Nghiên cứu bào chế liposome nifedipin bằng phương pháp hydrat hóa màng film - Pdf 33

BÀI NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu bào chế liposome nifedipin
bằng phương pháp hydrat hóa
màng film
Trần Thị Hải Yến, Nguyễn Thu Hà, Phạm Thị Minh Huệ
Trường Đại học Dược Hà Nội

SUMMARY
Nifedipin is a calcium blocker, used in hypertension and angina. But it has lipophylic property, therefore oral formulations of
nifedipin has very low bioavailobility. Liposomes ore small artificial vesicles of sphericoI shape thot can be created from cholesterol
and natural non-toxic phospholipids. Due to its hydrophobic character, liposomes are promising systems fornifedipin delivery. In this
study liposomal nifedipin was prepared by hydration of lipid film with these parameters: evaporation temperature: 40PC, evaporation
time: 18 hours, hydration process: phosphate buffer solution pH 6.5 at 50PC for 3 hours, reducing liposomal size: probe sonicotion
with frequency 10000 Hz, interrupted for 15 minutes in control temperature. The contents of phospholipid and evaporation time had
influence on the characteristic ofnifedipin liposome.
Từ khóa: liposome, nifedipin, hydrơthóa màng film

Đặt vấn đề
Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học
kĩ thuật nhiều dạng thuốc mới ra đời. Liposome là
một dạng thuốc tác dụng hướng đích, có triển vọng
tăng sinh khả dụng và giảm độc tính của nhiều dược
chất. Đây là dạng thuốc đang được đầu tư nghiên cứu
phát triển ở trong nước và trên thế giới.
Liposome được cấu thành từ phospholipid và
cholesterol. Cấu tạo của liposome bao gồm một nhân
nước ở giữa và một hoặc nhiều lớp vỏ phospholipid
kép bao quanh, nhờ vậy mà nó phù hợp làm chất
mang cho cả dược chất thân nước hay thân dầu [1 ].
Nifedipin là một dược chất thân dầu, có tác dụng chẹn

quay nhiệt độ 40°c thu được lớp màng film. Lớp film
lipid được hydrat hóa bằng dung dịch đệm phosphat
pH 6,5 ở nhiệt độ 50°c thu được hỗn dịch liposome
nifedipin thô. Hỗn dịch thu được mang siêu âm ngắt
quãng với tắn số 10000Hz, kết hợp làm lạnh để làm
nhỏ kích thước liposome.


__________________________________A

Phương pháp đánh giá liposome nifedipin
Hình thức
Hỗn dịch liposome nifedipin màu trắng đục mờ,
không lắng cặn
KTTPvàphân bốKTTP: mẫu được pha loãng 100 lần
bằng nước tinh khiết đo KTTP trung bình Z-average
(nm) và phân bố KTTP (PDI-chỉ số đa phân tán) trên
máy zetasizer ZS 90.
Hiệu suất liposome hóa
Để đánh giá hiệu suất liposome hóa, cần thiết
phải loại nifedipin tự do ra khỏi hỗn dịch liposome.
Nifedipin tự do thực tế không tan trong nước do vậy
sẽ tổn tại ở dạng kết tủa trong hỗn dịch, lí tâm hỗn

dịch ở tốc độ 3500 v/ph trong vòng 30 phút, nifedipin
tự do kết tủa xuống đáy ống ly tâm. Lấy phẩn hỗn
dịch liposome phía trên, định lượng nifedipin được
nifedipin liposome hóa.
Hiệu suất liposome hóa nifedipin được tính bằng
công thức sau:


:1 : 1

131,3

0,278

35,7

A621

6

:2 : 1

116,1

0,274

35,1

A631

6:3:1

108,9

0,269

42,3


111,9

0,273

6 6 ,1

A831

8:3:1

109,3

0,269

49,6

Kết quả ở bảng 1 cho thấy KTTP của các mẫu không có sự khác biệt đáng kể nhưng hiệu suất liposome
hóa khác nhau nhiều giữa các mẫu. Cùng một lượng dược chất, tỉ lệ SPC càng tăng thì hiệu suất liposome hóa
càng cao.
Công thức A621 và A821 có KTTP nhỏ, phân bố trong khoảng hẹp, hiệu suất liposome hóa tương đối cao
được lựa chọn để tiếp tục nghiên cứu cải thiện hiệu suất liposome hóa.
Ảnh hưởng của thời gian cất quay
Hai công thức được lựa chọn A621 và A821 được bào chê theo quy trình thay đổi điểu kiện cất quay từ 3 giờ
lên thành 18 giờ, 2 mẫu mới được ký hiệu B621 và B821. Kết quả đánh giá KTTP và hiệu suất liposome hóa sau
bào chế và sau 2 tuần bảo quản trong điểu kiện 2-8°C thể hiện ở bảng 2.
Bổng 2. So sánh ĩhời gian cất quay đén độc tính củoliposomeniíedipin
Mẫu

Thờỉ gian


293

B821

18

110,4

0,291

75,4

74,1

A821

3

111,9

0,273

6 6 ,1

58,3

Hiệu suất sau 2 tuấn
(%)


hóa, mà còn ảnh hưởng đến tính ổn định của liposome
cũng nhưgây ra độc tính cho chế phẩm. Để loại hết vết

dung môi cẩn tiếp tục cất quay sau khi lớp film lipid.
Với quy trình cất quay 3 giờ, hiệu suất liposome
hóa cao ở những mẫu có tỉ lệ phospholipid cao (bảng
1). Tuy nhiên khi tăng thời gian cất quay lên 18 giờ để
loại bỏ vết dung môi hữu cơ thì hiệu suất liposome
hóa tăng rất nhiểu ở mẫu có tỉ lệ phospholipid thấp
hơn (bảng 2). Điểu này chứng tỏ vết dung môi hữu
cơ còn lại trong mẫu làm giảm hiệu suất liposome
hóa nhiểu ở mẫu A621 do hòa tan một phần
phospholipid. Khi loại triệt để dung môi hữu cơ thì
lượng phospholipid cẩn thiết để mang dược chất như
ở mẫu B621. Nói cách khác, không cần thiêt phải sử
dụng tỉ lệ phospholipid cao như mẫu B821 để mang
cùng một lượng dược chất. Do vậy, thời gian cất quay
tốt nhất là 18 giờ.
Kết luận
Đã bào chế được liposome nifedipin bằng phương
pháp hydrat hóa film với các thông số được lựa chọn
sau: bốc hơi dung môi trong áp suất giảm ở nhiệt độ
40°c trong 18 giờ, hydrat hóa trở lại màng film bằng
dung dịch đệm phosphat pH 6,5 ở 50°c trong 3 giờ,
siêu âm bằng đầu dò với tẩn số 10000 Hz để làm giảm
KTTP liposome trong 15 phút, ngắt quãng, có làm
lạnh. Tỉ lệ tá dược và thời gian bốc hơi dung môi đểu
ảnh hưởng đến đặc tính của liposome nifedipin.

TÀI LIỆU THAM KHẢO


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status