Thủ tục hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng tòa án từ thực tiễn tại tòa án nhân dân tỉnh ninh bình - Pdf 50

NGUYỄN THỊ MINH HỒNG

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
LUẬT KINH TẾ

THỦ TỤC HÒA GIẢI TRONG GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI BẰNG
TÒA ÁN TỪ THỰC TIỄN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NINH BÌNH

NGUYỄN THỊ MINH HỒNG

2015 - 2017

HÀ NỘI - 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

THỦ TỤC HÒA GIẢI TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
KINH DOANH THƯƠNG MẠI BẰNG TÒA ÁN TỪ THỰC
TIỄN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH

NGUYỄN THỊ MINH HỒNG

thức và kinh nghiệm quý báu. Những kiến thức và kinh nghiệm này sẽ trở thành
những hành trang kiến thức giúp em vững vàng và kiên định hơn nữa trên con đường
mà mình đã chọn. Cho phép em được gửi tới các thầy cô giáo trong trường Viện Đại
học Mở Hà Nội, đặc biệt là các thầy, cô trong Khoa đào tạo Sau đại học lời cảm ơn
chân thành nhất.
Em cũng mong muốn gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, nhất là các cô, chú, anh,
chị đồng nghiệp tại Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình đã tạo điều kiện cho em trong
quá trình học cũng như trong quá trình hoàn thành Luận văn này.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 10 năm 2017
Học viên

Nguyễn Thị Minh Hồng


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……………………………………………………..……………………….1
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài…………………………………………..1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài………………………………………………………...3
3. Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài………………………………….3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn……………………………………4
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài…………………………………………………….4
6. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn…………………………………...5
7. Kết cấu của luận văn……………………………………………………………….6
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC HÒA GIẢI TRONG
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI BẰNG TÒA
ÁN………………………………………………………………………………….…7
1.1. Khái niệm hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại………...7
1.1.1.


………………………………………………………………………………………………23
1.4.3. Bảo vệ uy tín, bí mật, bí quyết kinh doanh của các bên tranh chấp trong
quá trình hòa giải ………………….………………………………………………………..24
1.4.4. Quyết định của Tòa án công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự có giá
trị chung thẩm, các bên có nghĩa vụ thi hành ……………………………………………24
1.5. Kinh nghiệm nước ngoài về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại theo thủ
tục hòa giải bằng Tòa án ………………………………………………………...25
1.5.1. Hòa giải theo pháp luật tố tụng dân sự Nhật Bản …………………………25
1.5.2. Hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Trung Quốc …………………….26
1.5.3. Hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Pháp ……………………………..27
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 …………………………………………...………………29
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC HÒA GIẢI TRONG
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG TÒA ÁN ……………...30
2.1. Phạm vi hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng Tòa án
……………………………………………………………………………………….30
2.1.1. Những vụ án kinh doanh thương mại phải tiến hành hòa giải ………...30
2.1.2. Những vụ án kinh doanh thương mại không được hòa giải ……………31
2.1.3. Những vụ án kinh doanh thương mại không tiến hành hòa giải được... 32
2.6. Pháp luật về chủ thể trong hòa giải giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
bằng Tòa án …………………………………………………………………………33
2.2.1. Về chủ thể tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công
khai chứng cứ và hòa giải trong giải quyết vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại
bằng Tòa án ………………………………………………………………………………..34
2.2.2. Về chủ thể tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai
chứng cứ và hòa giải trong giải quyết vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại bằng
Tòa án……………………………………………………………………………….. 36
2.6. Nội dung của phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và
hòa giải ……………………………………………………………………………...38
2.6. Điều kiện hòa giải tranh chấp kinh doanh thương mại bằng Tòa án ……………39
2.6.

Thủ tục hòa giải các tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng Tòa án……... 44
2.6.1.

Thủ tục hòa giải trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm……………. 45

2.6.2.

Thủ tục hòa giải tại phiên tòa sơ thẩm …………………………………..58

2.6.3.

Thủ tục hòa giải tại cấp phúc thẩm ………………………………………60

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 …………………………………………………………...63
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TẠI TÒA ÁN NHÂN
DÂN TỈNH NINH BÌNH VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ THỦ TỤC HÒA GIẢI TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH
DOANH, THƯƠNG MẠI BẰNG TÒA ÁN ……………………………………..64
3.2.

Thực tiễn thực hiện pháp luật về thủ tục hòa giải tranh chấp kinh doanh, thương

mại tại TAND tỉnh Ninh Bình ………………………………………………64
3.2.1.

Kết quả đạt được trong hoạt động hòa giải các tranh chấp kinh doanh,

thương mại tại TAND tỉnh Ninh Bình ………………………………………………64
3.2.2.


BLDS

Bộ luật dân sự

BLTTDS

Bộ luật tố tụng dân sự

HĐXX

Hội đồng xét xử

PLTTGQCVADS Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các
vụ án dân sự
PLTTGQCVAKT Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các
vụ án kinh tế
TAND

Tòa án nhân dân


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Ninh Bình là tỉnh nằm ở cực Nam của Đồng bằng Bắc Bộ, cách thủ đô Hà Nội
93 km về phía Nam, phía Bắc giáp với tỉnh Hà Nam, dãy núi Tam Điệp chạy theo
hướng Tây Bắc - Đông Nam, làm ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh Thanh Hóa và Ninh
Bình, phía Đông giáp với tỉnh Nam Định, phía Tây giáp với tỉnh Hòa Bình và một
phần phía Đông Nam của Ninh Bình giáp với Biển Đông. Trong những năm vừa qua,
từ một tỉnh còn nhiều khó khăn sau khi tái lập, Ninh Bình đã từng bước phát triển lớn
mạnh với sự đầu tư phát triển đồng đều về mọi mặt: kinh tế, văn hóa, xã hội... Trong

dụng rộng rãi phương thức hòa giải trong giải quyết các tranh chấp kinh doanh,
thương mại giảm đáng kể số vụ tranh chấp phải đưa ra xét xử.
Tuy nhiên, trong quá trình hòa giải tranh chấp kinh doanh, thương mại Tòa án
nhân dân tỉnh Ninh Bình còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực
hiện thủ tục hòa giải. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành ngày
01/7/2016 quy định về thủ tục hòa giải vụ án dân sự nói chung và án kinh doanh,
thương mại nói riêng đã đạt được những kết quả, hiệu quả đáng ghi nhận, bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Tuy nhiên, quá trình triển
khai thực hiện còn một số quy định còn chưa đầy đủ, cụ thể, phù hợp, gây khó khăn
trong quá trình thực thi pháp luật về thủ tục hòa giải tranh chấp kinh doanh, thương
mại tại Tòa án.
Vì vậy, việc nghiên cứu một cách tổng quát, toàn diện về mặt lý luận cũng như
thực tiễn về thủ tục hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng
Tòa án nhằm nâng cao hiệu quả của công tác giải quyết các tranh chấp kinh doanh,
thương mại không những mang tính thời sự đối với ngành Tòa án mà còn đáp ứng
những đòi hỏi cấp thiết của đời sống kinh tế - xã hội, góp phần hoàn thiện hệ thống
pháp luật tố tụng của Tòa án ở Việt Nam. Sau khi nghiên cứu các quy định của Bộ
luật Tố tụng Dân sự 2015, luận văn đã mạnh dạn nêu ra một số đánh giá, nhận xét và
đề xuất một số kiến nghị nhằm sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện thủ tục hòa giải trong
giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án được quy định trong Bộ luật
tố tụng Dân sự 2015.
Trên cơ sở đó, học viên đã chọn vấn đề “Thủ tục hòa giải trong giải quyết
tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng Tòa án từ thực tiễn tại Tòa án nhân dân
tỉnh Ninh Bình” làm đề tài luận văn Thạc sĩ Luật học của mình.
2


2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tuy thủ tục hòa giải là một hoạt động quan trọng trong giải quyết các vụ án
kinh doanh, thương mại tại Tòa án, nhưng từ trước đến nay, khoa học pháp lý ở Việt

Để đạt được mục đích trên, luận văn đặt ra những nhiệm vụ sau đây:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về thủ tục hòa giải trong giải quyết các
tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng Tòa án từ thực tiễn tại Tòa án nhân dân tỉnh
Ninh Bình;
- Phân tích thực trạng pháp luật về thủ tục hòa giải trong giải quyết các tranh
chấp kinh doanh, thương mại bằng Tòa án từ thực tiễn tại Tòa án nhân dân tỉnh Ninh
Bình;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về thủ tục hòa giải trong
giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng Tòa án từ thực tiễn tại Tòa án
nhân dân tỉnh Ninh Bình.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quan hệ về thủ tục hòa giải trong
việc giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng Tòa án.
Phạm vi nghiên cứu là các quan hệ về thủ tục hòa giải trong giải quyết các
tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng Tòa án từ thực tiễn tại Tòa án nhân dân tỉnh
Ninh Bình.
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Khi nghiên cứu đề tài này, tác giả luận văn sử dụng phương pháp luận biện
chứng duy vật, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các
quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Đồng thời, cũng sử dụng các phương
pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, chứng minh, tổng hợp, diễn giải, hệ thống hóa,
so sánh, đối chiếu.
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
+ Phương pháp lịch sử đã được tác giả sử dụng để làm rõ quá trình hình thành
và phát triển của chế định hòa giải trong pháp luật nước ta; phương pháp mô hình hóa
cũng được tác giả luận văn sử dụng để trình bày phương thức giải quyết các tranh
chấp kinh doanh thương mại bằng thủ tục hòa giải tại Tòa án.
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phân tích, đánh giá các nguồn tài liệu
phản ánh về lý luận chung của thủ tục hòa giải trong việc giải quyết các tranh chấp
kinh doanh, thương mại bằng Tòa án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

- Làm sáng tỏ hình thức, điều kiện, thủ tục hòa giải tại Tòa án.
- Góp phần vào việc xây dựng và hoàn thiện các quy định của pháp luật nước

ta về thủ tục hòa giải trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa
án.
5


Luận văn này có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong việc xây dựng
và hoàn thiện pháp luật về thủ tục hòa giải tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa
án cũng như trong việc giảng dạy, nghiên cứu về thủ tục hòa giải các tranh chấp kinh
doanh, thương mại theo thủ tục tư pháp ở Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận
văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thủ tục hòa giải trong giải quyết tranh chấp
kinh doanh, thương mại bằng Tòa án;
Chương 2: Thực trạng pháp luật về thủ tục hòa giải trong giải quyết tranh chấp
kinh doanh, thương mại bằng Tòa án;
Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật về thủ tục hòa giải tranh chấp kinh
doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình và phương hướng hoàn thiện
pháp luật về thủ tục hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng
Tòa án.

6


CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC HÒA GIẢI
TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH,

mại theo đó cũng đã được mở rộng, bao gồm mọi hoạt động có mục đích sinh lợi.
7


Hướng tiếp cận này cho thấy, khái niệm về hoạt động thương mại đã được mở rộng
tương đồng với khái niệm kinh doanh trong Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật
Doanh nghiệp năm 2005 và nay là Luật Doanh nghiệp năm 2014.
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 quy định về tranh chấp kinh doanh, thương
mại với các nội dung liệt kê thì tranh chấp về kinh doanh, thương mại thực chấp là
tranh chấp về thương mại. Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 không sử dụng thuật ngữ
“tranh chấp thương mại” mà sữ dụng thuật ngữ “tranh chấp về kinh doanh, thương
mại”, nhưng nội dung của các tranh chấp thương mại đó thực chất là các tranh chấp
thương mại theo hướng tiếp cận của Luật thương mại năm 2005.
Có nhiều cách hiểu khác nhau về tranh chấp kinh doanh, thương mại, song từ
góc độ pháp lý, có thể định nghĩa tranh chấp kinh doanh, thương mại như sau: Tranh
chấp kinh doanh, thương mại là sự bất đồng quan điểm giữa các bên về việc một hoặc
một số bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ mà mình cam kết
trong hoạt động kinh doanh, thương mại gây thiệt hại tới lợi ích chính đáng của một
hoặc một số bên khác.
1.1.2. Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
Theo Từ điển tiếng Việt (1992) thì Giải quyết tranh chấp có nghĩa là làm cho
các xung đột, bất đồng không còn thành vấn đề nữa [74, tr.255]. Thông thường, khi
xảy ra tranh chấp, các chủ thể có thể lựa chọn, sử dụng một hoặc một số phương thức
phù hợp để giải quyết tranh chấp của mình.
Cùng với sự phát triển của kinh tế, tính đa dạng và phức tạp trong các quan hệ
kinh doanh, thương mại và dưới sự tác động của quy luật cạnh tranh, tranh chấp kinh
doanh, thương mại do vậy cũng trở nên phong phú hơn về nội dung, chủng loại, gay
gắt, phức tạp hơn về tính chất, quy mô xuất phát từ lợi nhuận của các bên và sự hấp
dẫn của nền kinh tế. Chính vì vậy việc áp dụng các hình thức và phương thức giải
quyết tranh chấp cho phù hợp, có hiệu quả là một đòi hỏi khách quan hết sức quan

hợp pháp của các bên đã bị xâm phạm, để duy trì và phát triển các quan hệ kinh doanh
vốn có giữa các bên, để góp phần tạo lập và ổn định môi trường pháp luật lành mạnh
cho các hoạt động kinh tế.
Trong thời kỳ phát triển kinh tế toàn cầu, tranh chấp thương mại ngày càng
nhiều, trở thành một phần tất yếu trong quan hệ thương mại. Việc giải quyết tranh
chấp thương mại có vai trò rất lớn trong việc bảo đảm quyền lợi giữa các bên tham gia,
góp phần tạo dựng môi trường kinh doanh văn minh, lành mạnh. Vì vậy, giải quyết
tranh chấp thương mại nhanh gọn, hiệu quả, ít tốn kém có ý nghĩa quan trọng đối với
các quốc gia, nhất là đối với Việt Nam, một nền kinh tế đang phát triển.
9


1.1.3. Hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
Theo Từ điển Tiếng Việt thì Hòa giải là“thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt
xung đột hoặc xích mích một cách ổn thỏa” [74, tr.430]. Khái niệm này đề cập đến
hành động và mục đích của hòa giải nhưng chưa nêu được các yếu tố như bản chất, nội
dung và chủ thể của hòa giải.
Trong Từ điển pháp lý của Rothenberg, hòa giải (reconciliation) là“hành vi thỏa
hiệp giữa các bên sau khi cỏ tranh chấp, mỗi bên nhượng bộ một tí” [78, tr.410]. Còn
Từ điển luật học của Black cho rằng, hòa giải là “sự can thiệp; sự làm trung gian hòa
giải; hành vi của người thứ ba làm trung gian giữa hai bên tranh chấp nhằm thuyết
phục dàn xếp hoặc tranh chấp giữa họ”[5, tr.152]. Định nghĩa của Rothenberg đã nêu
được bản chất của hòa giải nhưng chưa nêu được hành vi, vai trò trung gian của bên
thứ ba trong hòa giải. Điều này đã được khắc phục trong Từ điển luật học của Black.
Cả ba khái niệm nêu trên cho thấy hòa giải có ba yếu tố. Thứ nhất là phải có
tranh chấp giữa hai bên. Thứ hai là có sự thống nhất ý chí giữa các bên để giải quyết
tranh chấp thông qua việc mỗi bên nhượng bộ một ít. Thứ ba là trong quá trình hòa
giải phải có sự tham gia của bên thứ ba trung lập để cho ý kiến tư vấn đồng thời công
nhận thủ tục hòa giải thành giữa các bên trong tranh chấp. Nếu không có sự tham gia
của bên thứ ba thì quá trình này không gọi là hòa giải mà là thương lượng giữa các

- Dạng hoà giải được quy định trong Bản Quy chế hoà giải của UNCITRAL
1980. Bản Quy chế này xác định người hoà giải, vai trò của người hoà giải và quá
trình tiến hành hoà giải. Hoà giải này được áp dụng để giải quyết các tranh chấp về
hợp đồng hoặc các quan hệ pháp lý khác mà trong đó các bên thể hiện nguyện vọng
giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp ngoài tố tụng tư pháp. Trong đó các bên
cần thoả thuận về việc chọn Quy chế hoà giải của UNCITRAL với một số ngoại lệ xác
định.
- Các dạng hoà giải không cơ bản: Mini-Trial và med-arb
Mini-Trial được áp dụng trong thực tiễn hoạt động của các luật gia Mỹ. Dạng
hoà giải này được thực hiện theo phương thức: trong trường hợp xuất hiện tranh chấp
giữa các bên về giải thích nội dung hợp đồng, tiến hành cuôc gặp gỡ giữa các luật sư
của các bên, các chuyên gia mà họ lựa chọn với sự có mặt của các cố vấn của các giám
đốc để đạt được thoả thuận làm thoả mãn cả hai bên. Các luật sư này không thể đưa ra
bất kỳ ý kiến gì nhân danh các thân chủ của mình, mà đơn giản chỉ yêu cầu sự giải
quyết quan điểm từ góc độ pháp lý của phía bên kia, đưa ra đề xuất về một số nhượng
bộ, song không được đụng chạm tới lợi ích của bên mà họ đại diện.
11


Dạng hoà giải không cơ bản thứ hai là dạng mà người ta gọi là med-arb. Đây là
dạng hoà giải kết hợp hai phương thức giải quyết tranh chấp ngoài tố tụng: hoà giải
truyền thống và trọng tài. Dạng hoà giải được tiến hành trong bối cảnh các bên tranh
chấp không chấp nhận đề nghị tranh chấp như nhà hoà giải đề xuất. Điểm đặc biệt của
dạng hoà giải này thể hiện ở chỗ trọng tài sẽ tự động thông qua quyết định thay thế
cho phương thức hoà giải không thành và vai trò của trọng tài được thể hiện bởi chính
nhà hoà giải.
1.1.4. Đặc điểm của phương thức hòa giải
Qua các dạng hoà giải như trên, có thể rút ra một số đặc điểm của phương thức
hòa giải như sau:
Thứ nhất, hoà giải có tính chất tự nguyện của các bên. Tính tự nguyện này thể

hiện thông qua hoạt động của Thẩm phán theo một thủ tục pháp lý chặt chẽ, nhằm ra
một bản án hay quyết định về vụ tranh chấp và có giá trị bắt buộc các bên phải thi
hành. Trong quá trình giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại, Tòa án phải
tuân theo một trình tự, thủ tục nhất định mà pháp luật đã quy định, cụ thể đó là những
nguyên tắc cơ bản; trình tự, thủ tục khởi kiện; trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc tại
Tòa án, thi hành bản án, quyết định của Tòa án; quyền và nghĩa vụ của những người
tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng cũng như của những cơ quan, tổ chức, cá
nhân có liên quan,… Ở hầu hết các quốc gia, cùng với việc ban hành những đạo luật
về nội dung, Nhà nước cũng ban hành những quy định về thủ tục tố tụng để Tòa án
giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại. Như vậy, tố tụng Tòa án chính là
trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định để giải quyết các tranh chấp kinh doanh bằng
Tòa án.
Thực tiễn pháp luật tố tụng của các nước cho thấy, tố tụng Tòa án đều có chung
một số đặc điểm cơ bản sau:
- Thủ tục tố tụng Tòa án áp dụng cho các tranh chấp trong kinh doanh, thương
mại được dựa trên nền tảng thủ tục tố tụng dân sự cùng với một số quy định đặc thù
cho phù hợp với hoạt động kinh doanh, thương mại, chẳng hạn như: về Hội đồng xét
xử, về thời gian của các trình tự tố tụng, … Do vậy, ở các quốc gia này không hình
thành luật tố tụng riêng cho các tranh chấp trong kinh doanh mà chỉ có luật về tố tụng
dân sự.
Ví dụ: Ở Cộng hoà Liên bang Đức, Luật tố tụng đối với các vụ án dân sự và
thương mại được quy định thống nhất trong Bộ luật Tố tụng dân sự; ở Pháp, Anh và
Mỹ các tranh chấp trong lĩnh vực kinh doanh thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
đều được áp dụng theo thủ tục tố tụng dân sự.
13


- Tố tụng Tòa án là thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh của Tòa án - một
cơ quan Nhà nước, hoạt động xét xử của nó mang tính quyền lực Nhà nước nhằm thực
hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước và đóng vai trò là cơ quan bảo vệ pháp luật.

* Về hạn chế: Tòa án là cơ quan tài phán có sức mạnh cưỡng chế giúp các bên
có thể giải quyết tranh chấp một cách triệt để, tuy nhiên phương thức giải quyết tranh
chấp này cũng bộc lộ ra nhiều hạn chế:
+ Khi lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng Toà án, các bên phải
nắm rõ được bản chất, vì việc giải quyết tranh chấp của Toà án phải tuân thủ nghiêm
ngặt các quy định mang tính hình thức của pháp luật tố tụng và đặc điểm này có thể
gây trở ngại cho các bên tranh chấp vì tính chất của hoạt động kinh doanh, thương mại
đòi hỏi thủ tục phải linh hoạt và mềm dẻo.
+ Một điều bất lợi nữa của Toà án, đó là nguyên tắc xét xử công khai. Điều này
xuất phát từ bản chất của hoạt động xét xử là bảo vệ pháp chế và duy trì công lý đã
được pháp luật quy định, xã hội thừa nhận. Mặt khác, hoạt động xét xử công khai của
Toà án còn có tác dụng răn đe, cảnh cáo những hành vi vi phạm pháp luật. Tuy nhiên,
trong một số trường hợp, để giữ bí mật nhà nước hoặc bí mật nghề nghiệp theo yêu
cầu chính đáng của đương sư, Toà án có thể xử kín nhưng phải tuyên án công khai.
Điều đó có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh, uy tín, bí mật kinh doanh của các
bên tranh chấp.
+ Nguyên tắc xét xử nhiều cấp đảm bảo cho quyết định của Toà án là chính
xác, công bằng. Tuy nhiên, nguyên tắc này cũng sẽ khiến cho vụ việc có thể bị kéo
dài, xử đi xử lại nhiều lần gây bất lợi cho đương sự, nhất là những tranh chấp kinh tế
có giá trị lớn đòi hỏi phải giải quyết nhanh chóng, dứt điểm. Việc kéo dài vụ việc sẽ
gây căng thẳng tâm lý, làm mất thời giờ, tiền bạc, các cơ hội kinh doanh của doanh
nghiệp.
+ Khả năng tác động của các bên trong quá trình tố tụng rất hạn chế, có trường
hợp không thể hiện được hết nguyện vọng của các bên tranh chấp.
+ Thông thường, hình thức giải quyết tranh chấp thương mại thông qua Toà án
được lựa chọn khi việc áp dụng cơ chế thương lượng hoặc hoà giải không có hiệu quả
và các bên tranh chấp không có thoả thuận giải quyết tranh chấp tại trọng tài.
Từ phân tích ở trên có thể thấy hòa giải và tố tụng tư pháp tại Tòa án đều là các
phương thức độc lập mà các chủ thể kinh tế có thể lựa chọn để giải quyết tranh chấp
phát sinh trong quan hệ kinh doanh, thương mại giữa họ. Nhưng khi nói đến hòa giải

giai đoạn này, vấn đề hòa giải vẫn áp dụng theo các quy định của chế độ cũ.
Văn bản pháp luật đầu tiên quy định về hòa giải là Sắc lệnh số 13 ngày
21/1/1946 của Chủ tịch nước về tổ chức Tòa án, trong đó quy định “Ban tư pháp xã có
16


quyền hòa giải tất cả các việc dân sự và thương mại. Nếu hòa giải được Ban tư pháp
xã có thể lập biên bản hòa giải có các ủy viên và những đương sự ký" [10].
Điều 4 Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam
dân chủ cộng hòa quy định rằng biên bản hòa giải thành chỉ có hiệu lực tư chứng thư.
Tại Điều 12 sắc lệnh số 51/SL quy định “những việc kiện dân sự và thương mại thuộc
thẩm quyền của Tòa án đệ nhị cấp đều phải giao trước về ông Thẩm phán sơ cấp thử
hòa giải”[11].
Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960 và Thông tư số 1080 ngày 25/9/1961
đã quy định Tòa án nhân dân huyện ngoài nhiệm vụ hòa giải thì còn có nhiệm vụ xây
dựng và hướng dẫn các tư pháp xã thực hiện hòa giải, dàn xếp các đương sự và nhân
dân” [49].
Có thể thấy rằng, trong giai đoạn này thành tựu đạt được là hòa giải đã được coi
là một thủ tục bắt buộc trong quá trình giải quyết vụ án dân sự. Nhưng do đất nước
trong tình trạng chiến tranh, chế định hòa giải chưa có điều kiện hoàn thiện nên vẫn
còn bộc lộ rất nhiều hạn chế, bất cập lớn nhất là Tòa án chỉ lập biên bản hòa giải thành
mà không ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự nên kết quả hòa giải
không có hiệu lực buộc các bên phải thi hành, dẫn đến nhiều trường hợp Tòa án vẫn
phải mở phiên tòa xét xử sau khi đã lập biên bản hòa giải thành do các bên không tự
nguyện thi hành thỏa thuận hoặc các bên tự ý thay đổi thỏa thuận.
Để khắc phục những bất cập trên, ngày 30/11/1974, TANDTC đã ra Thông tư
số 25-TATC hướng dẫn việc hòa giải trong tố tụng dân sự. Thông tư đã quy định rõ
ràng chi tiết về thẩm quyền hòa giải, phạm vi hòa giải, thủ tục và phương pháp hòa
giải, đáp ứng được yêu cầu cấp thiết cho Tòa án tiến hành hòa giải để giải quyết vụ án
đạt hiệu quả cao.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status