạo giống mới. Đã có hàng nghìn
công trình nghiên cứu trên thế giới được thực hiện qua các năm, với các
phương pháp nghiên cứu khác nhau nhằm tìm ra những giống đậu tương có
năng suất cao, phẩm chất tốt thích nghi với điều kiện sinh thái của các vùng
khác nhau.
Hiện nay, nguồn gen đậu tương trên thế giới được lưu giữ chủ yếu ở 15
nước: Đoài Loan, Australia, Trung quốc, Pháp, Nigienia, Ấn độ, Indonesia,
Nhật bản, Triều tiên, Nam Phi, Thụy điển, Thái lan, Mỹ, Nga với tổng số
45.038 mẫu giống (Trần Đình Long và cs, 2005)[10].
Mỹ là quốc gia luôn dẫn đầu thế giới về năng suất và sản lượng đậu
tương. Nhờ các phương pháp chọn lọc và nhập nội, gây đột biến và lai tạo mà
họ đã tạo ra được những giống đậu tương mới. Những dòng nhập nội có năng
suất cao đều được sử dụng làm giống gốc trong các chương trình lai tạo và
chọn lọc. Năm 1983, Mỹ đã có trên 10.000 mẫu giống đậu tương thu thập được
từ các nước trên thế giới. Mục tiêu của công tác chọn giống của mỹ là chọn ra
những giống đậu tương có khả năng thâm canh cao, phản ứng yếu với yếu tố
quang chu kỳ, chống chịu tốt với điều kiện bất thuận, có hàm lượng protein và
lipit cao, đẽ bảo quuản và chế biến. (Johnson H.W. and Bernard R.L.,
1976)[25]. Năm 2009 các nhà khoa học của Mỹ đã nghiên cứu thành công hệ
gen của cây đậu tương. Bộ gen có hơn 46.000 gen, trong đó có 1.110 gen có


13

14
Hiện nay, vùng Đông nam Á cũng là một vùng trọng điểm của công tác
phát triển giống đậu tương và đậu tướng được ưu tiên hàng đầu trong hệ
thống nông nghiệp.
Tại Indonesia, các nhà nghiên cứu chọn tạo nhằm mục đích cải tiến
giống có năng suất cao trồng được ở vùng đất thấp sau vụ thu hoạch lúa, với
thời gian sinh trưởng ngắn khoảng 70-80 ngày, chống chịu bệnh gỉ sắt và có hạt
thon dài (Sumarno và T.Adisan wanto, 1991) [26] . Kết quả có 14 giống năng
suất cao đã được tạo ra và được khuyến cáo gieo trồng trong đó có giống Wilis
được trồng phổ biến nhất, giống này có thời gian sinh trưởng 85 ngày, năng
suất bình quân đạt 2,5 tấn/ha. Việc cải tiến giống đã góp phần đưa năng suất
đạt 2,5 tấn/ha, giống có thời gian sinh trưởng ngắn, thích ứng với môi trường
không thuận lợi (đất không cày bừa; đất khó tiêu nước), chất lượng hạt được
tăng lên, tăng khả năng chống đổ... (Sumarno và T.Adisan wanto, 1991) [26].
Qua chọn lọc mà họ đã chọn ra được một số giống trồng được trên đất ướt sau
vụ thu hoạch lúa với việc làm đất và không làm đất trong mùa khô mà vẫn cho
năng suất 14,7 - 16,8 tạ/ha như các giống Kerinci, Lompobatang, Rinjani.
Thái Lan với sự phối hợp giữa hai trung tâm MOAC và SGPRT nhằm
cải tiến giống có năng suất cao, chống chịu tốt với một số sâu bệnh hại chính
(gỉ sắt, sương mai, vi khuẩn,...) đồng thời có khả năng chịu được đất mặn,
chịu được hạn hán và ngày ngắn (Judy W.H. and Jackobs J.A., 1979) [24].
Trong những năm gần đây Ấn độ tiến hành khảo nghiệm các giống đậu
tương địa phương và nhập nội tại trường đại học tổng hợp Pathaga. Tổ chức
AICRPS (The All India coordinated Research Projeet on Soybean) và NRCS
(National Research Center for Soybean) đã tập trung nghiên cứu và đã phát
hiện ra 50 tính trạng phù hợp với khí hậu nhiệt đới, và phát hiện ra những
giống có tính chống chịu với bệnh khảm virus.
Tại Nhật Bản, Viện tài nguyên sinh học quốc gia Nhật bản hiện đang
lưu giữ khoảng 6000 mẫu giống đậu tương khác nhau, trong đó có 2000 mẫu
giống đậu tương được nhập nội về phục vụ cho công tác chọn tạo giống

181,1

Năng suất
(tấn/ha)
1,47

Sản lượng
(nghìn tấn)
266,9

2012

119,6

1,45

173,5

2013

117,2

1,44

168,2

2014

109,4


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status