NGUYỄN QUANG HUY
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬT KINH TẾ
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
CÁC HẠN CHẾ ĐỂ BẢO ĐẢM AN TOÀN TRONG
HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
2015 - 2017
NGUYỄN QUANG HUY
HÀ NỘI - 2017
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CÁC HẠN CHẾ ĐỂ BẢO ĐẢM AN TOÀN TRONG HOẠT
ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM
và đóng góp ý kiến để tôi hoàn thành luận văn này. Đồng thời tôi cũng xin gửi lời
cảm ơn chân thành đến Viện Đại học mở Hà Nội và khoa Đào tạo Sau đại học, Viện
Đại học mở Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên
cứu; xin gửi lời cảm ơn tới cơ quan, đơn vị công tác, các đồng nghiệp đã luôn động
viên, giúp đỡ, tạo điều kiện để tôi hoàn thành tốt luận văn của mình.
Xin trân trọng cảm ơn./.
Tác giả luận văn
Nguyễn Quang Huy
4
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HẠN CHẾ ĐỂ BẢO ĐẢM AN
TOÀN TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ HẠN CHẾ ĐỂ BẢO ĐẢM AN TOÀN TRONG
HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ........................7
1.1. Những vấn đề lý luận về hạn chế để bảo đảm an toàn trong hoạt động
cho vay của ngân hàng thương mại .....................................................................7
1.1.1. Sự cần thiết phải áp dụng các hạn chế để bảo đảm an toàn trong hoạt
động cho vay của ngân hàng thương mại...........................................................7
1.1.2. Khái niệm các hạn chế để bảo đảm an toàn trong hoạt động cho vay của
ngân hàng thương mại ......................................................................................16
1.1.3. Các biện pháp hạn chế để bảo đảm an toàn trong hoạt động cho vay của
ngân hàng thương mại ......................................................................................19
1.2. Những vấn đề lý luận pháp luật về hạn chế để bảo đảm an toàn trong
hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại.................................................23
1.2.1. Khái niệm và cách thức điều chỉnh của pháp luật về các hạn chế để bảo
PHỤ LỤC .................................................................................................................74
6
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, ngân hàng nói chung và ngân hàng thương mại
nói riêng luôn được xem là định chế tài chính trung gian quan trọng nhất, vì những
đóng góp không thể phủ nhận của nó đối với quá trình phân bổ các nguồn lực tài
chính hiệu quả cho mục tiêu phát triển kinh tế và thỏa mãn các nhu cầu tiêu dùng
của xã hội. Trong số các nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng, cho vay thường được
xem là nghiệp vụ chủ yếu và tiểm ẩn nhiều rủi ro nhất. Vì lẽ đó, việc nhận diện rủi
ro trong hoạt động cho vay để từ đó dự liệu về các biện pháp phòng chống rủi ro
trong hoạt động cho vay là điều hết sức cần thiết đối với mỗi ngân hàng.
Trong nhiều năm qua, những rủi ro và tổn thất của các ngân hàng thương mại
ở Việt Nam trong hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động cho vay nói riêng
có nguồn gốc sâu xa từ một nguyên nhân là sự thiếu minh bạch trong hệ thống pháp
lý, tính không hoàn thiện của các thể chế kinh tế thị trường, sự yếu kém trong việc
đánh giá thu nhập, kiểm soát rủi ro, chứng minh quyền sở hữu tài sản của người
vay… Điều này dẫn tới hệ quả là khi cho vay, các ngân hàng không có được niềm
tin vững chắc vào các báo cáo tài chính, phương án kinh doanh - trả nợ hay các
nguồn tài chính trả nợ của khách hàng để đưa ra một quyết định cho vay an toàn và
hiệu quả. Trong môi trường kinh doanh có tính cạnh tranh khốc liệt của cơ chế kinh
tế thị trường, mọi rủi ro tổn thất đều có thể xẩy ra bất chấp những cố gắng và nỗ lực
tự thân trong quản trị rủi ro của các ngân hàng. Vẫn biết rằng việc loại trừ tuyệt đối
các rủi ro trong cho vay là điều không thể, song các ngân hàng luôn hướng tới mục
tiêu hạn chế đến mức thấp nhất các rủi ro này thông qua việc áp dụng những biện
pháp nghiệp vụ và kỹ thuật phòng chống rủi ro tín dụng. Một trong những kỹ thuật
phòng chống rủi ro khá hiệu quả cho các ngân hàng chính là việc áp dụng các hạn
tâm thanh toán của nền kinh tế, góp phần tham gia thực hiện chính sách tiền tệ của
nhà nước. Như vậy, một ngân hàng yếu kém trong hoạt động, thường xuyên gặp rủi
ro sẽ không chỉ gây tổn thất cho chính ngân hàng đó, mà còn tạo nên những rủi ro
nhất định mang tính dây chuyền cho các chủ thể khác và ngược lại. Rõ ràng, khả
năng chống đỡ của ngân hàng càng cao, khả năng hỗ trợ cho khu vực doanh nghiệp
2
sẽ càng lớn. Trong thời gian tới, khi hàng loạt các ngân hàng nước ngoài đẩy mạnh
hoạt động đầu tư tại Việt Nam thì chắc chắn những đòi hỏi về công tác quản trị rủi
ro của ngân hàng sẽ càng trở nên gay gắt hơn, trong đó có vấn đề áp dụng các hạn
chế để bảo đảm an toàn trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại.
Để bảo đảm an toàn trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại,
không chỉ các ngân hàng phải tự chủ động ban hành các quy định nội bộ nhằm thiết
lập các hạn chế để bảo đảm an toàn trong hoạt động kinh doanh, trong đó có yêu
cầu về đảm bảo an toàn như phân loại tín dụng, dự trữ bắt buộc...
Xuất phát từ thực tiễn về các vấn đề liên quan đến bảo đảm an toàn trong hoạt
động cho vay của ngân hàng thương mại, tác giả quyết định lựa chọn vấn đề: “Các
hạn chế để bảo đảm an toàn trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
theo pháp luật Việt Nam” để làm đề tài luận văn thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Qua khảo sát tình hình nghiên cứu trong nước và nước ngoài liên quan đến đề
tài luận văn, tác giả nhận thấy đã có một số công trình được công bố có liên quan
đến vấn đề hạn chế để bảo đảm an toàn trong hoạt động cho vay của ngân hàng
thương mại. Ở mức độ khái quát, có thể kể đến một số công trình khoa học nước
ngoài tiêu biểu như các bài viết: “Khủng hoảng tiền tệ thế giới năm 1997”, Paul
Krugman - nhà Kinh tế Mỹ đạt giải thưởng Nobel năm 2008 về thuyết thương mại
và kinh tế địa lý; “Những bài học từ tái cấu trúc hệ thống ngân hàng”, Claudia
Dziobek và Ceyla Pazarbasioglu, IMF, 1998; “Thiết lập mạng an toàn tài chính
vay của ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam.
Để đạt được mục đích nghiên cứu ở trên, luận văn xác định rõ các nhiệm vụ
nghiên cứu cơ bản sau đây:
- Nghiên cứu, làm rõ các vấn đề lý luận về các hạn chế để bảo đảm an toàn
trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại;
- Phân tích, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn thực hiện các quy định
về hạn chế để bảo đảm an toàn trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
theo pháp luật Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở đó, đề xuất một số ý kiến nhằm hoàn
thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện các quy định về hạn chế để đảm bảo
4
an toàn trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại ở Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quan điểm, học thuyết có liên quan đến
vấn đề hạn chế để bảo đảm an toàn trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương
mại; các quy định pháp luật về hạn chế để bảo đảm an toàn trong hoạt động cho vay
của ngân hàng thương mại ở Việt Nam; thực tiễn thực hiện các quy định về hạn chế
để bảo đảm an toàn trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại ở Việt Nam
hiện nay.
Trong khuôn khổ hạn chế của một luận văn thạc sĩ, hơn nữa, do đây là một đề
tài khá rộng nên tác giả xác định phạm vi nghiên cứu của đề tài luận văn này chủ
yếu tập trung vào việc phân tích, đánh giá nhằm làm rõ những vấn đề lý luận và
thực tiễn từ góc độ pháp lý về các hạn chế để bảo đảm an toàn trong hoạt động cho
vay của ngân hàng thương mại đối với khách hàng là tổ chức và cá nhân (không bao
gồm đối tượng khách hàng vay là tổ chức tín dụng). Về thời gian, luận văn chỉ khảo
cứu thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về hạn chế để bảo đảm an
toàn trong hoạt động cho vay của ngân hành thương mại trong khoảng thời gian
năm năm từ 2013 đến 2017, tại một số ngân hàng thương mại trong nước điển hình
động cho vay của ngân hàng thương mại và pháp luật về hạn chế để bảo đảm an
toàn trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về hạn chế để bảo đảm an toàn trong hoạt
động cho vay của ngân hàng thương mại ở Việt Nam và một số kiến nghị.
6
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HẠN CHẾ ĐỂ BẢO ĐẢM
AN TOÀN TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ HẠN CHẾ ĐỂ
BẢO ĐẢM AN TOÀN TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Những vấn đề lý luận về hạn chế để bảo đảm an toàn trong hoạt động cho
vay của ngân hàng thương mại
Giống như bất kỳ hình thức cấp tín dụng nào, hoạt động cho vay của ngân
hàng thương mại luôn tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro cho chính ngân hàng thương
mại và cho cả hệ thống tín dụng cũng như nền kinh tế. Chính vì vậy, việc áp dụng
các hạn chế để bảo đảm an toàn trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
là điều cần thiết ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới.
1.1.1. Sự cần thiết phải áp dụng các hạn chế để bảo đảm an toàn trong hoạt
động cho vay của ngân hàng thương mại
Để lý giải sự cần thiết phải áp dụng các hạn chế để bảo đảm an toàn trong hoạt
động cho vay của ngân hàng thương mại, luận văn cần làm rõ tính rủi ro trong hoạt
động cho vay của ngân hàng thương mại và ý nghĩa, tác dụng của việc áp dụng các
hạn chế để bảo đảm an toàn trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại.
1.1.1.1. Khái niệm, đặc trưng và các hình thức cho vay của ngân hàng thương
mại
Cho vay là hiện tượng kinh tế khách quan, xuất hiện khi trong xã hội loài
nhưng hoạt động cho vay của các tổ chức này hoàn toàn không phải là nghề nghiệp
mang tính chức năng như đối với các tổ chức tín dụng.
Thứ hai, hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng nói chung và ngân hàng
thương mại nói riêng không chỉ đơn thuần là một nghề kinh doanh mà còn là một
nghề nghiệp kinh doanh có điều kiện. Điều này thể hiện ở chỗ, hoạt động cho vay
8
chuyên nghiệp của tổ chức tín dụng (trong đó có ngân hàng thương mại) phải thoả
mãn một số điều kiện nhất định như phải có vốn pháp định; phải được Ngân hàng
Nhà nước cấp giấy phép hoạt động ngân hàng trước khi tiến hành việc đăng kí kinh
doanh theo luật định.
Thứ ba, ngoài việc tuân thủ các quy định chung của pháp luật về hợp đồng,
hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng nói chung và ngân hàng thương mại nói
riêng còn chịu sự điều chỉnh, chi phối của các đạo luật về ngân hàng, thậm chí kể cả
các tập quán thương mại về ngân hàng. Đặc điểm này bị chi phối bởi tính chất đặc
thù trong nghề nghiệp kinh doanh của các tổ chức tín dụng nói chung và ngân hàng
thương mại nói riêng như tính rủi ro cao và sự ảnh hưởng mang tính chất dây
chuyền đối với nhiều lợi ích khác nhau trong xã hội[4, tr.144,145].
Xét về mặt lí thuyết, hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng nói chung và
ngân hàng thương mại nói riêng có thể được phân loại dựa vào nhiều tiêu chí khác
nhau và mỗi cách phân loại đó đều đem lại những ý nghĩa, tác dụng nhất định. Cụ
thể là:
- Nếu căn cứ vào thời hạn sử dụng vốn, hoạt động cho vay của tổ chức tín
dụng có thể phân chia thành ba loại: Cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn và cho
vay dài hạn.
Cho vay ngắn hạn: Là hình thức cho vay trong đó thời hạn sử dụng vốn vay
do các bên thoả thuận là đến một năm. Hình thức cho vay này chủ yếu nhằm đáp
ứng nhu cầu về vốn lưu động của khách hàng trong hoạt động kinh doanh hoặc thoả
hàng thương mại thường ít khi sử dụng phương thức thỏa thuận một điều khoản về
bảo đảm tiền vay trong hợp đồng tín dụng mà sẽ ký kết một hợp đồng bảo đảm
riêng, tách biệt hoàn toàn với hợp đồng tín dụng.
Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản: Là hình thức cho vay trong đó nghĩa
vụ hoàn trả tiền vay không được bảo đảm bằng các tài sản của khách hàng vay hoặc
của người thứ ba. Để thực hiện việc cho vay theo hình thức này, thông thường các
bên chỉ cần giao kết một hợp đồng duy nhất là hợp đồng tín dụng. Tuy nhiên, trong
trường hợp tổ chức tín dụng cho vay có bảo lãnh bằng tín chấp thì mặc dù khoản
vay này không thể xem là khoản vay có bảo đảm bằng tài sản nhưng người bảo lãnh
10
bằng tín chấp vẫn phải xác lập văn bản cam kết bảo lãnh bằng uy tín của mình và
gửi cho tổ chức tín dụng để khách hàng vay có thể được tổ chức tín dụng chấp nhận
cho vay.
- Nếu căn cứ vào mục đích sử dụng vốn, hoạt động cho vay của tổ chức tín
dụng nói chung và ngân hàng thương mại nói riêng đối với khách hàng được chia
thành hai loại: Cho vay kinh doanh và cho vay tiêu dùng.
Cho vay kinh doanh: Là hình thức cho vay trong đó các bên cam kết số tiền
vay sẽ được bên vay sử dụng vào mục đích thực hiện các công việc kinh doanh của
mình. Nếu sau khi được giải ngân mà người vay lại sử dụng vốn vào mục đích khác
với thoả thuận trong hợp đồng tín dụng, bên cho vay có quyền áp dụng các chế tài
thích hợp như đình chỉ việc sử dụng vốn vay hoặc thu hồi vốn vay trước thời hạn…
Cho vay tiêu dùng: Là hình thức cho vay trong đó các bên cam kết số tiền vay
sẽ được bên vay sử dụng vào việc thoả mãn nhu cầu sinh hoạt hay tiêu dùng như
mua sắm đồ gia dụng, mua sắm nhà cửa hoặc phương tiện đi lại, thậm chí bao gồm
cả việc sử dụng vốn vay vào mục đích học tập của sinh viên, học viên…[4,
tr.146,147].
- Nếu căn cứ vào phương thức cho vay, hoạt động cho vay của tổ chức tín
phòng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng.
Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Theo
phương thức này, tổ chức tín dụng chấp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn
vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và
rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của tổ chức tín
dụng. Khi cho vay phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, tổ chức tín dụng và khách
hàng phải tuân theo các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.
Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà tổ chức tín dụng thoả
thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản
thanh toán của khách hàng phù hợp với các quy định của Chính phủ và Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ
thanh toán.
12
Ngày nay, trong điều kiện quốc tế hoá cao độ hoạt động ngân hàng và sự bùng
nổ mạnh mẽ của các dịch vụ tài chính, việc phân loại như trên đây về các hình thức
cho vay của tổ chức tín dụng sẽ chỉ có tính chất tương đối. Trên thực tế, để cạnh
tranh với sức hấp dẫn vốn có của thị trường chứng khoán - với ý nghĩa là kênh dẫn
vốn trực tiếp trong nền kinh tế, các tổ chức tín dụng đang có xu hướng ngày càng
mở rộng các sản phẩm mới về dịch vụ tài chính, trong đó bao gồm cả việc đa dạng
hoá mạnh mẽ các hình thức cho vay đối với khách hàng.
1.1.1.2. Tính rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
Trong nền kinh tế thị trường, rủi ro được hiểu là những nguy cơ tiềm tàng có
thể dẫn đến thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần cho một chủ thể hoặc một nhóm chủ
thể nhất định. Một trong đặc tính của rủi ro là tính khó xác định, nghĩa là chúng ta
khó xác định được rủi ro có thể xảy ra hoặc không xảy ra, xảy ra lúc nào, thiệt hại ở
mức độ nào? Do vậy, trong hoạt động của con người nói chung và hoạt động kinh
nhiều chủ thể khác nhau trong xã hội, bao gồm: lợi ích của người gửi tiền tại ngân
hàng; lợi ích của Nhà nước và nền kinh tế; lợi ích của những người vay tiền khác tại
ngân hàng thương mại; lợi ích của các chủ sở hữu ngân hàng. Do tính chất dây
chuyền của rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại nên Chính
phủ thường có những động thái can thiệp mạnh mẽ vào hoạt động cho vay của ngân
hàng thương mại thông qua việc quy định các giới hạn an toàn đối với hoạt động
cho vay của ngân hàng thương mại như: cấm ngân hàng cho vay đối với một số chủ
thể nhất định có thể dẫn đến rủi ro cho ngân hàng, cấm ngân hàng cho vay đối với
một khách hàng vượt quá tỷ lệ 15% vốn điều lệ và quỹ dự trữ của ngân hàng thương
mại, buộc các ngân hàng phải trích lập dự phòng rủi ro theo tỷ lệ do pháp luật quy
định...
Thứ ba, các rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại tuy là
khó dự đoán trước nhưng về lý thuyết cũng như trên thực tế, các ngân hàng thương
mại luôn luôn ý thức được các rủi ro này để từ đó chủ động kiểm soát rủi ro nhằm
phòng ngừa các nguy cơ mất vốn. Việc chủ động kiểm soát rủi ro của ngân hàng
thương mại có thể được thực hiện bằng nhiều giải pháp như: xây dựng và vận hành
một cách hiệu quả quy trình kiểm soát rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng
thương mại; tuân thủ triệt để các quy định của Nhà nước về hạn chế để bảo đảm an
14
toàn trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại; chủ động và linh hoạt
trong việc áp dụng các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ hoàn trả tiền vay theo hợp đồng
tín dụng...
1.1.1.3. Ý nghĩa của việc áp dụng các hạn chế để bảo đảm an toàn trong hoạt
động cho vay của ngân hàng thương mại
Về phương diện lý thuyết, việc áp dụng các hạn chế để bảo đảm an toàn trong
hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại có ý nghĩa, tác dụng cơ bản như sau:
Thứ nhất, đối với ngân hàng thương mại, việc áp dụng các hạn chế để bảo đảm
an toàn trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại có ý nghĩa, tác dụng
đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bên thứ ba trước nguy cơ rủi ro từ hoạt động
cho vay của ngân hàng mang lại. Điều này thể hiện ở chỗ:
Đối với người gửi tiền tại ngân hàng, việc rủi ro trong hoạt động cho vay của
ngân hàng thương mại có thể dẫn đến sự rủi ro cho những người gửi tiền tại ngân
hàng, bởi lẽ nếu ngân hàng thương mại không thu hồi được nợ vay thì cũng đồng
nghĩa với việc họ không có tiền để thanh toán cho người gửi tiền khi chủ thể này
yêu cầu thanh toán cả gốc và lãi tiền gửi.
Đối với người vay tiền tại ngân hàng, việc rủi ro trong hoạt động cho vay của
ngân hàng thương mại sẽ tác động trực tiếp đến việc ngân hàng thương mại có sẵn
sàng chấp nhận và giải ngân cho khách hàng vay mới được hay không, trong khi
những khoản vay cũ đang lâm vào tình trạng nợ xấu và có có khả năng thu hồi.
Đối với chủ sở hữu ngân hàng, việc rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân
hàng thương mại dẫn đến làm giảm lợi nhuận kinh doanh của ngân hàng thương
mại, thậm chí làm giảm vốn và mất vốn điều lệ của ngân hàng thương mại, từ đó
ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ sở hữu ngân hàng những người đã chấp nhận bỏ tiền ra để thành lập ngân hàng.
1.1.2. Khái niệm các hạn chế để bảo đảm an toàn trong hoạt động cho vay của
ngân hàng thương mại
Để làm rõ hơn bản chất của các hạn chế để bảo đảm an toàn trong hoạt động
cho vay của ngân hàng thương mại, thiết nghĩ cần làm rõ khái niệm và bản chất của
các hạn chế để bảo đảm an toàn trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại.
16
Trong pháp luật thực định, hiện tại không có một định nghĩa chính thức nào về
các hạn chế để bảo đảm an toàn trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại.
Tuy nhiên, khi quy định về các hạn chế để bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân
hàng (trong đó có hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại), nhà làm luật đã
liệt kê một số quy định cơ bản bao gồm:
Định nghĩa nêu trên đã phản ánh phần nào bản chất của các hạn chế để bảo
đảm an toàn trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại trên các khía cạnh
chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, mục đích của việc thiết lập các hạn chế này là để nhằm bảo đảm an
toàn trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại trong điều kiện cạnh tranh
khốc liệt của nền kinh tế thị trường. Ngoài ra, việc thiết lập các hạn chế để bảo đảm
an toàn trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại còn nhằm mục đích
đảm bảo sự vận hành an toàn, ổn định của hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế, từ
đó góp phần đảm bảo sự an toàn cho nền kinh tế và đời sống xã hội.
Thứ hai, chủ thể thiết lập các hạn chế để bảo đảm an toàn trong hoạt động cho
vay của ngân hàng thương mại chính là Nhà nước - với tư cách là chủ thể quản lý
các hoạt động kinh tế trong lãnh thổ của mỗi quốc gia, trong đó có hoạt động cho
vay của ngân hàng thương mại. Bởi vì, chỉ có Nhà nước mới có quyền ban hành
pháp luật để đặt ra các hạn chế nhằm bảo đảm an toàn trong hoạt động cho vay của
ngân hàng thương mại. Tuy vậy, cũng cần lưu ý rằng để bảo đảm an toàn trong hoạt
động cho vay của ngân hàng thương mại thì chính ngân hàng thương mại cũng có
vai trò rất quan trọng trong việc thiết kế và vận hành các quy trình, quy chế nội bộ
về quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay của mỗi ngân hàng thương mại. Trong
trường hợp này, cần phân biệt rõ ranh giới giữa thẩm quyền quản lý nhà nước về
ngân hàng của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền với quyền tự do kinh doanh của
ngân hàng thương mại.
Thứ ba, nội dung của các hạn chế để bảo đảm an toàn trong hoạt động cho vay
của ngân hàng thương mại bao gồm các quy định về: Các trường hợp không được
18
cấp tín dụng; các trường hợp hạn chế cấp tín dụng; giới hạn cấp tín dụng; giới hạn
góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng; tỷ lệ đảm bảo an toàn; dự phòng rủi ro;
quyền và trách nhiệm của công ty kiểm soát, các hạn chế đối với ngân hàng thương