TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
LÊ PHƯƠNG THANH
THƠ HAIKU CỦA NHẬT BẢN VÀ CA DAO
VIỆT NAM NHÌN TỪ GÓC ĐỘ VĂN HÓA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lý luận văn học
HÀ NỘI - 2018
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
LÊ PHƯƠNG THANH
THƠ HAIKU CỦA NHẬT BẢN VÀ CA DAO
VIỆT NAM NHÌN TỪ GÓC ĐỘ VĂN HÓA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Người hướng dẫn khoa học
PGS. TS. PHÙNG GIA THẾ
HÀ NỘI - 2018
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lí do lựa chọn đề tài...................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................ 2
3. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu................................................................. 3
5. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 3
6. Bố cục ............................................................................................................ 4
NỘI DUNG ....................................................................................................... 5
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ HAIKU VÀ CA DAO ....................................... 5
1.1. Những nét khái quát về thơ Haiku ............................................................. 5
1.1.1. Nguồn gốc hình thành thơ Haiku ............................................................ 5
1.1.2. Đặc điểm thơ Haiku ................................................................................ 6
1.2. Khái quát về ca dao .................................................................................... 8
1.2.1. Khái niệm ca dao ..................................................................................... 8
1.2.2. Thể thơ .................................................................................................... 9
1.2.2.1. Thể lục bát ............................................................................................ 9
1.2.2.2. Thể song thất lục bát .......................................................................... 10
1.2.2.3. Thể song thất: ..................................................................................... 11
1.2.2.4. Thể vãn ............................................................................................... 11
1.2.2.5. Thể hỗn hợp ....................................................................................... 13
1.2.3. Cấu trúc ngữ nghĩa ................................................................................ 13
Chương 2: CẢM THỨC THẨM MỸ TRONG HAIKU VÀ CA DAO ......... 15
2.1. Điểm tương đồng...................................................................................... 15
2.2. Những cảm thức riêng .............................................................................. 18
2.2.1. Trong ca dao .......................................................................................... 18
2.2.1.1. Những trường hợp xuất hiện thiên nhiên ........................................... 18
2.2.1.2. Cảm thức thẩm mỹ về thiên nhiên ..................................................... 19
2.2.2. Trong thơ Haiku .................................................................................... 21
MỞ ĐẦU
1. Lí do lựa chọn đề tài
1.1. Văn hoá có một sức hút mạnh mẽ không chỉ đối với các nhà nghiên cứu
mà còn đối với toàn thể cộng đồng bởi nó kết tinh và thể hiện đậm nét tính cách và
tâm lí của con người. Sự kì lạ xen lẫn với những bất ngờ, thú vị luôn làm cho những
ai lần đầu tiếp xúc với nền văn hoá một nền văn hóa mới đều bị lôi cuốn. Sự phong
phú về loại hình, sự đa dạng về hình thức thể hiện đã giúp cho văn hoá trở thành
nguồn đề tài bất tận cho các công trình nghiên cứu. Văn học là gương mặt của văn
hoá dân tộc, vì vậy nó không thể đứng ngoài luồng tác động của văn hóa. Văn học
đã sớm trở thành một phương tiện lưu trữ và truyền tải văn hoá không chỉ trong
phạm vi lãnh thổ mà còn tiến xa ra bên ngoài thế giới.
1.2. Thơ Haiku và ca dao được xem là tinh túy thơ ca của Nhật Bản và Việt
Nam. Cả hia đều phản ánh thế giới quan nhân sinh, đời sống tâm hồn, tình cảm của
quần chúng nhân dân. Do vậy, đây đều là những một kho chất liệu phong phú vềđời
sốngtinh thần của nhân dân lao động. Có thể nhận thấy rằng giữa hai thể thơ có sự
gặp gỡ về cách nhìn nhận thế giới quan nhân sinh và hình thức biểu đạt song bên
cạnh đó cũng thấy rõ những điểm riêng biệt. Sự đối chiếu từ góc độ văn hóa trong
hai thể thơ này để thấy sự giống và khác nhausẽ giúp chúng ta hiểu hơn về vẻ đẹp
thơ ca của hai đất nước này và có thái độ trân trọng đối với giá trị tinh thần cao quý
của nhân loại. Từ đó tìm ra những đặc trưng văn hóa dân tộc, cái độc đáo mang
“dấu ấn quốc gia” và đặc trưng cũng như cái chung của văn hóa phương Đông.
1.3. Hiện nay trong chương trình Ngữ văn THCS và THPT và nhất là bậc đại
học Thơ Haiku của Nhật Bản và Ca dao Việt Nam được đưa vào giảng dạy và học
tập với số lượng đáng kể. Các nhà soạn sách giáo khoa đã có quan điểm đúng khi
chú ý đến hai thể loại này. Trước tình hình ấy việc lựa chon đề tài nghiên cứu của
này có thêm ý nghĩa thực tiễn. Tác giả khóa luận mong muốn rằng đề tài này sẽ góp
phần thiết thực nhất định cho việc tìm hiều, học tập thơ haiku và ca dao ở các bậc
học trong nhà trường phổ thông.
1
Ngọc Chừ nghiên cứu về ngôn ngữ trong ca dao Việt Nam.
2
Nhìn chung, những vấn đề trong thơ Haiku và ca dao được đề cập trong
không ít bài viết, công trình nghiên cứu. Tuy vậy, qua một số tài liệu kể trên, có thể
nhận thấy rằng văn hóa trong thơ Haiku và ca dao đều được tác giả này hoặc tác giả
khác nói tới nhưng chỉ là cái nhìn khác quát, chưa có sự khám phá sâu sắc và nhất là
chưa có sự so sánh giữa hai thể loại thơ ca này.
Tuy vậy, đó vẫn chỉ là những bài viết lẻ, hoặc chỉ là một vài tiểu mục nào đó
trong luận văn, luận án về một thể loại, nghĩa là vẫn chưa có công trình nào khảo sát
một cách tổng hợp, so sánh hai thể loại . Chính vì vậy, qua việc tiếp thu các công
trình nghiên cứu của các tác giả này, cộng với sự tìm tòi nghiên cứu phát hiện
những điểm giống và khác nhau về mặt nội dung cũng như nghệ thuật trên cơ sở so
sánh văn hóa trong thơ Haiku của Nhật Bản và ca dao của Việt Nam. Điều này càng
kích thích tôi mạnh dạn đi vào đề tài này
3. Mục đích nghiên cứu
3.1. Cập nhật, bổ sung kiến thức về hai thể thơ đặc sắc của hai dân tộc Nhật
Bản và Việt Nam. Đồng thời nâng cao nhận thức, giải mã những đặc điểm để từ đó
nhìn thấy mối quan hệ giữa văn học và văn hóa
3.2. Nhận diện nét đặc thù riêng của văn hóa Nhật Bản và Việt Nam cũng như
cái phổ quát của văn hóa phương Đông
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là so sánh thơ Haiku và ca dao từ góc nhìn văn hóa
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Một số văn bản thơ haiku Nhật Bản và ca dao Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp hệ thống
âm tiết, dòng ba 5 âm tiết, hai dòng cuối mỗi dòng 7 âm tiết (5-7-5-7-7).
Từ thế kỉ XIV- XV khi thơ Tanka có dấu hiệu thoái trào trên thi đàn văn
chương Nhật xuất hiện thể thơ Renga cũng có nhịp 5-7-5-7-7 như Tanka nhưng tách
thành hai phần 5-7-5 và 7-7 rõ rệt, số lượng câu không hạn chế.
Thực
chất
Renga là trò chơi nối câu thơ của thơ Tanka. Giới quý tộc Heian rất thích lối sáng
tác như thế. Sau này trong bài Renga liên hoàn đoạn thơ khởi xướng phần thượng
cú được gọi là hokku (phát cú) và viết với hình thức 17 âm tiết (5-7-5). Đến thế kỉ
XVI, công chúng yêu thơ Nhật Bản rất thích trò chơi nối thơ nên Renga trở nên phổ
biến và bình dân hơn, thậm chí có nhiều bài renga được làm với mục đích hài hước,
thậm chí là châm chọc là haikai no renga, gọi tắt là haikai. Thể haikai do tầng lớp
thị dân sáng tác với mục đích đùa cợt, phóng túng nên dễ sa vào sự dung tục, chắp
nối, gượng ép.
Sau này Basho đã đưa thơ Haiku thoát khỏi sự tầm thường bằng cách dung
hợp cả cái vô tâm lẫn hữu tâm, sự trào lộng đời thường của haikai hiện đại với sự
tao nhã, tâm linh của renga cổ điển vào trong 17 âm tiết của bài hokku. Từ đấy
hokku không phụ thuộc vào renga nữa, nó trở thành thể thơ độc lập và có tên là
haiku hay hài cú lúc đầu có tên là haikai đến thế kỉ XIX mới có tên là haiku. Phần
5
đầu hokku của bài renga là tiền thân của thơ haiku, như vật thơ haiku có nguồn gốc
từ tanka và renga
1.1.2. Đặc điểm thơ Haiku
Haiku là thể thơ ngắn nhất thế giới, thông thường mỗi bài có 17 âm tiết trong
Hoa cúc thơm
Tượng Phật cổ”
(Basho)
Hoa cúc gợi đến mùa thu Nhật Bản, đây cũng chính là quý ngữ của bài
thơ.Việc dùng quý ngữ để thể hiện sự gắn bó sâu sắc của người dân Nhật Bản với
thiên nhiên. Người Nhật Bản rất nhạy cảm với bốn mùa có cảm quan tinh tế với thời
tiết. Sự luân chuyển của "mùa" thể hiện nhịp điệu của thế giới thiên nhiên và đời
sống con người và đó là sự vận động của thời gian. Mỗi bài thơ là hương sắc của
bốn mùa rực rỡ với những nét tươi đẹp, hồn nhiên, trữ tình nồng thắm.
Đọc thơ Haiku, ta cảm nhận được vị trí ở ngoài sự kiện của tác giả. Tác giả
dường như chỉ chia sẻ với người đọc một dự kiện đã quan sát được:
“Cỏ hoang trong đồng ruộng
dẫy xong bỏ tại chỗ
phân bón”
(M.Basho)
Nhưng người đọc vẫn có thể nghiệm được tình cảm của tác giả, một tình cảm
nhẹ nhàng, bàng bạc trong thơ, nói lên niềm vui sống hay sự cô đơn, đôi khi cũng
nêu ra điểm thắc mắc về cuộc đời của con người: ngắn ngủi, phù du, trước sự vĩnh
hằng của thiên nhiên.
Thơ có xu hướng gợi ý hay ám chỉ bóng gió nhẹ nhàng. Thông thường trong
thơ đưa ra hình ảnh; một hình ảnh trừu tượng, sống động và linh hoạt, một hình ảnh
cụ thể ghi dấu ấn thời gian và nơi chốn.
“Trăng soi (hình ảnh trừu tượng)
một bầy ốc nhỏ (hình ảnh cụ thể)
khóc than đáy nồi” ( nơi chốn cụ thể)
(Issa)
Nhà thơ không giải thích hay bàn luận về sự liên kết giữa hai hình ảnh này, chỉ
diễn tả bản chất tự nhiên của nó. Người làm thơ phải đặt mình như đứa trẻ lúc nào
7
Đặc trưng của thi pháp ca dao
8
1.2.2. Thể thơ
1.2.2.1. Thể lục bát
Đa số ca dao được sáng tác theo thể lục bát. Theo thống kê của Nguyễn Xuân
Kính trong cuốn "Ca dao Việt Nam", có 973 lời được sáng tác theo thể thơ lục bát,
chiếm 95%. Theo thống kê trong cuốn "Tuyển tập Văn học dân gian Việt Nam" thì
có 5337/5600 lời sáng tác bằng thể thơ lục bát, chiếm 95,3%.
Thể thơ lục bát còn gọi là thể thơ sáu-tám bởi kết cấu của thể thơ dòng trên
sáu tiếng và dòng dưới tám tiếng. Một bài lục bát có số dòng không hạn định, vần
bằng; tiếng cuối của câu lục hiệp với tiếng thứ sáu của câu bát, tiếng thứ sáu của câu
bát hiệp với tiếng của câu lục tiếp; cứ như thế đến hết bài lục bát.
Ví dụ:
“Trên trời có đám mây xanh
Ở giữa mây trắng, xung quanh mây vàng
Ước gì anh lấy được nàng
Để anh mua gạch Bát Tràng về xây”…
Nhịp điệu cơ bản của thể thơ lục bát cơ bản là nhịp 2/2/3, 2/4/2, 4/4, khi diễn
ra những tình cảm yêu thương buồn đau mất mát thì thể thơ lục bát sử dụng cách
gieo vần bằng và nhịp phổ biến là 2/2/2 đã thể hiện được điều đó:
“Người ơi/ ơi hỡi/ người thương
Đi đâu/ mà để/ người thương/ lạnh lùng”
Thế nhưng khi cần diễn đạt những điều trắc trở, khúc mắc, mạnh mẽ, đột
ngột hay tâm trạng bất thường, bất định thì có thể chuyển sang nhịp lẻ 3/3, 1/5,
3/5…đây là một dạng của lục bát biến thể:
“Chồng gì anh/ vợ gì tôi
Chẳng qua là cái nợ đời chi đây”
như những đợt sóng lên cao xuống thấp rồi lại dàn ra đón lấy những đợt sóng khác
(Phan Ngọc (1984), “Suy nghĩ về thể loại song thất lục bát”, Bđd, tr. 75)
Làm theo thể này, mỗi lời ca chỉ gồm một khổ (bốn dòng thơ); cực kì hiếm hoi
nếu không muốn nói rằng không có lời nào dài từ hai khổ trở lên:
“Dưới mặt nước chói lòa yếm đỏ
Trên bầu trời rạng rỡ mây xanh
10
Từ ngày chia rẽ em anh
Nước trời còn đó ai đành phụ nhau”
Ngoài ra trong ca dao còn có hiện tượng song thất lục bát biến thể:
“Nước chay xuôi, con cá bơi lội ngược
Nước chảy ngược, con ca vược lội ngang
Thuyền em xuống bến Thuận An
Thuyền anh lại trẩy lên ngàn, anh ơi!”
“Ai trắng như bông lòng tôi không chuộng
Ai đó lên giòn, làm ruộng tôi thương
Biết rằng dạ có vấn vương
Để tôi cậy mối tìm đường sang chơi”
1.2.2.3. Thể song thất:
Đây là thể loại đặc biệt ở ca dao. Theo Nguyễn Xuân Kính thì trong thơ bác
học, không có tác phẩm nào chỉ có hai câu thất. Ở trong ca dao, hiện tượng này
không phổ biến nhưng không phải là không có:
“Áo vá vai/ vợ anh không biết
Áo vá quàng/ chí quyết vợ anh”
Hai cặp song thất càng tăng lên sự khẳng định, sự kết luận chắc chắn
“Trầu không vôi/ ắt là trầu mình
Cau không hạt/ ắt là cau già
Ra chợ Kẻ Giêng
Mua con gà mái về nuôi
Nó đẻ ra mười trứng
Một trứng: ung
Hai trứng: ung
Ba trứng: ung
Bốn trứng ung…
…
Chớ than phận khó ai ơi
Còn da lông mọc, còn chồi lên cây”
Thể lục bát kết hợp với thể vãn tạo cho bài ca có thể vững chắc, là điểm nhấn
12
kết vấn đề, ngăn lại dòng kể lan man của thể vãn. Có nhiều lúc phải kể lể sự tình,
phải bộc bạch nỗi ấm ức trong lòng, câu thơ lục bát xuất hiện sẽ làm hạn chế chức
năng của nó, vì thế thể lục bát kết hợp với thể vãn để bài ca có giọng kể lể dẫn dắt.
1.2.2.5. Thể hỗn hợp
Đây là thể kết hợp với nhiều thể khác nhau trong một lời ca chiếm hơn 1%. Sự
hỗn hợp này khá đa dạng chẳng hạn lời ca sau đây kết hợp giữa các câu chữ khác
nhau 6+4+4+4+4+6/8:
“Chiều chiều trước bến Vân Lâu
Ai ngồi ai câu
Ai sầu ai thảm
Ai thương ai cảm
Ai nhớ ai trông
Thuyền ai thấp thoáng bên sông nay khá
Nghe câu mái đầy chạng lòng nước”
Hay sự kết hợp 5+5+6+8
14
Chương 2: CẢM THỨC THẨM MỸ TRONG HAIKU VÀ CA DAO
2.1. Điểm tương đồng
Thiên nhiên chính là khoảng không gian bên ngoài, là nơi con người luôn tìm
về mỗi khi muốn tìm thấy chính mình, đứng trước thiên nhiên mỗi cá nhân thường
có những cảm nhận riêng bởi họ có những trải nghiệm, hiểu biết khác nhau và trên
hết mỗi khung cảnh lại mở ra cho con người một cái nhìn. Bất kể dân tộc nào cũng
đều sở hữu trong mình những khung cảnh thiên nhiên khác chính vì vậy nó trở
thành một đặc trưng cho nền văn hoá hóa. Chúng ta đi tìm hiểu thiên nhiên cũng
chính là tìm hiểu văn hóa của dân tộc hay nói khác đó là tìm hiểu cách giao cảm,
cách nhìn của con người với chính thiên nhiên đó. Nhờ đó phát hiện những quan
niệm khác nhau về thiên nhiên. Tuy vậy điều thú vị là những đất nước khác nhau,
con người khác nhau, cách nhau xa về không gian đại lí nhưng vẫn phát hiện ra
những điểm tương đồng trong cảm quan thẩm mỹ. Điều này được thấy ở qua hình
thức nghệ thuật văn chương thơ Haiku Nhật Bản và ca dao.
Tình yêu thiên nhiên, trong đó có tình yêu cái đẹp của thiên nhiên, phong
cảnh là nột nét tính cách nổi bật ở cả người Nhật và người Việt. Điều đó được minh
chứng một cách rõ ràng hơn qua hai loại hình nghệ thuật gắn liền với hai quốc gia
đó là thơ Haiku của Nhật Bản và ca dao trữ tình Việt Nam, người đọc thấy hiện lên
đó cảnh núi sông, sơn thuỷ hài hoà, cảnh vật luân chuyển,tươi tắn, hữu tình..Đứng
trước khung cảnh thiên nhiên con người dễ bị rung động trước trước nó, bởi vậy
thiên đã trở thành một trong những đề tài kinh điển trong thẩm mỹ của con người.
Tìm hiểu những rung động ấy qua hai thể thơ truyền thống là một cách tiếp cận văn
hoá mà mỗi dân tộc tồn tại đều có diện mạo riêng của mình. Diện mạo ấy thường
bộc lộ rõ nét qua văn hoá, tức là trong phong cách sinh hoạt, cách ứng cử của con
người trong mối quan hệ với chính mình, với tự nhiên và xã hội. "Văn hoá là hệ
thống ứng xử của con người với thiên nhiên và xã hội, trong những hoạt động sinh
“Chuồn chuồn bay thấp thì mưa
Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm”
Hay:
“Chuồn chuồn bay thấp
Mưa ngập bờ ao
Chuồn chuồn bay lượn lên cao
Trời mưa mày thấy thế nào được ta!”
Những hình ảnh bình dị ta bắt gặp trong cuộc sống. Ta thấy nó luôn được
xuất hiện trong hai loại hình nghệ thuật này. Nó được đưa vào trong thơ bởi cảm
17
thức thẩm mỹ truyền thống về cái đơn sơ, bình dị, mộc mạc... của tự nhiên. Hình
ảnh thiên nhiên ta gặp trong thơ Haiku với vai trò là "quý ngữ" nhưng nó chứa đựng
vẻ đẹp đơn sơ, dung dị, nguyên thuỷ... trong từng câu chữ. Nó chứa đựng bao tình
cảm với thiên nhiên của nhà thơ. Haiku là thơ ca của thiên nhiên và của vạn vật.
Lí giải vì sao thiên nhiên có vị trí đặc biệt trong sáng tác ca dao trữ tình có
thể nhận thấy thiên nhiên xuất hiện nhiều và đa dạng như vậy trong hai loại hình
nghệ thuật phản ánh sự gắn bó người của hai quốc gia với môi trường thiên nhiên
vốn cũng là môi trường lao động, môi trường sinh sống của họ. Cảm hứng thiên
nhiên phản ánh của những tâm hồn khoáng đạt. Thiên nhiên còn là hoàn cảnh sáng
tác và hình thành thi hứng, hoàn cảnh cấu tứ của hai loại hình nghệ thuật này.
2.2. Những cảm thức riêng
2.2.1. Trong ca dao
2.2.1.1. Những trường hợp xuất hiện thiên nhiên
Thứ nhất là trong những câu kể chuyện tâm tình, ở đó cảnh là môi trường
gặp gỡ, là nơi tình tự, chờ đợi, nhớ nhung, nơi diễn ra câu chuyện yêu đương:
“Hà Nội ba mươi sáu phố phường
Hàng Gai, hàng Đường, hàng Muối trắng tinh
thẩm mỹ không chì là thiên nhiên mà nhiều khi còn là những cảnh vật do con người
tạo nên, gắn bó với đời sống của họ:
“Làng tôi có lũy tre xanh,
Có sông Tô Lịch uốn quanh xóm làng
Bên bờ vải nhãn hai hàng,
Dưới sông cá lội từng đàn tung tăng
Thanh Trì cảnh đẹp người đông
Có cây sáo trúc bên đồng lúa xanh”
Thiên nhiên xuất hiện trong ca dao như một lẽ dĩ nhiên bởi cuộc sống của
người Việt vốn gắn chặt với thiên nhiên, vì vậy vẻ đẹp của thiên nhiên cũng gắn
chặt với sinh hoạt của con người. Cái đẹp của phong cảnh có khi là vẻ đẹp của núi,
sông, suối khe thuần túy, nhưng nhiều khi là cánh đồng, là bến sông, là con đường
người qua lại đông vui.
2.2.1.2. Cảm thức thẩm mỹ về thiên nhiên
Trong ý thức của người Việt, cảm xúc thẩm mỹ không phải lúc nào cũng tồn
19