NGUYỄN HOÀNG DŨNG
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
LUẬT KINH TẾ
ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG
MUA BÁN HÀNG HÓA THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM
NGUYỄN HOÀNG DŨNG
2015- 2017
HÀ NỘI – 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
---------------
LUẬN VĂN THẠC SỸ
ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG
MUA BÁN HÀNG HÓA THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM
NGUYỄN HOÀNG DŨNG
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60.38.01.07
Tôi xin chân thành cảm ơn Phó giáo sư, Tiến Sỹ: Vũ Thị Hồng Vân đã
tạo điều kiện giúp đỡ tôi nhiệt tình trong quá trình thực hiện và hoàn thành đề
tài luận văn này.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn toàn thể bạn bè, người thân và đồng nghiệp đã
giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành tốt đề tài luận văn tốt nghiệp.
Hà Nội, ngày 05 tháng 12 năm 2017
Tác giả
Nguyễn Hoàng Dũng
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLDS:
Bộ luật dân sự
LĐT:
Luật đầu tư
LSHTT:
Luật sở hữu trí tuệ
LTM:
Luật thương mại
LXD:
2.4.2. Về loại hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa .............................. 51
2.4.3. Hậu quả pháp lý của hợp đồng mua bán hàng hóa bị vi phạm về hình
thức ............................................................................................................... 57
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 .............................................................................. 59
Chương 3: MỘT SỐ BẤT CẬP TRONG PHÁP LUẬT, THỰC TIỄN THI
HÀNH VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC
THỰC HIỆN QUY ĐỊNH ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG
MUA BÁN HÀNG HÓA .............................................................................. 61
3.1. Một số bất cập trong pháp luật và thực tiễn thi hành quy định về điều kiện
có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa ................................................. 61
3.1.1. Về năng lực của chủ thể khi tham gia giao kết và xác lập hợp đồng ... 62
3.1.2. Về nội dung, mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp
luật, không trái đạo đức xã hội ..................................................................... 62
3.1.3. Vấn đề xác định sự tự nguyện quy định về điều kiện người tham gia xác
lập hợp đồng phải hoàn toàn tự nguyện là chưa đầy đủ và rõ ràng ................ 63
3.1.4. Về hình thức của hợp đồng ................................................................. 64
3.1.5. Bất cập trong quy định về nhầm lẫn là điều kiện yêu cầu Toà án tuyên
bố hợp đồng vô hiệu ..................................................................................... 65
3.1.6. Về vấn đề xử lý hợp đồng không đảm bảo điều kiện hiệu lực (hợp đồng
vô hiệu) ........................................................................................................ 70
3.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện quy định điều
kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa.......................................... 72
3.2.1. Giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật ....................................... 72
3.2.2. Giải pháp về tổ chức, thực hiện ........................................................... 85
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 .............................................................................. 87
KẾT LUẬN................................................................................................... 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................... 90
hiệu. Việc vô hiệu này có thể là vô hiệu về hình thức, vô hiệu về nội dung, vô
hiệu toàn bộ hoặc vô hiệu một phần. Tuy nhiên, cho dù thuộc trường hợp vô
hiệu nào đi chăng nữa thì ý chí mong muốn giao kết hoặc thực hiện hợp đồng
giữa các bên sẽ bị cản trở. Trong những trường hợp này quyền và nghĩa vụ
của các bên phát sinh từ hợp đồng sẽ không được pháp luật công nhận và bảo
vệ.
Pháp luật Việt Nam có nhiều quy định điều chỉnh chung về hợp đồng
và hoạt động mua bán hàng hóa, nhưng có thể nói Bộ luật dân sự số
92/2015/QH13 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 24 tháng 11 năm 2015 (gọi chung là
BLDS năm 2015) và Luật Thương mại năm 2005 và các văn bản hướng dẫn
thi hành hai đạo luật này được coi là nguồn quan trọng điều chỉnh vấn đề điều
kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa ở nước ta hiện này. Những
quy định này thể hiện sự phù hợp với thực tiễn hoạt động thương mại, mua
bán hàng hóa ở Việt Nam và về cơ bản phù hợp với thông lệ quốc tế góp phần
tích cực thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ hội nhập toàn cầu.
Những quy định này về cơ bản giúp cho các thương nhân và các chủ thể khác
tham gia vào hoạt động thương mại nói chung và hợp đồng mua bán hàng hóa
nói riêng xác định được cách thức để xác lập một hợp đồng có hiệu lực pháp
luật, đặc biệt là BLDS năm 2015 có những quy định mới về hợp đồng nói
chung và về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng nói riêng. Do vậy, cần được
nghiên cứu và tìm hiểu một cách thấu đáo.
Thực tế cho thấy hiện nay trong đời sống xã hội và trong hoạt động
thương mại vẫn đang diễn ra nhiều hợp đồng mua bán hàng hóa chưa được
giao kết hợp pháp dẫn đến vô hiệu, nguyên nhân là do các vấn đề về điều kiện
vẫn chưa được tuân thủ chặt chẽ nên có nhiều tranh chấp giữa các bên trong
giao kết hợp đồng mà có liên quan đến điều kiện của hợp đồng. Như vậy, phải
2
3
– Những vấn đề pháp lý cơ bản” năm 2009 do TS Nguyễn Thị Dung chủ
biên… Những công trình nói trên đã đề cập đến chế định hợp đồng thương
mại, hoạt động thương mại, pháp luật thương mại đồng thời cũng đề cập đến
chế định hợp đồng thương mại từng dạng cụ thể như: Hợp đồng mua bán
hàng hóa, hợp đồng đại lý, hợp đồng ủy thác…
Liên quan đến hiệu lực của hợp đồng hiện còn có một số sách chuyên
khảo, công trình nghiên cứu có liên quan tới một số khía cạnh pháp lý của
vấn đề hiệu lực hợp đồng, như cuốn “Việt Nam Dân luật - luợc khảo” của GS.
Vũ Văn Mẫu, “Pháp luật về hợp đồng” của TS. Nguyễn Mạnh Bách, “Chế
định hợp đồng trong Bộ luật Dân sự Việt Nam” của TS. Nguyễn Ngọc Khánh,
“Cẩm nang pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại điện tử" của GS.TS.
Nguyễn Thị Mơ, “Luật Hợp đồng Việt Nam - Bản án và Bình luận bản án”,
của TS. Đỗ Văn Đại. Ngoài ra, còn có nhiều bài báo khoa học đăng trên các
tạp chí, như “Hiệu lực và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng” của PGS.TS.
Đinh Văn Thanh, “Điều chỉnh thông tin bất cân xứng và quản lý rủi ro trong
pháp luật hợp đồng Việt Nam'" của PGS.TS. Phạm Duy Nghĩa, “Thời điểm
có hiệu lực của hợp đồng” của TS. Phạm Công Lạc...
Bên cạnh đó, có một số Luận án tiến sỹ nghiên cứu các đề tài có liên
quan đến hiệu lực hợp đồng, như đề tài “Chế độ hợp đồng trong nền kinh tế
thị trường ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” của TS. Phạm Hữu Nghị;
“Hợp đồng kinh tế vô hiệu và hậu quả pháp lý của hợp đồng kinh tế vô hiệu"
của TS. Lê Thị Bích Thọ; “Giao dịch dân sự vô hiệu và việc giải quyết hậu
quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu" của TS. Nguyễn Văn Cường;
“Hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam” của TS. Lê
Minh Hùng, năm 2010…
Những công trình khoa học trên là tài liệu vô cùng quí báu giúp tác giả
có thêm nhiều thông tin quan trọng phục vụ cho việc nghiên cứu luận văn.
điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa của BLDS năm
2015 đặt trong mối tương quan với một số quy định của Luật Thương mại
5
năm 2005, Luật doanh nghiệp… và một số văn bản pháp luật quốc tế điều
chỉnh vấn đề này.
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản nhất về điều kiện có
hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa. Trên cơ sở những vấn đề lý luận,
luận văn tập trung phân tích, đánh giá những quy định của pháp luật về điều
kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa (có tham khảo pháp luật của
một số nước). Các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành được đề tài
nghiên cứu tập trung ở các đạo luật như: BLDS năm 2015; Luật Thương mại
năm 2005.
Cùng với việc nghiên cứu các qui định của pháp luật, luận văn cũng
nghiên cứu, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về điều kiện có hiệu lực của
hợp đồng mua bán hàng hóa trong thời gian gần đây, đặc biệt là từ khi BLDS
năm 2015 có hiệu lực đến nay.
Đồng thời, luận văn cũng đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả thực hiện quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng
hóa ở Việt Nam hiện nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn này, trong quá trình nghiên cứu, luận văn đã sử
dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp duy vật biện
chứng và duy vật của Chủ nghĩa Mác – Lê nin.
Ngoài ra, luận văn cũng sử dụng các phương pháp phân tích nhằm tìm
hiểu các quy định của pháp luật về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua
bán hàng hóa, phương pháp tổng hợp để sử dụng các tài liệu, sách, giáo
Chương 2. Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa theo
quy định của pháp luật Việt Nam.
Chương 3. Một số bất cập trong pháp luật, thực tiễn thi hành và một số
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện quy định điều kiện có hiệu
lực của hợp đồng mua bán hàng hóa.
7
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐIỀU KIỆN
CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG
MUA BÁN HÀNG HÓA
1.1. Khái quát về hợp đồng mua bán hàng hóa
1.1.1. Khái niệm của hợp đồng mua bán hàng hóa
Hợp đồng là công cụ pháp lý quan trọng và phổ biến để con người thực
hiện các giao dịch nhằm thỏa mãn hầu hết mọi nhu cầu của mình. Tuy vậy,
trong lịch sử lập pháp của nhân loại, để tìm ra được một thuật ngữ chính xác,
như thuật ngữ “hợp đồng” đang được sử dụng trong pháp luật của hầu hết các
quốc gia ngày nay, là việc không dễ dàng. Hợp đồng là một trong những chế
định quan trọng và xuất hiện sớm nhất trong lịch sử của pháp luật dân sự. Cùng
với sự xuất hiện của hợp đồng thì hợp đồng dân sự nói riêng là một trong
những phương thức hữu hiệu để các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật
dân sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Theo nghĩa thông thường, hợp
đồng là một giao dịch dân sự mà trong đó các bên tự trao đổi ý chí với nhau
nhằm đi đến sự thỏa thuận cùng nhau làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ
nhất định.
Ở Việt Nam, trong thực tế đời sống, có nhiều thuật ngữ khác nhau được
sử dụng để chỉ về hợp đồng: Khế ước, giao kèo, văn tự, văn khế, cam kết, tờ
giao ước, tờ ưng thuận... Trong cổ luật, dựa vào các cứ liệu lịch sử còn lại
này có ý nghĩa rất quan trọng, đây không chỉ là sự sửa đổi về mặt kỹ thuật lập
pháp mà còn thể hiện sự minh bạch trong thực tiễn áp dụng pháp luật. Việc
quy định như BLDS năm 2005 dẫn đến thực tiễn thi hành pháp luật có nhiều
cách hiểu khác nhau, có trường hợp cho rằng những quy định của BLDS năm
9
2005 chỉ liên quan đến hợp đồng dân sự và do đó toàn bộ những quy định tại
Mục 7 chương XVII của BLDS năm 2005 cũng như những quy định về giao
kết và thực hiện hợp đồng ở mục này chỉ áp dụng đối với hợp đồng dân sự,
còn việc giao kết và thực hiện các loại hợp đồng khác như: Hợp đồng thương
mại, hợp đồng đầu tư, hợp đồng kinh doanh bảo hiểm, hợp đồng lao động…
không phải là hợp đồng dân sự nên chúng sẽ không chịu sự điều chỉnh của Bộ
luật dân sự hiện hành. Từ thực tiễn áp dụng pháp luật và những bất cập như
đã nêu ở trên cho thấy, việc sử dụng hai từ “dân sự” trong định nghĩa về hợp
đồng nêu tại Điều 388 BLDS năm 2005 sẽ làm hạn chế phạm vi điều chỉnh
của Bộ luật Dân sự đối với tất cả các loại hợp đồng, bao gồm cả hợp đồng dân
sự, hợp đồng lao động, hợp đồng kinh doanh hay hợp đồng thương mại. Cho
nên, quy định mới về khái niệm hợp đồng tại Điều 385 của BLDS năm 2015
là hợp lý, phù hợp với thực tiễn áp dụng pháp luật.
Chế định hợp đồng là một bộ phận các quy phạm pháp luật do Nhà
nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình
dịch chuyển các lợi ích vật chất giữa các chủ thể với nhau. Cần phân biệt
thuật ngữ hợp đồng với thuật ngữ pháp luật về hợp đồng. Đây là hai khái
niệm không đồng nhất với nhau. Hợp đồng theo nghĩa chủ quan là quan hệ xã
hội được hình thành từ sự thỏa thuận của các bên để thỏa mãn nhu cầu trao
đổi trong giao lưu dân sự. Còn pháp luật về hợp đồng (nghĩa khách quan) là
sự thừa nhận và là yêu cầu của Nhà nước đối với các giao lưu dân sự đó.
Qua định nghĩa trên, ta có thể thấy, về bản chất hợp đồng được hình
thành dựa trên cơ sở thỏa thuận và thống nhất ý chí giữa các chủ thể tham gia
Theo Điều 430 BLDS năm 2015, “Hợp đồng mua bán tài sản là sự
thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho
bên mua và bên mua có trả tiền cho bên bán”. Tất cả tài sản được quy định
11
tại Điều 105 BLDS năm 2015 đều có thể là đối tượng của hợp đồng mua bán.
Trường hợp theo quy định của luật, tài sản bị cấm hoặc bị hạn chế chuyển
nhượng thì tài sản là đối tượng của hợp đồng mua bán phải phù hợp với các
quy định đó [8, Điều 431]. Như vậy, đối tượng của hợp đồng mua bán tài sản
có thể là vật, tiền, giấy tờ có giá và có thể là quyền tài sản với điều kiện tài
sản đó phải được phép giao dịch. Chẳng hạn: nếu tài sản là vật thì vật đó phải
được xác định rõ (vật gì; trọng lượng; khối lượng; số lượng); nếu là quyền tài
sản, thì phải có giấy tờ hoặc các bằng chứng khác chứng minh. Ngoài ra, đối
tượng của hợp đồng mua bán còn có thể là các tài sản hình thành trong tương
lai. Trong trường hợp này, bên bán phải cung cấp đầy đủ các giấy tờ, tài liệu
chứng cứ để có thể xác định được tài sản đó và chứng minh tài sản sẽ chắc
chắn được hình thành trong tương lai, khi hình thành, chắc chắn tài sản đó
thuộc quyền sở hữu của mình... “Hàng hóa” định nghĩa cũng được coi là một
loại tài sản. Nhưng hàng hóa có phạm vi hẹp hơn tài sản, do vậy, có thể khẳng
định, hợp đồng mua bán hàng hóa là một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán
tài sản [22, khoản 8 Điều 3].
Từ phân tích trên có thể định nghĩa: “Hợp đồng mua bán hàng hóa là
sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu hàng hóa
cho bên mua và bên mua có nghĩa vụ trả tiền cho bên bán”. Điểm phân biệt
giữa hợp đồng mua bán hàng hóa và hợp đồng mua bán tài sản thể hiện ở
những đặc trưng cơ bản của hợp đồng mua bán hàng hóa.
1.1.2. Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa
tương đương từ bên mua (tiền bán tài sản).
- Hợp đồng mua bán tài sản và mua bán hàng hóa là hợp đồng ưng thuận
Ưng thuận là một đặc điểm pháp lý quan trọng của hợp đồng mua bán.
Trong hợp đồng mua bán kể từ thời điểm các bên đã thoả thuận và thống nhất
13
ý chí với nhau về những nội dung cơ bản của hợp đồng như: Đối tượng mua
bán, giá cả, phương thức thanh toán... thì hợp đồng đó được coi là đã xác lập
và có hiệu lực đối với các bên. Sự thỏa thuận (ưng thuận) của các bên về
những vấn đề nói trên có thể được thể hiện theo các hình thức khác nhau như
bằng lời nói, bằng văn bản thông thường hoặc bằng văn bản có thị thực, song
các hình thức xác lập này không ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng mua
bán, trừ các hợp đồng mua bán tài sản mà pháp luật đã quy định phải được
xác lập theo một hình thức bắt buộc. Tóm lại, đặc điểm này cho thấy, khi hợp
đồng mua bán tài sản được coi là đã giao kết thì các bên phải thực hiện quyền
và nghĩa vụ đối với nhau, nghĩa là người bán phải giao tài sản, hàng hóa bán
và nhận tiền, người mua phải trả tiền và nhận tài sản mua, trừ trường hợp
pháp luật có quy định khác.
Ngoài ra, với tư cách là hình thức pháp lý của quan hệ mua bán hàng
hóa, hợp đồng mua bán hàng hóa có những đặc điểm đặc thù xuất phát từ bản
chất thương mại của hành vi mua bán hàng hóa:
- Về chủ thể của hợp đồng
Hợp đồng mua bán hàng hóa được thiết lập giữa các chủ thể chủ yếu là
thương nhân, theo đó, thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập
hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và
có đăng ký kinh doanh”[22, khoản 1 Điều 6]. Ngoài ra, các tổ chức, cá nhân
không phải là thương nhân cũng có thể trở thành chủ thể của hợp đồng mua
bán hàng hóa khi họ có hoạt động liên quan đến thương mại như ký hợp đồng
mua bán hàng hóa với thương nhân. Như vậy, về cơ bản các quy định của
hàng hóa như: hàng mua đề dùng cho cá nhân, gia đình; hàng bán đấu giá;
giấy tờ chứng khoán, cổ phiếu, giấy đảm bảo chứng từ và tiền lưu thông…
Quan niệm trên đây có phạm vi rất rộng cũng giống như Bộ luật thương mại
15
của Anh quốc và pháp luật thương mại Hoa Kỳ và trong nhiều điều ước quốc
tế như: Hiệp định GATT, Hiệp định thành lập khối thị trường chung châu
Âu… Song nhìn chung hàng hóa - đối tượng của mua bán thương mại đều có
đặc điểm chung là động sản hữu hình, gồm những tài sản có hai thuộc tính cơ
bản là: có thể đưa vào lưu thông và có tính chất thương mại (trừ tiền, chứng
khoán và quyền vô hình).
Theo Luật Thương mại năm 2005, hàng hóa là đối tượng của quan hệ
mua bán là tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai;
những vật gắn liền với đất đai (khoản 2 Điều 3). Quy định này về cơ bản là
tương đối hợp lý, ngắn gọn nhưng vẫn đảm bảo bao quát được phạm vi những
đối tượng có khả năng tham gia vào quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa và
cũng loại trừ được bất động sản ra khỏi định nghĩa. Bởi bất động sản là một
loại tài sản đặc biệt, gắn liền với nhiều yếu tố quyền quan trọng và cần phải
có sự điều chỉnh chặt chẽ của pháp luật không thể dễ dàng tham gia giao dịch
như các loại hàng hóa khác.
Tóm lại, xây dựng một khái niệm đúng đắn về hàng hóa là một việc
quan trọng tạo cơ sở cho việc xây dựng hệ thống quy định pháp luật điều
chỉnh quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa.
- Về mục đích của hợp đồng
Mục đích của hợp đồng mua bán hàng hóa chính là lợi nhuận. Do mục
đích của hoạt động thương mại là nhằm sinh lợi nên khi các thương nhân
tham gia ký kết một hợp đồng mua bán hàng hóa suy cho cùng cũng là vì lợi
nhuận. Tuy nhiên, trên thực tế có một số trường hợp một bên chủ thể của hợp
đồng không phải là thương nhân, hoạt động không nhằm mục đích sinh lời,
nghĩa đối với đời sống xã hội. Do đó hợp đồng mua bán hàng hóa có một số
vai trò nhất định trong hoạt động thương mại như sau:
Hợp đồng mua bán hàng hóa là cơ sở quan trọng để xây dựng và thực
17
hiện kế hoạch kinh doanh thương mại của các thương nhân
Có thể khẳng định rằng trong tất cả mọi vấn đề nếu không xây dựng kế
hoạch cụ thể và chi tiết thì mọi công việc tiến hành đều rơi vào tình trạng
không có phương hướng và để bảo đảm việc xây dựng kế hoạch được bảo
đảm thì một trong những cơ sở quan trọng bắt nguồn của vấn đề chính là hợp
đồng. Hợp đồng nói chung và hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng là một
phương tiện để kiểm tra việc thực hiện kế hoạch của các thương nhân. Trong
quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên, cơ sở để cho sự phân minh
cũng như khẳng định tính đúng sai không thể có nội dung nào khác quan
trọng hơn đó chính là hợp đồng. Bên cạnh những nội dung chính của họp
đồng như: tên của hợp đồng, tên chủ thể, tên mặt hàng, phương thức thanh
toán... nhưng trong đó có nhiều hợp đồng quy định rất cụ thể tiến độ thực hiện
các nội dung được thoả thuận trong hợp đồng và như vậy nội dung hợp đồng
sẽ trở thành tiêu chí để kiểm tra việc thực hiện các thoả thuận của các bên.
Hay nói cách khác, hợp đồng được xem như công cụ để các thương nhân
kiểm tra việc thực hiện kế hoạch của mình.
Hợp đồng mua bán hàng hóa làm cho lợi ích của các bên ký kết và phù
hợp với lợi ích chung của nhà nước, lợi ích công công, lợi ích của nền kinh tế
Cho dù nội dung của hợp đồng chủ yếu được các bên tự thoả thuận
nhưng sự thoả thuận đó phải trong khuôn khổ pháp luật và việc các bên ký
kết và thực hiện hợp đồng luôn phải tính toán đến các lợi ích của nền kinh
tế quốc dân.
Hợp đồng mua bán hàng hóa là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời
của cơ chế quản lý mới