Pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động tại tòa án từ thực tiễn thành phố hải phòng - Pdf 50

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG TẠI
TÒA ÁN TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

PHẠM THÀNH CÔNG
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. ĐỖ NGÂN BÌNH

HÀ NỘI - 2017

1


Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng
dẫn khoa học của TS. Đỗ Ngân Bình. Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề
tài này là trung thực và chưa từng công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây.
Những số liệu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả
thu thập của các cơ quan, tổ chức và từ những nguồn khác nhau có ghi rõ trong
phần danh mục tài liệu tham khảo. Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào, tôi
xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung và kết quả luận văn của mình.
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2017
Tác giả luận văn


2. Tình hình nghiên cứu ...................................................................................... 9
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .................................................................. 10
4. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 10
5. Kết cấu của luận văn ...................................................................................... 11
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
LAO ĐỘNG TẠI TÒA ÁN VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP LAO ĐỘNG TẠI TÒA ÁN................................................................... 12
1.1. Một số vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án........ 12
1.1.1. Một số vấn đề lý luận về tranh chấp lao động .................................... 12
1.1.2. Một số vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án 19
1.2. Điều chỉnh bằng pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án 23
1.2.1. Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật về giải quyết tranh chấp lao
động tại Tòa án .............................................................................................. 23
1.2.2. Những nội dung cơ bản của pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động
tại Tòa án ....................................................................................................... 24
1.3. Lược sử hình thành và phát triển của pháp luật lao động Việt Nam về giải
quyết tranh chấp lao động tại Tòa án ................................................................ 27
1.3.1. Giai đoạn trước năm 1994 ................................................................... 27
1.3.2. Giai đoạn từ năm 1994 đến trước ngày 01/5/2013.............................. 28
4


1.3.3. Giai đoạn từ ngày 01/5/2013 đến nay ................................................. 28
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP LAO ĐỘNG TẠI TÒA ÁN VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG............................................................................. 30
2.1. Quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa
án...... ................................................................................................................... 30
2.1.1. Quy định của pháp luật về nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động
tại Tòa án ....................................................................................................... 30


Danh mục các chữ viết tắt

BLLĐ

: Bộ luật Lao động

BLTTDS : Bộ luật Tố tụng dân sự
NLĐ

: Người lao động

NSDLĐ

: Người sử dụng lao động

TCLĐ

: Tranh chấp lao động

TAND

: Tòa án nhân dân

UBND

: Ủy ban nhân dân

7



tài: “Pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án từ thực tiễn thành
phố Hải Phòng” để nghiên cứu và làm đề tài thạc sỹ.
2. Tình hình nghiên cứu
Là một trong những chế định quan trọng của pháp luật lao động cũng như
pháp luật tố tụng, vấn đề pháp luật về giải quyết TCLĐ đã được nhiều nhà luật
gia, nhà khoa học, học viên quan tâm nghiên cứu ở các mức độ và các cách tiếp
cận khác nhau. Trong thời gian qua rất nhiều công trình nghiên cứu đã được công
bố như: “Tài phán lao động theo quy định của pháp luật Việt Nam”, Lưu Bình
Nhưỡng, 2002; Luận văn thạc sĩ luật học, “Thủ tục giải quyết các vụ án lao động
theo Bộ luật Tố tụng dân sự”, Phạm Công Bảy, 2006; “Giải quyết tranh chấp lao
động cá nhân tại Tòa án nhân dân – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nguyễn
Thị Thanh Huệ, 2014; Luận án tiến sĩ luật học, “Pháp luật giải quyết tranh chấp
lao động tập thể về lợi ích ở Việt Nam”, Vũ Thị Thúy Hiền, 2016; Luận văn thạc
sĩ luật học, “Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân bằng Tòa án và thực tiễn áp
dụng tại Tòa án nhân dân quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh”, Phan Thị Ngọc Phú,
2016;… Ngoài ra còn rất nhiều những bài viết được đăng trên các tạp chí chuyên
ngành như: “Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Bộ luật lao động, những vướng
mắc xung quanh cơ chế giải quyết tranh chấp lao động” của tác giả Lưu Bình
Nhưỡng đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 6/2007; “Giải quyết tranh
chấp lao động tại Tòa án nhân dân- Từ pháp luật đến thực tiễn và một số kiến
nghị” của tác giả Phạm Công Bảy đăng trên Tạp chí Luật học số 10/2011; “Tranh
chấp lao động và giải quyết tranh chấp lao động” của tác giả Vũ Thị Thu Hiền,
số đặc san tuyên truyền pháp luật số 02/2014;…
Nhìn chung, các công trình khoa học tương đối đa dạng, đã nghiên cứu dưới
các góc nhìn khác nhau về vấn đề giải quyết TCLĐ bằng TAND, nhưng chủ yếu
nghiên cứu dựa trên các quy định của BLLĐ năm 1994 (sửa đổi, bổ sung các năm
2002, 2006, 2007) và BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011). Có một
9



5. Kết cấu của luận văn
Luận văn được kết cấu thành ba phần: lời mở đầu, nội dung, kết luận, trong đó
phần nội dung bao gồm ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về giải quyết TCLĐ tại Tòa án và pháp luật
về giải quyết TCLĐ tại Tòa án.
Chương 2: Quy định của pháp luật về giải quyết TCLĐ tại Tòa án và thực tiễn
thực hiện tại thành phố Hải Phòng.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả giải quyết
TCLĐ tại Tòa án trên địa bàn thành phố Hải Phòng.

11


Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP LAO ĐỘNG TẠI TÒA ÁN VÀ PHÁP LUẬT VỀ
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG TẠI TÒA ÁN
1.1. Một số vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án
1.1.1. Một số vấn đề lý luận về tranh chấp lao động
1.1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của tranh chấp lao động
* Khái niệm TCLĐ
Về mặt thuật ngữ, theo từ điển Tiếng Việt tranh chấp nói chung được hiểu là
“đấu tranh, giằng co khi có ý kiến bất đồng thường là về quyền lợi giữa hai bên”.
Ở nước ta, vấn đề TCLĐ trước đây được hiểu là các “xích mích” giữa công
nhân và chủ sử dụng lao động. Khái niệm “xích mích chủ - thợ” được duy trì khá
lâu ở Việt Nam. Nhưng suốt thời kỳ tồn tại của nó, cụm từ xích mích cũng không
được làm rõ nội hàm. Người ta thừa nhận khái niệm xích mích trong quan hệ lao
động như một vấn đề quen thuộc của đời sống dân dã.
Ở miền Nam, dưới chế độ cũ, BLLĐ được xây dựng để điều chỉnh quan hệ
lao động. Bộ luật đó không sử dụng khái niệm “TCLĐ” mà sử dụng khái niệm

định những người tham gia cũng như sự thể hiện của nó ra bên ngoài. Không thể
có việc một người tạo nên và chỉ có người đó là nhân vật duy nhất trong một vụ
tranh chấp. Một tranh chấp nào đó cũng phải có từ ít nhất hai cá nhân trở lên.
TCLĐ không chỉ là sự tranh chấp về lao động, về sự làm việc, tức là xung đột
về hành vi liên quan đến hoạt động chức năng của NLĐ. TCLĐ là loại tranh chấp
về các vấn đề liên quan đến quá trình lao động, tức là quá trình xác lập, duy trì,
chấm dứt mối quan hệ lao động giữa các bên. Không chỉ có vậy, tranh chấp lao
động còn bao gồm cả các xung đột liên quan đến việc làm, học nghề, quan hệ đại
diện lao động..., tức là những vấn đề liên quan đến quyền, lợi ích của các bên
gồm NLĐ và NSDLĐ. Do đó, có thể hiểu tranh chấp lao động là một khái niệm
13


khá rộng, khá bao trùm, bởi lẽ quyền và lợi ích của các bên trong quan hệ lao
động là những yếu tố phức tạp.
Bên cạnh các quyền và lợi ích trực tiếp và đối xứng giữa các bên như nghĩa
vụ làm việc, quyền hưởng thù lao, nghĩa vụ đảm bảo các điều kiện lao động,
quyền tiếp nhận thành quả của lao động, giữa các bên còn nảy sinh các quyền và
lợi ích khác. Ví dụ, quyền của NSDLĐ trong việc đòi bồi thường thiệt hại do
NLĐ gây nên; quyền thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn của NLĐ...
Những quyền, lợi ích đó cũng trở thành đối tượng tranh chấp giữa các bên.
Khắc phục những điều này, trong lần sửa đổi, bổ sung năm 2006 TCLĐ được
định nghĩa như sau: “Tranh chấp lao động là những tranh chấp về quyền và lợi
ích giữa người lao động, tập thể người lao động với người sử dụng lao động”
(khoản 1 Điều 157). Hiện nay, định nghĩa TCLĐ được quy định tại khoản 7 Điều
3 BLLĐ năm 2012. Theo đó, “tranh chấp lao động là tranh chấp về quyền, nghĩa
vụ và lợi ích phát sinh giữa các bên trong quan hệ lao động”. Có thể thấy, khái
niệm khái niệm TCLĐ về cơ bản vẫn giữ nguyên so với BLLĐ sửa đổi, bổ sung
năm 2006, tuy nhiên chủ thể trong TCLĐ được nhắc tới trong định nghĩa đã mở
rộng hơn, không còn bị bó hẹp theo phương pháp liệt kê là NLĐ, tập thể NLĐ

trình lao động. Những điểm lưu ý này nhằm phân biệt TCLĐ với tranh chấp trong
lao động. Cụ thể, TCLĐ bao giờ cũng gắn với việc thực hiện quyền và nghĩa vụ
lao động, còn tranh chấp trong lao động có thể phát sinh giữa hai chủ thể của
quan hệ lao động nhưng lại không gắn liền với việc thực hiện quyền và nghĩa vụ
lao động.
Thứ hai, TCLĐ không chỉ bao gồm những tranh chấp về quyền và nghĩa vụ
chủ thể mà còn gồm cả những tranh chấp về lợi ích giữa hai bên chủ thể.
Thông thường, những tranh chấp trong đời sống sẽ phát sinh khi có sự vi
phạm pháp luật xảy ra, nghĩa là một trong hai bên đã vi phạm quyền và nghĩa vụ
đã được pháp luật quy định, bảo vệ. Tuy nhiên, trong quan hệ lao động, NSDLĐ
15


phải đảm bảo cho NLĐ các điều kiện tối thiểu để có thể làm việc như bảo hộ lao
động, trang thiết bị phục vụ sản xuất, các chế độ đãi ngộ, tiền lương, thưởng, trợ
cấp... Những điều kiện này không chỉ được đáp ứng theo quy định của pháp luật
mà còn theo yêu cầu của các bên tham gia quan hệ lao động. Bởi vậy, không phải
lúc nào NSDLĐ trả cho NLĐ đầy đủ tất cả các chế độ mà NLĐ có quyền được
hưởng theo đúng quy định của pháp luật thì NLĐ cũng chấp thuận và không phát
sinh tranh chấp. Ngược lại, khi NLĐ có nhu cầu cao hơn những gì họ được đáp
ứng thì NSDLĐ cũng có quyền yêu cầu NLĐ thực hiện thêm các nghĩa vụ, từ đó
dẫn đến TCLĐ về lợi ích. Nói cách khác, TCLĐ vẫn có thể phát sinh trong những
trường hợp có hoặc không có vi phạm pháp luật.
Thứ ba, TCLĐ là loại tranh chấp mà quy mô và mức độ tham gia của các chủ
thể có thể làm thay đổi cơ bản tính chất và mức độ tranh chấp.
TCLĐ nếu chỉ phát sinh giữa một NLĐ và NSDLĐ, hoặc trường hợp một
nhóm NLĐ cùng tranh chấp với NSDLĐ, nhưng họ có yêu cầu riêng rẽ, khác biệt
nhau và chỉ quan tâm đến lợi ích của mình thì đó đơn thuần là TCLĐ cá nhân.
Nhưng nếu tranh chấp xảy ra giữa tập thể NLĐ và NSDLĐ, giữa nhiều NLĐ với
NSDLĐ, quan trọng hơn, đối tượng tranh chấp là quyền và lợi ích cho tập thể

dụng chung một quy trình giải quyết TCLĐ. Đối với những TCLĐ đặc biệt sẽ áp
dụng thủ tục riêng nhằm đáp ứng yêu cầu của việc giải quyết nhanh chóng, linh
hoạt loại tranh chấp đó. Trong thực tế, việc không phân loại TCLĐ thành các
TCLĐ cụ thể đôi khi sẽ dẫn đến tranh chấp giữa các cơ quan có thẩm quyền về
việc giải quyết TCLĐ.
Quan điểm lập pháp của Việt nam là cần thiết phải phân loại TCLĐ theo các
tiêu chí khác nhau. Bởi vậy, mặc dù chưa có những khái niệm và đặc điểm cụ thể
về từng loại TCLĐ được quy định trong BLLĐ năm 2012 nhưng xuyên suốt các
quy định của pháp luật lao động, chúng ta phân chia TCLĐ thành các loại tranh
chấp riêng rất rõ ràng dựa theo các tiêu chí dưới đây:
17


Căn cứ vào quy mô của tranh chấp (mức độ tham gia của các bên tranh chấp),
có thể phân chia các TCLĐ thành TCLĐ cá nhân và TCLĐ tập thể. TCLĐ cá
nhân là tranh chấp giữa NLĐ và NSDLĐ. Tranh chấp này chỉ mang tính chất đơn
lẻ, cá nhân giữa NLĐ và NSDLĐ, nó không mang tính tổ chức, không có sự liên
kết tập thể giữa những NLĐ với nhau. Trong TCLĐ cá nhân, tổ chức công đoàn
tham gia vào tranh chấp với tư cách là người đại diện bảo vệ NLĐ. Tức là công
đoàn chỉ là chủ thể thứ 3 đứng ngoài tranh chấp, không phải một bên của tranh
chấp. Tổ chức công đoàn chỉ đứng ra đề nghị NSDLĐ xem xét và giải quyết
những yêu cầu của NLĐ với tư cách là người đại diện, bảo vệ họ. Ngược lại,
trong TCLĐ tập thể, tổ chức công đoàn trực tiếp tham gia tranh chấp, là một bên
của tranh chấp, đại diện cho tập thể NLĐ làm việc với NSDLĐ. Đồng thời, tổ
chức công đoàn còn có vai trò to lớn trong vận động và tổ chức NLĐ nhằm tạo
nên sức mạnh của cả tập thể NLĐ. không có sự tham gia của tổ chức Công đoàn.
TCLĐ là tranh chấp giữa tập thể lao động với NSDLĐ lao động. Tranh chấp này
có thể xảy ra trong phạm vi nội bộ doanh nghiệp nhưng cũng có thể lan rộng ở
phạm vi một ngành, thậm chí toàn quốc. Trong TCLĐ tập thể có thể xảy ra một
hiện tượng đặc biệt - đó là đình công.

1.1.2. Một số vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án
1.1.2.1. Khái niệm giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án
Để giải quyết TCLĐ, các bên có thể lựa chọn các phương thức giải quyết
tranh chấp như các bên tự thương lượng, hòa giải hoặc nhờ Tòa án giải quyết.
Trong đó, phương thức được các chủ thể lựa chọn phổ biến ở Việt Nam khi xảy
ra TCLĐ là giải quyết tại Tòa án.
Trong điều kiện kinh tế thị trường, với sự tồn tại của thị trường lao động và
quan hệ mua bán sức lao động, TCLĐ là một hiện tượng mang tính khách quan.
Nhằm bình ổn quan hệ lao động, tạo điều kiện cho thị trường lao động phát triển
ổn định và bền vững, TCLĐ cần phải được giải quyết một cách phù hợp và thỏa
19


đáng. Quá trình giải quyết TCLĐ có thể trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, trong
đó giải quyết TCLĐ tại Tòa án là một giai đoạn có tầm quan trọng đặc biệt.
Giải quyết TCLĐ tại Tòa án là hoạt động giải quyết tranh chấp do Tòa án với
tư cách là cơ quan tài phán mang quyền lực nhà nước tiến hành theo một trình tự,
thủ tục nhất định và phán quyết được đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chế nhà
nước.
Việc giải quyết TCLĐ tại Tòa án có những đặc trưng cơ bản sau đây:
Thứ nhất, giải quyết TCLĐ tại Tòa án nhìn chung là hoạt động giải quyết
cuối cùng sau khi tranh chấp đã được giải quyết ở các giai đoạn khác mà không
đạt kết quả (trừ một số trường hợp nhất định).
Mục đích của việc giải quyết TCLĐ là dàn xếp những mâu thuẫn trong quan
hệ lao động, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể và trong phần lớn
các trường hợp còn nhằm mục đích để sau đó quan hệ lao động được tiếp tục duy
trì. Do đó, đây là điểm khác biệt của việc giải quyết TCLĐ so với giải quyết các
loại tranh chấp khác (tranh chấp kinh tế, tranh chấp dân sự). Do đó, trong giải
quyết TCLĐ nói chung, việc can thiệp của cơ quan Tòa án mang quyền lực nhà
nước ít được ưu tiên ngay. Việc giải quyết TCLĐ tại Tòa án nhìn chung chỉ được

sở hoặc Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh không được đảm bảo bằng các biện
pháp cưỡng chế nhà nước. Nếu một trong hai bên tranh chấp không tự giác thực
hiện theo biên bản hòa giải thành thì bên kia cũng không có quyền yêu cầu cơ
quan thi hành án ra quyết định cưỡng chế thi hành, bởi đây không phải quyết
định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về thi
hành án dân sự. Trong khi đó quyết định hay bản án của Tòa án được đảm bảo
bằng các biện pháp cưỡng chế nhà nước thông qua hoạt động của cơ quan thi
hành án. Nhờ đó, việc giải quyết TCLĐ tại Tòa án có một số ưu điểm so với giải
quyết TCLĐ ở các giai đoạn khác như: có thể giải quyết dứt điểm vụ án TCLĐ,
phán quyết của Tòa án có khả năng bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của
21


các bên. Tuy nhiên, việc giải quyết TCLĐ tại Tòa án cũng có những nhược điểm
nhất định: thời gian giải quyết kéo dài do có thể phải qua nhiều cấp xét xử; chi
phí tốn kém cho việc giải quyết vụ án do đương sự phải trả lệ phí, thù lao cho
người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình…
Giải quyết TCLĐ tại Toà án là phương thức giải quyết được tiến hành theo
những thủ tục và trình tự tố tụng chặt chẽ. Khi lựa chọn toà Toà án, các bên
mong muốn bên thứ ba là cơ quan nhà nước có thẩm quyền đứng ra can thiệp,
giải quyết những mâu thuẫn của mình. Căn cứ vào các quy định của pháp luật và
những chứng cứ mà các bên đưa ra, Toà án xem xét mức độ trách nhiệm của các
bên để đưa ra những phán quyết đúng đắn hợp lý, hợp tình và có giá trị cưỡng
chế thi hành đối với các bên. Toà án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền ra phán
quyết mang tính quyền lực nhà nước để giải quyết TCLĐ giữa các bên. Việc giải
quyết TCLĐ tại Toà án được tiến hành theo thủ tục tố tụng chặt chẽ, với những
thẩm phán chuyên trách có trình độ, các phán quyết được đảm bảo thi hành bằng
sức mạnh cưỡng chế nhà nước. Đây là ưu thế nổi bật so với các phương thức giải
quyết TCLĐ khác.
Thông thường, chỉ khi nhận được yêu cầu của một trong các chủ thể về việc

1.2. Điều chỉnh bằng pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án
1.2.1. Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật về giải quyết tranh chấp lao
động tại Tòa án
Sự điều chỉnh của pháp luật là quá trình tác động của pháp luật lên các quan hệ
xã hội theo một hướng nhất định, nhằm đạt được mục tiêu do nhà nước đề ra. Để
điều chỉnh các quan hệ xã hội, pháp luật hình thành cơ chế tác động lên các quan
hệ xã hội thông qua các hệ thống phương tiện như quan hệ pháp luật, văn bản quy
phạm pháp luật, ban hành pháp luật, thực hiện pháp luật, ý thức pháp luật và các
quy trình pháp lý khác (xác định các quan hệ xã hội cần điều chỉnh bằng pháp
luật, thực hiện và giám sát pháp luật). TCLĐ là hiện tượng kinh tế xã hội khách
23


quan trong nền kinh tế thị trường. Tính chất phức tạp của TCLĐ yêu cầu cần có
sự điều chỉnh pháp luật đối với việc giải quyết TCLĐ, đặc biệt là giải quyết
TCLĐ tại TAND, để hạn chế những tác động tiêu cực của nó, bảo vệ quyền và
lợi ích của các bên. Việc điều chỉnh pháp luật đối với việc giải quyết TCLĐ tại
TAND là yêu cầu mang tính khách quan và vô cùng quan trọng.
Thứ nhất, khi điều chỉnh vấn đề TCLĐ và giải quyết TCLĐ, pháp luật bảo vệ
định hướng cho sự phát triển của các quan hệ này theo ý chí chủ quan của Nhà
nước, tạo khung pháp lý để hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của TCLĐ và đình
công (nếu có).
Thứ hai, thông qua việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động giải
quyết TCLĐ tại Tòa án, Nhà nước sẽ bảo vệ được các quyền lợi hợp pháp, chính
đáng của NLĐ và NSDLĐ trong quan hệ lao động, qua đó duy trì sự tồn tại, bảo
đảm sự bình ổn tương đối của quan hệ lao động sau giải quyết tranh chấp.
Thứ ba, điều chỉnh pháp luật đối với việc giải quyết TCLĐ còn góp phần đảm
bảo trật tự an toàn xã hội, hạn chế và ngăn chặn các hành vi có thể gây ảnh hưởng
đến lợi ích chung của xã hội như đình công. Pháp luật về giải quyết TCLĐ tại
Tòa án còn định hướng hành vi của các bên trong quá trình tranh chấp phù hợp

xét xử các vụ án, được thể hiện qua thẩm quyền của Tòa án, từ đó thấy được sự
khác biệt giữa Tòa án và cơ quan nhà nước khác. Vậy ta có thể hiểu, thẩm quyền
của Tòa án là toàn bộ những quyền do pháp luật quy định, theo đó Tòa án được
tiến hành xem xét, giải quyết những vụ việc cụ thể theo quy định của pháp luật.
Thẩm quyền giải quyết TCLĐ của Tòa án đã được quy định chi tiết trong
BLLĐ, BLTTDS và các văn bản pháp luật liên quan hiện hành. Theo đó, thẩm
quyền của Tòa án trong giải quyết TCLĐ cũng giống như thẩm quyền giải quyết
các loại tranh chấp khác, được chia thành ba nhóm là thẩm quyền theo loại việc,
thẩm quyền theo cấp và thẩm quyền theo lãnh thổ. Trong đó, thẩm quyền theo
1
2

Hoàng Phê chủ biên, nhà xuất bản Từ điển bách khoa, tái bản năm 2010
Bộ Tư pháp viện khoa học pháp lý, nhà xuất bản Từ điển bách khoa, nhà xuất bản Tư pháp, năm 2006
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status