ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------
ĐÀO HÙNG TIẾN DŨNG
NGHIÊN CỨU BẢO QUẢN TRE, GỖ BẰNG PHƢƠNG PHÁP NGÂM
TRONG HỖN HỢP BÙN VÀ LÁ XOAN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành
: Quản lý tài nguyên rừng
Khoa
: Lâm nghiệp
Khóa học
: 2013 - 2017
Thái Nguyên, 2017
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
: ThS. Nguyễn Việt Hƣng
Thái Nguyên, 2017
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi.
Các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình nghiên cứu thực nghiệm hoàn toàn
trung thực, chưa công bố trên các tài liệu, nếu có gì sai sót tôi xin chịu hoàn toàn
trách nhiệm.
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017
Xác nhận của giáo viên hƣớng dẫn
Ngƣời viết cam đoan
Đồng ý cho bảo vệ kết quả trƣớc
Hội đồng khoa học
ThS. Nguyễn Việt Hƣng
Đào Hùng Tiến Dũng
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên đã sửa sai sót
sau khi hội đồng chấm yêu cầu
(Ký, ghi rõ họ tên)
Đào Hùng Tiến Dũng
iii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
Nghĩa của từ, cụm từ viết tắt
STT
Từ viết tắt
1
STT
2
ASTM
Hiệp hội vật liệu và thử nghiệm Hoa Kỳ
3
BNN & PTNN
Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
STT
Tên bảng
Trang
1
Bảng 4.1. Khả năng phòng chống nấm của tre, gỗ ngâm trong hỗn
33
hợp bùn và lá xoan
2
Bảng 4.2. Khả năng phòng chống nấm của gỗ thông ngâm trong hỗn
34
hợp bùn và lá xoan
3
Bảng 4.3. Khả năng phòng chống nấm của tre ngâm trong hỗn hợp
36
bùn và lá xoan
4
43
hợp bùn
9
Bảng 4.9. Khả năng phòng chống nấm của tre ngâm trong hỗn hợp
bùn
44
10
Bảng 4.10. Khả năng phòng chống mối của tre, gỗ ngâm trong hỗn
45
hợp bùn
11
Bảng 4.11: Khả năng phòng chống mối của gỗ thông ngâm trong hỗn
47
hợp bùn
12
Bảng 4.12. Khả năng phòng chống mối của tre ngâm trong hỗn hợp
bùn
48
Hình 4.1. Khả năng phòng chống nấm của tre, gỗ ngâm trong hỗn
33
hợp bùn và lá xoan
5
Hình 4.2. Khả năng phòng chống nấm của gỗ thông ngâm trong
35
hỗn hợp bùn và lá xoan
6
Hình 4.3. Khả năng phòng chống nấm của tre ngâm trong hỗn hợp 35
bùn và lá xoan
7
Hình 4.4. Khả năng phòng chống mối của tre, gỗ ngâm trong hỗn
37
hợp bùn và lá xoan
8
bùn
13
Hình 4.10: Khả năng phòng chống mối của gỗ thông ngâm trong
43
46
hỗn hợp bùn
14
Hình 4.11. Khả năng phòng chống mối của tre ngâm trong hỗn
hợp bùn
49
vi
MỤC LỤC
Lời cam đoan ...................................................................................................... i
Lời cảm ơn ........................................................................................................ ii
Danh mục các từ, cụm từ viết tắt ..................................................................... iii
Danh mục bảng................................................................................................. iv
Danh mục hình .................................................................................................. v
Mục lục ............................................................................................................. vi
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ............................................................. 33
4.1.Kết quả nghiên cứu khả năng bảo quản tre, gỗ băng phương pháp ngâm
trong hỗn hợp bùn và lá xoan ........................................................................... 33
4.1.1.Khả năng phòng chống nấm của tre gỗ ngâm trong hỗn hợp bùn và lá xoan
......................................................................................................................... 33
4.1.2. Khả năng phòng chống nấm của tre, gỗ ngâm trong hỗn hợp bùn và lá
xoan ................................................................................................................. 37
4.2. Kết quả nghiên cứu khả năng bảo quản tre, gỗ băng phương pháp ngâm
trong hỗn hợp bùn ........................................................................................... 42
4.2.1. Khả năng phòng chống nấm của tre gỗ ngâm trong hỗn hợp bùn ..................42
4.2.2. Khả năng phòng chống mối của tre, gỗ ngâm trong hỗn hợp bùn ............. 45
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ...................................................... 50
5.1. Kết luận ......................................................................................................... 50
5.2. Khuyến nghị .................................................................................................. 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................. 52
Tài liệu trong nước: .............................................................................................. 52
Tài liệu tiếng anh:................................................................................................53
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Gỗ là loại vật liệu có rất nhiều ưu điểm như nhẹ, có hệ số phẩm chất cao,
có khả năng chịu lực tốt, cách điện cách âm tốt … Do đó được con người biết
tới và sử dụng rất rọng rãi trong công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận
tải,kiến trúc, xây dựng, khai khoáng…Những năm gần đây lâm nghiệp đóng
trái do thuốc bảo quản gỗ có nguồn gốc hóa học gây lên. Đây cũng chính là cơ
sở tạo ra các sản phẩm an toàn cho người tiêu dùng, góp phần làm tăng giá trị
các loại sản phẩm trên thị trường trong nước và phục vụ cho xuất khẩu.
Xoan là một trong những loài thảo mộc có đặc tính kháng sâu bệnh đang
được nghiên cứu và sử dụng ngày càng nhiều ở nước ta và một số nước trên thế
giới. Trong thực tế, lá xoan được sử dụng như một loài thuốc trừ sâu tự nhiên
diệt côn trùng, trống mối mọt, chữa ghẻ cho gia súc…Xoan dễ trồng, có ở nhiều
nơi, khả năng ứng dụng ở các địa phương đơn giản hơn.
Để có cơ sở khoa học về cách sử dụng bùn và lá xoan và nâng cao khả
năng về bảo quản gỗ nói riêng và lâm sản nói chung chúng tôi tiến hành nghiên
cứu về khả năng bảo quản gỗ của bùn và lá xoan thông qua đề tài: “Nghiên cứu
bảo quản tre, gỗ bằng phƣơng pháp ngâm trong hỗn hợp bùn và lá xoan”.
1.2. Mục tiêu và ý nghĩa của đề tài
1.2.1. Mục tiêu
- Đánh giá được khả năng phòng chống nấm, mối của tre gỗ ngâm trong hỗn
hợp bùn và lá xoan
- Đánh giá được khả năng phòng trừ nấm, mối của tre gỗ ngâm trong hỗn
hợp bùn
1.2.2. Ý nghĩa của đề tài
Ý nghĩa trong công tác học tập và nghiên cứu khoa học:
Thu thập được kinh nghiệm và kiến thức từ thực tế, củng cố lý thuyết đã
học và biết cách thực hiện một đề tài.
Sinh viên biết cách tổng hợp, phân tích số liệu, đánh giá kết quả và viết
một báo cáo nghiên cứu khoa học.
3
Giúp sinh viên nắm được phương pháp bảo quản gỗ bằng hỗn hợp bùn và
lá xoan.
để diệt sinh vật hại gỗ [11].
2.1.1.2. Tầm quan trọng của công tác bảo quản gỗ
Gỗ, tre, nứa là nguồn lâm sản được sử dụng phổ biến để làm nguyên liệu
trong xây dựng, làm đồ nội thất và đồ gia dụng thiết yếu khác.
Từ lâu đời nhân dân ta đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm và tìm ra các
biện pháp hạn chế sự tấn công này như: Chặt tre, gỗ vào mùa đông để giảm
lượng dinh dưỡng trong cây, ngâm tre gỗ dưới ao hồ để phá hủy một phần lượng
dinh dưỡng đó, để gác bếp, hun khói… Đặc điểm nổi bật là chúng ta sống trong
môi trường nhiệt đới nóng ẩm. Điều kiện này thuận lợi cho sự phát triển của sinh
vật nói chung song đối sinh vật gây hại cũng hoạt động mạnh quanh năm. Công
nghệ bảo quản bằng các loại phương pháp tự nhiên ra đời chính là đã kế thừa
các thành tựu của việc nghiên cứu cơ bản về sinh vật học.
Việc áp dụng phương pháp bảo quản lâm sản nhằm mục tiêu:
5
Công nghệ bảo quản gỗ nhằm mục đích kéo dài tuổi thọ sử dụng lâm sản
ngoài gỗ và gỗ gấp hàng chục lần so với việc sử dụng theo độ bền tự nhiên.
Nhằm tăng giá trị sử dụng của các sản phẩm, hạn chế các tổn thất nặng nề do các
sinh vật hại gỗ như mối mọt, nấm mục v.v… gây ra kể từ ngay sau khi chặt hạ
đến suốt quá trình sử dụng.
Bằng các biện pháp kỹ thuật (có hoặc không sử dụng phương pháp bảo
quản) phải kéo dài tuổi thọ sử dụng gỗ và lâm sản ngoài gỗ lên nhiều lần so với
gỗ không được xử lý bảo quản, góp phần đảm bảo an toàn cho các sản phẩm và
các công trình sử dụng lâm sản.
Công nghệ bảo quản ra đời được đánh giá là một bộ phận của cuộc cách
mạng khoa học - kỹ thuật của thế kỷ XX. Nó không những đã mang lại hiệu quả
kinh tế to lớn, tiết kiệm tài nguyên rừng, góp phần sử dụng tài nguyên hợp lý,
chủ động, hiệu quả, do đó nó có vai trò trong chiến lược phát triển, bảo vệ tài
sẽ thoát ra khỏi gỗ.
Khi gỗ bị chuyển sang trạng thái lạnh, không khí và hơi nước còn lại trong
gỗ sẽ bị lạnh và trở về trạng thái ban đầu, thể tích không gian mà chúng chiếm
chỗ sẽ nhỏ hơn. Kết quả làm cho áp suất trong khoang rỗng tế bào gỗ bị giảm,
thấp hơn áp suất môi trường xung quanh. Do sự chênh lệch áp suất này, dung
dịch phương pháp lạnh sẽ dễ dàng thấm vào gỗ [15].
2.1.2.4. Phương pháp chân không áp lực
Phương pháp này gồm hai quá trình:
Tăng áp lực: Tạo ra sức ép để ép phương pháp thấm vào gỗ, trị số áp lực
thông thường 6 - 12.105pa
Hút chân không: Độ sâu chân không thường là 600 – 650 mmHg. Cụ thể
hút chân không ở các thời điểm: Chân không trước khi tăng áp lực. Chân không
giữa các quá trình áp lực. Chân không sau quá trình áp lực.
Trật tự của hai quá trình cơ bản này thay đổi tùy theo quy trình, tức phụ
thuộc vào nhiều yếu tố: Khả năng thấm phương pháp của các loại gỗ, độ ẩm gỗ,
loại phương pháp, lượng thấm phương pháp cần thiết…
7
Sự thay đổi của hai quá trình này đã tạo nên nhiều phương pháp tẩm gỗ như:
Phương pháp tế bào đầy, phương pháp tế bào rỗng, phương pháp bán dẫn [15].
2.1.2.5. Phương pháp bóc vỏ cây
Phương pháp này để hạn chế sự xâm nhập của mọt hại gỗ tươi và mối hại
vỏ cây, sau khi khai thác thường được bóc vỏ (trừ một số loại gỗ chuyên dùng
cần giữ vỏ). Bóc vỏ làm gỗ ráo mặt nhanh, ẩm độ giảm xuống tạo điều kiện bất
lợi cho các sinh vật hại gỗ tươi xâm nhập [15].
2.1.2.6. Phương pháp phơi, sấy gỗ
Gỗ phơi sấy là một biện pháp bảo quản lâm sản khỏi một số loại côn trùng
hại gỗ tươi. Gỗ có độ ẩm cao được xếp thành chồng lên nhau hoặc được xếp lên
2.1.2.9. Phương pháp thay thế nhựa
Gỗ sau khi chặt 2 - 3 ngày, nhựa cây vẫn ở trang thái lỏng sẽ dịch chuyển
được nếu có lực đẩy từ phía gốc đến ngọn của khúc gỗ.
Lợi dụng đặc điểm này, người ta dùng dung dịch phương pháp tiếp vào
một đầu của khúc gỗ (phía gốc), nhờ sự chênh lệch áp lực của dung dịch ở đầu
gốc và đầu ngọn khúc gỗ, dung dịch tẩm sẽ ép vào các mạch, dồn dần nhựa về
một phía và sẽ thay thế vị trí của nhựa vào các khoảng trống.
Thời gian ngâm tẩm tùy thuộc vào từng loại gỗ, bình quân khoảng 5 - 12 ngày.
Sau khi kết thúc quá trình tẩm một tuần lễ có thể tiến hành bóc vỏ và tùy theo
thời gian hong phơi tương ứng với yêu cầu về độ ẩm ta có thể đem sử dụng được.
Lượng thuốc tiêu hao cho phương pháp này khoảng 400 - 500kg/m3 dung
dịch thuốc nước. Có nồng độ dung dịch thuốc tẩm tùy thuộc vào từng loại thuốc
mà sử dụng [15].
2.1.2.10. Phương pháp phun, quét
+ Phương pháp quét
Là phương pháp bảo quản thô sơ nhất, thường gặp trong thực tế sản xuất,
như trong các khâu bảo quản tạm thời gỗ ở các bãi bến trong một thời gian ngắn
và bảo quản lớp mặt các vật dụng bằng gỗ [15].
+ Phương pháp phun
Phương pháp phun nhanh hơn phương pháp ngâmtuy vậy do lượng hao
phí của phương pháp này quá lớn, nhất là những chi tiết nhỏ nên phạm vi sử
dụng ít.
9
Tác dụng bảo quản: Mang tính tạm thời, bảo quản lớp mặt. Nó cũng có
tầm quan trọng nhất định trong một số trường hợp như bảo quản bổ sung những
vật dụng ở những chỗ hiểm yếu của các công trình như gầm cầu, trần nhà các
chỗ khe ngóc ngách ngâm[15].
Độ cưỡng tính theo mặt cắt tiếp tuyến: 450 (Kg/cm2)
- Giới hạn bề khi uốn tĩnh:
Giới hạn bền theo chiều xuyên tâm: 420 (Kg/cm2)
Giới hạn bền theo chiều tiếp tuyến: 450 (Kg/cm2)
2.1.3.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thấm thuốc của gỗ
+ Loại gỗ:
Sức thấm của các loại gỗ khác nhau. Ngay trên cùng một cây gỗ ở gỗ giác
và gỗ lõi cũng khác nhau. Do cấu tạo gỗ rất phức tạp, con đường dẫn dung dịch
thuốc bảo quản chủ yếu là hệ thống mạch gỗ, quản bào và lỗ thông ngang. Nếu
kích thước của hệ thống này lớn thì sức thấm thuốc tăng. Do vậy, khối lượng thể
tích là yếu tố cần quan tâm.
Yếu tố trong cấu tạo gỗ ảnh hưởng đến sức thấm thuốc là thể bít. Thể bít
là một loại chất chiết suất từ nguyên sinh chất tạo nên, nó có vai trò như nút
ngăn cản chất lỏng đi vào ống mạch.
+ Thời gian ngâm:
Thời gian ngâm phụ thuộc vào nhiều yếu tố: loại gỗ, loại thuốc, độ ẩm gỗ...
Ví dụ cùng một loại gỗ, ngâm cùng một loại thuốc, nhưng quy định về lượng thuốc
thấm và độ sâu thấm thuốc khác nhau thì thời gian ngâm dài ngắn khác nhau.
+ Loại thuốc, lượng thuốc, nồng độ thuốc
Loại thuốc khác nhau thì lượng thuốc thấm và thời gian thấm thuốc là
khác nhau. Trong cùng một loại thuốc khi thay đổi nồng độ dung dịch, lượng
thuốc bảo quản sẽ ảnh hưởng tới khả năng thấm thuốc. Có một vài trường hợp
khi ngâm gỗ có độ ẩm cao với dung dịch thuốc nồng độ cao lúc này làm thay đổi
quá trình thấm của thuốc vào gỗ. Từ thấm theo nguyên lý mao dẫn sang thấm
theo nguyên lý khuyếch tán.
+ Độ ẩm gỗ:
11
dịch thể theo quy luật vật lý nơi tiếp giáp giữa dịch thể, chất rắn và không khí
sẽ tạo ra bề mặt cong do sức căng bề mặt ngoài của chất lỏng và mức độ dính
ướt của vật rắn nơi tiếp giáp giữa vật rắn và dịch thể tạo ra một góc và do đó
xuất hiện hai loại áp lực mao quản thuận, nghịch khác nhau. Khi áp lực mao
quản thuận sự thấm thuốc sẽ kém và ngược lại khi áp lực mao quản nghịch thì
sự thấm thuốc sẽ tốt hơn.
Trên thực tế, do tế bào gỗ có cấu tạo không đồng nhất, đẳng hướng và một
số loại gỗ còn có dầu nhựa cản trở sự thấm thuốc và việc xác định các thông số
sẽ gặp khó khăn.
+ Thấm do khuyếch tán:
Quá trình khuyếch tán là quá trình di chuyển vật chất từ pha này sang pha
khác khi hai pha tiếp xúc trực tiếp với nhau. Trong dung dịch quá trình khuếch
tán làm cho dung dịch đồng nhất về khối lượng riêng và áp suất. Do vậy, các
phần tử ion thuốc bảo quản hòa tan trong nước sẽ chuyển động với một động
năng trung bình của chuyển động tịnh tiến vào, áp suất đó do các phần tử gây lên
Áp suất này gọi là áp suất thẩm thấu. Trong ngâm tẩm gỗ vách tế bào gỗ có
thể coi là màng bán thấm. Vận tốc chuyển động của các phân tử hoặc ion thuốc
phụ thuộc vào nhiệt độ, khi nhiệt độ càng cao thì vận tốc chuyển dịch tăng lên.
Bằng các phép đo chính xác, người ta đo được tốc độ chuyển động tỷ lệ với T
(T là nhiệt độ). Áp suất thấm thấu phụ thuộc vào T, nếu T tăng thì áp suất tăng.
Đối với gỗ có độ ẩm cao, khi tẩm thuốc bảo quản, nước ở trong gỗ có xu
hướng dịch chuyển ra dung dịch tẩm và các phân tử hoặc ion chất bảo quản sẽ
dịch chuyển vào gỗ.
+ Thấm do áp lực từ bên ngoài:
Quá trình thấm này là do có áp lực được tạo ra từ bên ngoài tác động lên
bề mặt dung dịch thuốc hoặc bề mặt gỗ. Áp lực này có thể được tạo ra bằng
những hình thức sau:
14
được đốt cháy một lớp mỏng. Đến thế kỷ 19, một loạt sản phẩm hoá chất đã
được sử dụng để tẩm gỗ như clorua thuỷ ngân HgCl2 (1805), clorua kẽm ZnCl2
(1815), sun phát đồng CuSO4 (1837); dầu nhựa than đá Creosote (1838)... Trong
những thập niên trở lại đây, danh mục các sản phẩm hoá học dùng cho bảo quản
lâm sản ngày càng được bổ sung thêm. Song chính trong quá trình phát triển đó,
các hoá chất có độc tính cao đối với sức khoẻ con người và môi trường đã dần bị
loại bỏ. Các hợp chất tổng hợp bằng con đường hoá học, chiết xuất từ thực vật,
từ vi sinh vật có Hiệu quả phòng trừ sinh vật gây hại lâm sản cao và an toàn với
con người, môi trường sống đã được ưu tiên nghiên cứu và đưa vào sử dụng.
Cùng với việc ra đời phát triển của các lĩnh vực khoa học sinh vật, nhiều loại
nấm mốc, côn trùng, hà… phá hoại gỗ và lâm sản cũng được điều tra và phân loại
các công trình nghiên cứu về đạc tính sinh học sinh thái đã làm nền tảng cho các
nhà hóa học công nghệ, nghiên cứu mở rộng các phương pháp bảo quản, các biện
pháp kỹ thuật xử lý bảo quản gỗ và lâm sản. Một trong những thành tựu nổi bật về
sự kết hợp hữu hiệu này của các nhà nghiên cứu cơ bản và các nhà nghiên cứu kĩ
thuật giữa thế kỷ 20 này là nghiên cứu mối gây hại lâm sản trong công trình xây
dựng bằng phương pháp lây truyền để diệt trừ mối tận ổ. Từ việc phát hiện đặc tính
của mối: chúng mớm thức ăn cho nhau, liếm cho nhau, một số nhà khoa học của Ấn
Độ, Inđônêxia đã nghĩ đến biện pháp dùng các chất hóa học xử lý lên con mối, nhờ
đặc tính sinh học nói trên, mối truyền chấ độc về tổ, tận hoàng cung của mối chúa.
Feytantd (1949) cho biết cụ thể thêm rằng các hợp chất có gốc là asenic hoặc fluo ở
dạng bột mịn có thể dùng làm thuốc cho mối chết bằng cách lây truyền.
Một số công trình nghiên cứu trên thế giới đã giúp chúng ta hiểu rõ hơn các cơ
sở lý luận để từ đó nghiên cứu các giải pháp phù hợp trong việc bảo quản lâm sản.
Christebsen ( 1951) nghiên cứu mối quan hệ giữa nhiệt độ với khả năng
khuếch tán của thuốc bảo quản gỗ và nhận định rằng: nhiệt độ tăng thì khả năng
chịu đối với sinh vật gây hại, kéo dài thời gian sử dụng của lâm sản. Đối với gỗ
sử dụng làm nguyên liệu trong sản xuất đồ mộc đã có một số công trình nghiên
cứu về đặc điểm phá hoại của sinh vật hại gỗ, các giải pháp kỹ thuật và loại
phương pháp bảo quản phù hợp với điều kiện sử dụng lâm sản từ khi khai thác
đến kết thúc quá trình sử dụng. Để tránh cho gỗ không bị mục nát và bảo vệ các
16
công trình xây dựng. Từ xa xưa cha ông ta đã biết bảo quản tre, gỗ, bằng cách
ngâm xuống ao bùn, gác lên gác bếp... từ đó đúc rút kinh nghiệm qua nhiều đời,
nhiều thế hệ và đã khẳng định " muốn làm nhà cho mình và cho cả con cháu thì
phải ngâm gỗ thật kỹ, thật chín", thời gian ngâm ít nhất là một năm. Đây là
những kinh nghiệm quý giá mà hiện nay vẫn còn phát huy giá trị và được áp
dụng để bảo quản các sản phẩm lâm sản ở các vùng thôn quê. Hiện nay, qua
kiểm nghiệm, chúng ta đã lý giải được tre gỗ được ngâm dưới ao bùn có tác
dụng làm cho các chất dinh dưỡng như tinh bột, đường... bị phân huỷ, các chất
còn lại chủ yếu là xenlulo, hemixenlulo, linhin. Vì vậy, tre gỗ đã ngâm nước
hoặc ngâm trong bùn có tác dụng phòng mọt, xén tóc song vẫn có thể bị mối
xông hoặc bị nấm mục gây hại nếu sử dụng ngoài trời hoặc tiếp xúc với đất ẩm
bởi nguồn thức ăn của mối, nấm mục là xenlulo.
Công tác nghiên cứu khoa học về bảo quản gỗ ở nước ta được khởi đầu
bằng một số công trình nghiên cứu điều tra định loại một số sinh vật hại gỗ vào
đầu thế kỷ 20 của một số nhà khoa học nước ngoài. Cuối những năm 50 và đầu
những năm 60 của thế kỷ 20, công tác nghiên cứu và biện pháp áp dụng các
tiến bộ kỹ thuật bảo quản gỗ bằng hoá chất mới thực sự được triển khai rộng và
tương đối đồng bộ. Nhà nước đã có Nghị định số 10/CP (1960) qui định phải
bảo quản gỗ. Khởi đầu của giai đoạn này là việc ra đời một xí nghiệp ngâm tẩm
gỗ tà vẹt bằng Creosote theo phương pháp tẩm áp lực - chân không. Sau đó, ở
một số cơ sở chế biến sử dụng gỗ đã bắt đầu áp dụng với các phương pháp tẩm