Một số phương pháp giúp học sinh lớp 2 học tốt môn Tiếng Việt
MỤC LỤC
A. TÊN ĐỀ TÀI ……………………………...………………………………….2
B. PHẦN MỞ ĐẦU……………………………...…………………..………… 2
I. Lí do chọn đề tài………………………………………………....……..……...2
II. Mục đích nghiên cứu…….……………………………....……….…………...2
III. Đối tượng nghiên cứu ……………………………………………………….2
IV. Đối tượng khảo sát, thực nghiệm …………………………………………....3
III. Phương pháp nghiên cứu……………………...…………….……….……....3
IV. Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu...…….……...………………..…………....3
C. PHẦN NỘI DUNG………………………...…………………..…………….3
I. Hiện trạng……………………………...…………………………..…………..3
II. Giải pháp …………………………………….......………..……….................4
III. Kết quả………….………………………………………….…………….....10
D. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.......………...………………………………11
Tài liệu tham khảo .……………………………………...….…..…………...12
Giáo viên: Nguyễn Lệ Trinh
Trường Tiểu học Hướng Phùng
1
Một số phương pháp giúp học sinh lớp 2 học tốt môn Tiếng Việt
A. TÊN ĐỀ TÀI: MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 2
HỌC TỐT MÔN TIẾNG VIỆT.
B. PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài
1.1. Cơ sở lí luận
Môn Tiếng Việt là môn học chủ đạo, là môn học công cụ; mang tính nhân
TIẾNG VIỆT.
II. Mục đích nghiên cứu
- Theo dõi và kiểm nghiệm kết quả học tập môn Tiếng Việt của học sinh
qua những phương pháp mà giáo viên thực hiện.
- Tìm ra những giải pháp, phương pháp mới giúp học sinh học tốt hơn
môn Tiếng Việt lớp 2.
III. Đối tượng nghiên cứu
- Hiện trạng học tập môn Tiếng Việt của học sinh.
Giáo viên: Nguyễn Lệ Trinh
Trường Tiểu học Hướng Phùng
2
Một số phương pháp giúp học sinh lớp 2 học tốt môn Tiếng Việt
- Các phương pháp dạy học Tiếng Việt mới.
IV. Đối tượng khảo sát, thực nghiệm
- Học sinh lớp 2B trường Tiểu học Hướng Phùng.
V. Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành tìm hiểu nội dung của đề tài bản thân tôi đã kết hợp nhiều
phương pháp, cụ thể là:
+ Phương pháp điều tra: điều tra thực trạng đọc, viết của học sinh, điều tra
hoàn cảnh gia đình của từng học sinh.
+ Phương pháp trò chuyện: Trò chuyện tìm hiểu nguyện vọng, sở thích,
thói quen, tâm lý của học sinh.
+ Phương pháp thống kê: thống kê kết quả học tập của các em theo từng
tháng.
+ Phương pháp thực hành luyện tập: thực hành các phương pháp dạy học
mới trên đối tượng khảo sát.
Giáo viên: Nguyễn Lệ Trinh
Trường Tiểu học Hướng Phùng
3
Một số phương pháp giúp học sinh lớp 2 học tốt môn Tiếng Việt
- Trường hợp 2: Em hãy đánh vần tiếng : năm
Kết quả: một số em đánh vần: ắ - mờ - ăm, nờ - ăm – năm, một số em lại
đánh vần: nờ - ă – ná – mờ - ăm, nờ - ăm – năm, năm.
- Trường hợp 3: đa số học sinh viết sai dấu thanh( đặc trưng của học sinh
dân tộc thiểu số) và xác định vần sai .
- Trường hợp 4: Một số em chưa thuộc bảng chữ cái.
- Trường hợp 5: Một số em đọc được nhưng chưa viết được.
II. Giải pháp thực hiện
* Về tập đọc: Tôi nắm kĩ lại các kĩ năng đọc trong tập đọc gồm:
-Phát âm từng âm, nhận diện chữ/ dấu ghi âm/ thanh điệu.
-Ghép âm, ghép vần ( gọi “đánh vần”)
-Đọc trơn từng tiếng.
-Đọc trơn từng chữ, từng câu.
-Đọc trơn một bài.
Trong tháng đầu tiên của năm học tôi tập trung vào ôn tập cho các em
phần học vần, luyện kĩ năng nói, đọc và viết.
Khi học sinh đọc trơn được một tiếng tôi kiểm tra xem em đã nắm vững
cấu trúc của tiếng ấy chưa, hay là em chỉ làm một sự liên hệ giữa cách đọc chữ
ấy với chỗ của nó trên trang bài học. Để kiểm tra học sinh xem các em đã đọc
chắc chắn hay chưa, ta có thể đảo lộn trật tự các từ trong câu để học sinh đọc
thành câu mới
Đối với các em nhanh chóng đọc trơn được một âm tiết thì tôi kiểm tra
Khi nói tôi cho học sinh đứng trên bảng để học sinh nói to cho cả lớp
cùng nghe.
Gọi các bạn nhận xét phần nói của bạn.
Nhận xét, sửa sai cho từng em và tuyên dương kịp thời các em nói tốt.
* Về tập viết: Các kĩ năng tập viết:
-Ngồi đúng tư thế, cầm bút đúng kiểu.
-Viết đúng mẫu chữ.
-Viết liền nét trước khi đánh dấu phụ trong mỗi chữ.
-Tập viết chữ hoa.
Tập viết không những có những quan hệ mật thiết tới chất lượng học tập ở các
môn học khác mà còn góp phần quan trọng vào việc rèn luyện cho học sinh
những phẩm chất đạo đức tốt như tính cẩn thận, tính kỉ luật và óc thẩm mĩ.
Tôi thiết nghĩ luyện cho học sinh tư thế ngồi và cách cầm bút viết cho
đúng không phải chỉ là việc làm ở lớp 1, lớp 2 mà là việc làm thường xuyên của
giáo viên trong tất cả các lớp Tiểu học. Vì thế tôi đặc biệt quan tâm tới hai thao
tác quan trọng sau:
Một là tư thế ngồi viết: lưng thẳng, tay trái chặn giấy, tay phải cầm bút và
đầu chỉ hơi cúi để cách mặt giấy một khoảng vừa phải.
Hai là tay cầm bút: ngón cái và ngón trỏ đặt ở phía trên và ngón giữa ở
phía dưới quản bút, ngón áp út và ngón út chặn giấy lấy điểm tựa cho động tác
di chuyển ngòi bút. Bài viết phải đảm bảo yêu cầu, ánh sáng và thuận chiều khi
viết đưa đúng bút từ trái sang phải, từ trên xuống dưới không ấn ngòi bút mạnh
vào mặt giấy.
Để thực hiện được hai thao tác này tôi luôn kiên nhẫn và nhẹ nhàng, làm
đi làm lại nhiều lần khi nào học sinh nắm bắt được mới thôi. Tôi giảng mẫu chữ
trong sách giáo khoa, treo mẫu chữ lên bảng, viết mẫu trên bảng, viết mẫu trên
từng trang vở học trò. Cho các em tập viết nhiều lần ở bảng con, đi đến từng em
hướng dẫn, nắm tay các em hướng dẫn cách viết đúng, cứ như thế khi nào các
em viết đúng, đẹp thì mới cho học sinh viết vào Vở tập viết 2. Bởi vì sự nhiệt
tâm, chu đáo của giáo viên là một trong những yếu tố đảm bảo sự thành công
Các em ở nhóm 2 chỉ cần viết theo yêu cầu cao hơn, tức là nghe viết
nhưng giáo viên đọc chậm hơn, cho các em tập đọc nhiều hơn.
Còn các em ở nhóm 3 thì có thể cho các em tổ chức tự đọc theo nhóm.
Cho các em nghe viết ở mức độ chuẩn hoặc cao hơn.
Để khắc phục tình trạng học sinh chậm, yếu tôi phải tăng cường phụ đạo,
giúp đỡ riêng các học sinh yếu, chậm (ngoài giờ chính khóa). Bởi vì trong lớp
học đồng loạt, bản thân người giáo viên có cố gắng giảng dạy sát ba đối tượng
đến đâu đi nữa thì việc truyền thụ kiến thức cũng cần phải được tiến hành theo
trình độ và nhịp độ chung của cả lớp, nếu quá chú ý đến đối tượng học sinh
chậm, yếu thì các em khá, giỏi, trung bình sẽ buồn chán, không muốn học. Để
mọi học sinh trong lớp đều hứng thú, tự tin trong giờ học. Tôi đưa ra những yêu
cầu, nhiệm vụ khác nhau để học sinh tự chọn. Trong khi học sinh thực hiện, tôi
theo dõi, kiểm tra từng cá nhân, từng nhóm. Sau đó tôi tiến hành đánh giá và
nhận xét kết quả theo yêu cầu đã đặt ra. Chính vì lẽ đó mà tôi đã đưa ra một quy
trình giảng dạy (phụ đạo) ở nhóm học sinh chậm, yếu:
Bước 1: Tôi cho các em ôn tập lại các kiến thức và kĩ năng có liên quan
đến bài học sắp tới.
Bước 2: Cho các em đọc lại cả bài học ở trong sách giáo khoa. Đánh vần
lại những tiếng chưa đọc thông.
Bước 3: Giáo viên đọc mẫu lại toàn bài theo các bước và tổ chức cho học
sinh ghi nhớ lại các bước .
Lớp học của tôi học theo chế độ học 1 buổi/ngày . Đó là một khó khăn
cho tôi khi thực hiện kế hoạch phụ đạo cho những em học sinh chậm, yếu. Khi
tôi lên kế hoạch phụ đạo trái buổi thì vấp phải một số vấn đề đó là các em tham
gia không đầy đủ, và một số em tham gia phụ đạo buổi sáng thì buổi chiều các
em không tham gia buổi học chính nữa. Nhận thấy tình hình bất cập cho nên tôi
quyết định lên kế hoạch phụ đạo cho các em vào 15p đầu giờ và sau khi các em
hoàn thành buổi học để đảm bảo các em đều được tham gia học phụ đạo đầy đủ,
có hiệu quả cao.
1.2 Phương pháp sử dụng đồ dùng dạy học như tranh, ảnh, vật thật….cho
được như: Cậu bé đưa bà cụ qua đường, bà cụ nói lời cám ơn cậu bé, và cậu bé
đáp lời cảm ơn.
Như vậy rõ ràng trong cùng một giờ học giáo viên biết vận dụng khéo léo
tranh, ảnh thì vừa phát huy được tính sáng tạo chủ động cho học sinh khá giỏi lại
vừa tạo sự hứng thú cố gắng vươn lên cho học sinh học chậm.
1.3. Giáo viên tổ chức trò chơi học tập để củng cố kiến thức, kỹ năng.
Trò chơi học tập là một hình thức học tập bằng hoạt động, hấp dẫn học
sinh do đó duy trì tốt hơn sự chú ý của các em với bài học. Trò chơi làm thay đổi
hình thức học tập chỉ bằng hoạt động trí tuệ, đo đó giảm tính chất căng thẳng
của giờ học, nhất là các giờ học kiến thức lý thuyết mới. Trò chơi có nhiều học
sinh tham gia sẽ tạo cơ hội rèn luyện kỹ năng học tập hợp tác cho học sinh.
Trong phân môn Tập đọc có thể tổ chức cho học sinh thi đọc giữa các
nhóm hay thi đọc tiếp sức.
Ví dụ: Tập đọc: Vè chim- Trang 28 sgk Tiếng Việt 2 tập II, từng nhóm thi đọc
tiếp sức lần lượt lên đứng thành hàng ngang, quay mặt về phía các bạn; mỗi
người cầm một quyêt sách giáo khoa đã mở sắn trang có bài Vè chim sẽ thi đọc.
Giáo viên tính thời gian và ghi lại kết quả số phút đọc xong toàn bài của từng
nhóm. Nhóm đọc ít hoặc không mắc lỗi và có thời gian đọc nhanh nhất là nhóm
giành phần thắng trong cuộc thi "đọc tiếp sức" theo sách.
Qua các trò chơi tôi nhận thấy các em rất hứng thú học tập, ghi nhớ nội
dung bài và có ý chí cố gắng đọc tốt hơn.
1.4. Người giáo viên cần có lòng nhiệt tình, luôn quan tâm giúp đỡ học sinh.
Tôi luôn hiểu rằng các em học sinh lớp 2 mới từ lứa tuổi còn ham chơi
chuyển lên nên việc tiếp thu kiến thức thông qua hình thức: Học mà chơi, chơi
mà học, giáo viên phải nhẹ nhàng ân cần dạy bảo các em luôn tạo không khí
thoải mái, vui vẻ trong giờ học, một lời nhận xét động viên các em giúp các em
thấy tự tin và phấn khởi, sự chỉ bảo ân cần là điều rất cần thiết, tránh quát mắng
Giáo viên: Nguyễn Lệ Trinh
Trường Tiểu học Hướng Phùng
hoạt động nhóm đôi, tránh cho các em cùng học chậm ngồi với nhau và ngồi
cuối cùng của lớp, cần tạo điều kiện cho các em học tốt để các em biết phát huy
những ưu điểm của bạn.
Dạy các em lượng kiến thức phù hợp như: Về viết chỉ yêu cầu các em viết
một số dòng nếu như những học sinh bình thường có thể viết nhiều dòng trở lên.
Ví dụ: Tiết Chính tả(nghe- viết): Cây dừa - Tiếng Việt 2 tập II, yêu cầu
chuẩn học sinh nghe- viết 8 dòng thơ đầu, nhưng đối với học sinh chậm chỉ yêu
cầu các em nghe- viết 4 dòng, bên cạnh đó giáo viên phải theo dõi sát các em,
uốn nắn và hướng dẫn cụ thể cho các em.
Về đọc tăng cường gọi các em nhắc lại nhiều lần nếu là vần, đọc nhiều lần
nếu là câu ứng dụng hay một đoạn văn, đoạn thơ.
Ngoài ra bản thân tôi còn lập kế hoạch về thời gian để kèm cặp, phụ đạo
cho những học sinh này, mỗi tuần tôi sắp xếp thời gian cho phù hợp và phụ đạo
cho học sinh có chất lượng, cụ thể các tiết ôn tập buổi chiều các em học giỏi,
khá tự làm các yêu cầu giáo viên giao và các em ngồi cùng bàn theo dõi lẫn
nhau, khi đó giáo viên phải quan tâm đặc biệt tới những em học chậm theo dõi
sát khi các em đọc, viết, cho các em đọc nhiều hơn, động viên các em mỗi khi
các em đọc tốt. Vào các tiết hoạt động tập thể có thể cho các em này ngồi tại lớp
Giáo viên: Nguyễn Lệ Trinh
Trường Tiểu học Hướng Phùng
8
Một số phương pháp giúp học sinh lớp 2 học tốt môn Tiếng Việt
để hướng dẫn các em viết cho đúng và đẹp cũng như luyện cho các em đọc
nhiều lần.
2.2 Đối với những học sinh có hoàn cảnh gia đình như mồ côi, cha mẹ bất
hoà, cuộc sống khó khăn.
em soạn sách vở trong thời gian đầu và theo dõi kiểm tra nhắc nhở các em việc
soạn sách vở khi cho các em đã tự làm, hướng dẫn các em đọc bài nhiều lần ở
nhà, chuẩn bị cho bài mới.
Ví dụ: Ở lớp có một số em thường xuyên quên mang tập vở, không học
bài ở nhà, lần họp phụ huynh đầu tiên cha mẹ của các em không đi. Sau nhiều
lần như thế tôi phải liên lạc trực tiếp với phụ huynh, đến tận nhà thông báo tình
hình học tập của các em và nhờ phụ huynh bắt tay với nhà trường, giúp phụ
huynh hiểu được vai trò của gia đình trong việc dạy các em là rất quan trọng,
mối quan hệ giữa nhà trường và gia đình không thể tách rời nhau. Thời gian sau
cha mẹ các em đó đã quan tâm tới các em hơn và thường xuyên liên lạc với giáo
Giáo viên: Nguyễn Lệ Trinh
Trường Tiểu học Hướng Phùng
9
Một số phương pháp giúp học sinh lớp 2 học tốt môn Tiếng Việt
viên chủ nhiệm, kì họp phụ huynh lần sau cha mẹ các em đi đầy đủ. Sau một
thời gian đến nay các em học sinh đó có tiến bộ rõ rệt.
III. Kết quả thực nghiệm
Với những biện pháp nêu trên, tôi đã rèn học sinh trong suốt gần một học
kì. Qua các tiết dạy, tôi nhận thấy học sinh hứng thú hơn, tích cực hơn và tiến bộ
nhiều hơn... Không khí lớp học dường như có một chất xúc tác vô hình nào đấy
làm cho các em đọc hay hơn, chính xác hơn và dĩ nhiên tiết dạy đạt hiệu quả
cao. Điều đó làm tôi cũng vui lây với niềm vui của các em. Đó là một thực tế mà
tôi đã trải qua.
Sau gần hai học kì giảng dạy nói chung và dạy môn Tiếng Việt nói riêng,
tôi nhận thấy chất lượng dạy môn Tiếng Việt đã được nâng lên.
Kết quả giữa học kì II so với đầu năm ( cuối tháng 2/2016) cụ thể như sau:
*Làm nền móng tốt cho các em học lên lớp trên, tạo đà để chất lượng học
tập ngày một tốt hơn.
*Một số phụ huynh nhận thấy rõ vai trò của gia đình trong quá trình giáo
dục con em mình, nhiệt tình chỉ bảo, quan tâm tới các em nhiều hơn, thường
xuyên giữ mối liên hệ với nhà trường, hiểu được tầm quan trọng của sự kết hợp
giữa nhà trường và gia đình.
Trên đây là một số kết quả mà tôi đã đạt được. Tôi tin tưởng rằng với
những biện pháp nêu trên thì chất lượng dạy học môn Tiếng Việt lớp 2 trong
những năm tới sẽ đạt kết quả tốt hơn.
Giáo viên: Nguyễn Lệ Trinh
Trường Tiểu học Hướng Phùng
10
Một số phương pháp giúp học sinh lớp 2 học tốt môn Tiếng Việt
D. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I. Kết luận:
Chất lượng dạy và học chính là thước đo giá trị của nhà trường, để mục
đích cuối cùng tạo một nguồn nhân lực bao gồm những con người có đức có tài,
ham học hỏi, thông minh sáng tạo, được chuẩn bị tốt về văn hoá. Để hoàn thành
nhiệm vụ này người đòi hỏi người giáo viên phải tâm huyết với nghề, luôn tìm
tòi và có biện pháp phù hợp trong quá trình dạy học, luôn luôn tìm ra giải pháp
hợp lí, vận dụng các phương pháp phù hợp với từng đối tượng học sinh nhằm
nâng cao chất lượng dạy học nói chung và môn Tiếng Việt nói riêng, tạo tiền đề
tốt cho các em học lên các lớp trên.
Dạy học Tiếng Việt theo quy trình trên là dạy theo quan điểm giao tiếp và
tích cực hóa hoạt động của học sinh. Trong giờ học mọi học sinh đều được tham
11
Một số phương pháp giúp học sinh lớp 2 học tốt môn Tiếng Việt
Hướng Phùng, ngày 30 tháng 3 năm 2016
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
Người viết
Nguyễn Lệ Trinh
Tài liệu tham khảo
1. Sách giáo khoa Tiếng Việt 2 - Nhà xuất bản Giáo Dục.
2. Sách giáo viên Tiếng Việt 2 - Nhà xuất bản Giáo Dục.
3.Các trang web: ; ;
/>Giáo viên: Nguyễn Lệ Trinh
Trường Tiểu học Hướng Phùng
12