NGUYỄN QÚY LINH
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬT KINH TẾ
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN
TỪ THỰC TIỄN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
2015 - 2017
NGUYỄN QUÝ LINH
HÀ NỘI - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN
TỪ THỰC TIỄN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
NGUYỄN QUÝ LINH
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ
trợ từ Giáo viên hướng dẫn là Tiến sĩ Võ Thanh Lâm. Các nội dung nghiên
cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực. Những số liệu phục vụ cho việc
phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác
nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo. Các kết quả nghiên cứu chưa
được ai công bố trong các công trình khoa học.
Hà Nội, ngày 28 tháng 9 năm 2017
Tác giả
Nguyễn Quý Linh
MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU
01
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG
VAY TÀI SẢN VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY
TÀI SẢN
07
1.1. Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng vay tài sản
07
18
1.2.2. Hình thức của hợp đồng vay tài sản
19
1.2.3. Đối tượng của hợp đồng cho vay tài sản
20
1.2.4. Thời hạn của hợp đồng vay tài sản
23
1.2.5. Lãi suất và lãi suất nợ quá hạn của hợp đồng vay tài sản
25
1.2.5.1. Lãi suất
25
1.2.5.2. Lãi suất nợ quá hạn
28
1.3. Khái niệm, phương thức của giải quyết tranh chấp hợp đồng vay
tài sản
2.2.2. Trình tự thủ tục quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản tại Tòa án
cấp phúc thẩm
2.2.3. Thủ tục xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
44
45
48
50
2.1.3.1. Thủ tục giám đốc thẩm
50
2.2.3.2. Thủ tục tái thẩm
52
2.3. Những kết quả đạt được trong giải quyết tranh chấp hợp đồng
vay tài sản của TAND thành phố Hải Phòng 5 năm gần đây
52
2.3.1. Những trường hợp công nhận sự thỏa thuận của các bên
52
2.3.2. Những trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án
55
69
2.4.2. Khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng các quy định của pháp
luật vào việc giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản
70
2.4.3. Khó khăn, vướng mắc xuất phát từ cơ cấu tổ chức Tòa án và nguồn
nhân lực
2.4.4. Một số khó khăn, vướng mắc khác
78
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
84
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN QUY
ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN VÀ
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP
ĐỒNG VAY TÀI SẢN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ
HẢI PHÒNG
85
3.1. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về hợp
đồng vay tài sản
85
3.2.3. Một số giải pháp khác
96
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
100
KẾT LUẬN
101
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
102
80
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLDS
: Bộ luật dân sự
BLTTDS
:Bộ luật tố tụng dân sự
TAND
Thống kê các vụ án dân sự về tranh chấp hợp đồng vay tài
sản bị TAND thành phố Hải Phòng đình chỉ từ năm 2012 đến
56
năm 2016
Thống kê các vụ án dân sự về tranh chấp hợp đồng vay tài
Bảng 2.4 sản được TAND thành phố Hải Phòng xét xử từ năm 2012 đến
59
năm 2016
Thống kê các chủ thể trong vụ án dân sự về tranh chấp hợp
Bảng 2.5
đồng vay tài sản được TAND thành phố Hải Phòng xét xử từ
năm 2012 đến năm 2016
61
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong đời sống xã hội thường tồn tại trạng thái tạm thời thừa vốn hoặc tạm
thời thiếu vốn ở các cá nhân, tổ chức. Có những bộ phận xã hội có vốn nhàn rỗi,
nhưng lại chưa cần sử dụng vốn để đầu tư sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng; có
những bộ phận xã hội khác lại có nhu cầu sử dụng vốn, nhưng không thể tự thoả
mãn được. Chính vì vậy, đã phát sinh yêu cầu điều hoà các nguồn vốn trong xã hội
theo phương thức có hoàn trả.
Quan hệ chuyển giao vốn giữa các chủ thể trong xã hội theo nguyên tắc có
Hà Nội, năm 2012
- "Một số vấn đề bảo lãnh trong hợp đồng vay tài sản", của Dương Quốc
Thành, Tạp chí Tòa án nhân dân, số12/2004;
- "Cần sửa đổi, bổ sung một số điều về hợp đồng vay tài sản", của Nguyễn
Minh Oanh, Tạp chí Luật học, số11/2003;
- "Một số vướng mắc trong việc giải quyết tranh chấp về hợp đồng vay tài
sản liên quan đến trả lãi và lãi suất", của Trần Văn Biên, Tạp chí Nhà nước và
pháp luật, số11/2001;
- "Cách tính lãi suất và lãi suất nợ quá hạn trong hợp đồng vay tài sản", của
Lê Thị Hà, Tạp chí Tòa án nhân dân, số6/2001;
- "Hậu quả pháp lý của hợp đồng vay tài sản bị vô hiệu một phần", của
Thanh Thủy, Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao(21/12/2004);
- "Một số ý kiến góp ý cho các quy định của Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa
đổi) về hợp đồng vay tài sản", của Trần Văn Biên - Viện Nhà nước và pháp
luật,26/12/2008;
- "Về chế định hợp đồng vay tài sản", của Trần Văn Biên, Tạp chí Nghiên
cứu lập pháp, số9/2004.
Bên cạnh đó, cũng phải kể đến những nghiên cứu ở bình diện chung nhất về
2
hợp đồng vay tài sản dưới dạng một mục hay một chương của một tác phẩm như:
cứu một cách hệ thống, đầy đủ trong việc giải quyết hợp đồng vay tài sản trên một
3
địa bàn cụ thể. Việc làm rõ vấn đề giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản tại
một địa bàn cụ thể cần phải được xác định và nghiên cứu để làm nổi bật những đặc
thù trong quan hệ vay tài sản tại một địa bàn lớn thành phố Hải Phòng là cần thiết.
Vì đây là một trong những thành phố trẻ có nhiều các doanh nghiệp, trung tâm
dịch vụ thương mại lớn, nhiều hộ làm ăn cá thể, tiểu thương phát triển mạnh …
Cùng với sự tăng trưởng về các sản phẩm do lao động, sản xuất kinh doanh,
dịch vụ trên địa bàn quận cũng phát triển, nhu cầu về vốn tăng cao, vì vậy quan hệ
vay tài sản cũng không ngừng gia tăng về số lượng, giá trị cũng như tính phức tạp.
Nhận thức được tính phức tạp của quan hệ vay tài sản nói chung và việc giải quyết
tranh chấp về hợp đồng vay tài sản của TAND tại thành phố cảng nói riêng và cả
nước nói chung nên việc nghiên cứu đề tài này là hết sức quan trọng và cần thiết.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và
thực tiễn của chế định hợp đồng vay tài sản, nêu lên những điểm mới của chế định
hợp đồng vay tài sản trong Bộ luật Dân sự năm 2015 so với Bộ luật Dân sự năm
2005. Qua thực tiễn áp dụng, tôi đã nêu lên những hạn chế, những bất cập trong
quy định. Từ đó, đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật
về hợp đồng vay tài sản.
Từ mục đích nêu trên, đề tài đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của hợp đồng vay tài sản, làm rõ chức năng chủ
yếu của hợp đồng vay tài sản trong đời sống xã hội;
- Phân tích, so sánh các quy định pháp luật về hợp đồng vay tài sản, đánh giá
mức độ hoàn thiện các quy định của pháp luật về chế định hợp đồng vay tài sản
quyết được sử dụng để phân tích, tham chiếu trong luận văn được tác giải mã hóa
tên riêng của doanh nghiệp, cá nhân theo ký tự a, b, c… để đảm bảo tính bí mật
thông tin cá nhân.
6. Những nghiên cứu mới của luận văn
Qua quá trình tìm hiểu pháp luật Việt Nam về chế định hợp đồng vay tài sản
bên cạnh đó đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật Việt Nam của chế định hợp đồng
vay tài sản tại Hải Phòng, luận văn có một số điểm mới như sau:
- Luận văn trình bày một cách khoa học và có hệ thống những vấn đề cơ bản
5
về quá trình hình thành và phát triển của chế định hợp đồng vay tài sản ở Việt
Nam;
- Luận văn phân tích và luận giải được những đặc điểm pháp lý và ý nghĩa
của hợp đồng vay tài sản trong đời sống xã hội;
- Luận văn phân tích các quy định về hợp đồng vay tài sản theo quy định
pháp luật dân sự hiện hành, nêu lên những điểm mới của chế định này so với
những quy định trước đây;
- Luận văn tìm hiểu, phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật trong giải quyết
tranh chấp hợp đồng vay tài sản của TAND Hải Phòng. Qua đó, rút ra những thành
quả đạt được cũng như những khó khăn hiện tại.
- Trên cơ sở đó, đề xuất phương hướng hoàn thiện các quy định pháp luật về
hợp đồng vay tài sản nói chung trên cơ sở phân tích thực trạng áp dụng các quy
định bằng các tranh chấp cụ thể về hợp đồng vay tài sản, cũng như một số vướng
được Nhà nước khuyến khích.
BLDS 2015 định nghĩa "Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản"
và "Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là
tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai" (Điều 105).
Điều 108 BLDS 2015 đã giải thích rõ khái niệm “tài sản hiện có và tài sản
hình thành trong tương lai”. Theo đó:
“1. Tài sản hiện có là tài sản đã hình thành và chủ thể đã xác lập quyền sở
hữu, quyền khác đối với tài sản trước hoặc tại thời điểm xác lập giao dịch.
2. Tài sản hình thành trong tương lai bao gồm:
a) Tài sản chưa hình thành;
7
b) Tài sản đã hình thành nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản sau
thời điểm xác lập giao dịch”.
Như vậy, BLDS 2015 khẳng định tài sản bao gồm động sản và bất động sản.
Tài sản này có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.
Theo định nghĩa của Từ điển Tiếng Việt, từ “vay” được hiểu là “nhận tiền hay
vật gì của người khác để chi dùng trước với điều kiện sẽ trả tương đương hoặc có
thêm phần lãi” [17, tr.769]. Như vậy, dưới góc độ là quan hệ xã hội, quan hệ vay tài
sản phải có ít nhất hai chủ thể tham gia, được xác lập trên cơ sở thỏa thuận giữa các
bên, đối tượng của quan hệ là tiền hoặc vật bất kỳ. Về phương diện chủ quan, hợp
đồng vay tài sản là một giao dịch dân sự mà trong đó các bên tự trao đổi ý chí với
nhau nhằm đi đến sự thỏa thuận để cùng nhau làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ
dân sự nhất định.
C.Mác đã nói: “Tự nó, hàng hóa không thể đi đến thị trường và trao đổi với
nhau được. Muốn cho những vật đó trao đổi với nhau thì những người giữ chúng
phải đối xử với nhau như những người mà ý chí nằm trong các vật đó” [18, tr.35].
Chính vì quan hệ vay tài sản được hình thành từ những hành vi có ý chí của các chủ
pháp luật có quy định."
Xuất phát từ nguyên tắc "tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận" (Điều 3 BLDS
2015) mà khái niệm hợp đồng vay tài sản đã đề cập tới yếu tố thỏa thuận. Thỏa
thuận ở đây là sự thỏa thuận giữa bên cho vay và bên vay trong hợp đồng. Hợp
đồng có được thiết lập hay không là do sự thỏa thuận giữa các bên, tức phải có sự
thống nhất ý chí giữa các bên trong việc làm phát sinh quyền và nghĩa vụ nhất định,
bởi vì ý chí là khả năng tự xác định mục đích cho hành động và hướng hoạt động
của mình, khắc phục khó khăn nhằm đạt mục đích đó. Sự thỏa thuận này tất nhiên
không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Đặc biệt, các bên chủ
thể khi giao kết hợp đồng phải có sự tự nguyện – tức là phải có sự thống nhất ý chí
và bày tỏ ý chí của từng chủ thể trong hợp đồng. Khi đó, nếu các bên tham gia hợp
đồng không có sự tự nguyện thì hợp đồng sẽ dẫn đến vô hiệu và khi có tranh chấp
9
xảy ra đối với hợp đồng này thì là cơ sở để cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tham
gia giải quyết.
1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng vay tài sản
Như đã phân tích khái niệm hợp đồng vay tài sản ở trên, ta thấy hợp đồng vay
tài sản là một dạng của hợp đồng, do vậy bên cạnh những đặc điểm chung của hợp
đồng th́ hợp đồng vay tài sản cũng có những đặc điểm riêng của nó để có thể phân
biệt được loại hợp đồng này với hợp đồng khác; cụ thể:
- Một là, về chủ thể tham gia giao kết hợp đồng vay tài sản:
Tham gia ký kết và thực hiện hợp đồng vay tài sản bao gồm hai bên: Bên cho
vay và bên vay. Bên cho vay trong hợp đồng vay tài sản là các tổ chức, cá nhân có
tài sản hoặc có đủ điều kiện theo luật định đối với những hợp đồng tín dụng. Bên
vay là những cá nhân, tố chức cần đến sự giúp đỡ về vật chất của bên cho vay.
- Hai là, về đối tượng:
Đối tượng của hợp đồng vay có thể là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.
Nhưng thông thường, đối tượng của hợp đồng vay tài sản là một khoản tiền. Ngoài
mượn và thuê, mà chỉ có quyền chiếm hữu, sử dụng tài sản đã mượn, thuê trong một
thời gian nhất định do hai bên thoả thuận. Khi hết hạn, bên mượn, bên thuê phải trả
đúng tài sản đã mượn, thuê cho bên cho mượn, bên cho thuê tài sản [22]. Còn trong
hợp đồng vay tài sản, "bên vay trở thành chủ sở hữu tài sản vay kể từ thời điểm
nhận tài sản đó" (Điều 464 BLDS 2015). Bên vay có quyền chiếm hữu, sử dụng,
định đoạt tài sản vay. Hết thời hạn vay, bên vay chỉ cần trả cho bên cho vay tài sản
cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng mà không phải trả lại đúng tài sản đã vay.
Khi giao kết hợp đồng vay tài sản thì bên cho vay chuyển giao tài sản đồng
thời chuyển giao quyền sở hữu tài sản đó cho bên vay. Tuy nhiên, bên vay chỉ trở
thành chủ sở hữu đối với tài sản vay khi nhận được tài sản vay đó với sự thống nhất
với bên cho vay về một số điều kiện vay. Điều kiện vay có thể là lãi suất, là việc sử
dụng tài sản vay đúng mục đích... và đặc biệt là hoàn trả tài sản vay sau một thời
gian nhất định [22].
Như vậy, hợp đồng vay tài sản là một dạng của hợp đồng, nó mang đầy đủ
những đặc điểm của hợp đồng nói chung và còn có những đặc điểm riêng, đó là tính
ưng thuận, tính đơn vụ hoặc tính đền bù hoặc không đền bù và là hợp đồng chuyển
13
giao quyền sở hữu đối với tài sản. Đây là những đặc điểm riêng biệt giúp ta phân
biệt hợp đồng vay tài sản với những hợp đồng khác.
1.1.3 Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng cho vay tài sản
Với tư cách là một giao dịch dân sự, hợp đồng vay tài sản muốn có hiệu lực
pháp luật thì phải thoả mãn đầy đủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự .
Căn cứ vào quy định tại Điều 117 của BLDS năm 2015 và các quy định có liên
quan, có thể xác định một hợp đồng vay tài sản có hiệu lực khi có đủ các điều kiện
sau đây:
- Thứ nhất, chủ thể của hợp đồng vay tài sản phải có năng lực pháp luật dân
sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với hợp đồng xác lập.
Trong thực tiễn có những tranh chấp về hợp đồng vay tài sản với lãi suất cao
vượt quá quy định của Nhà nước (lãi suất do Ngân hàng Nhà nước quy định), hoặc
có những hợp đồng vay tài sản nhằm mục đích lừa dối hay che dấu một quan hệ
pháp luật khác. Hậu quả pháp lý của hợp đồng không hợp pháp đó là việc Toà án
tuyên bố hủy một phần hoặc toàn bộ hợp đồng vay tài sản giữa các bên đã giao kết
[20].
- Thứ tư, hình thức của hợp đồng phải tuân theo quy định của pháp luật.
Tuỳ từng đối tượng, giá trị của tài sản cho vay mà sự thoả thuận thống nhất ý
chí của các bên có thể bằng lời nói, bằng văn bản, văn bản phải được công chứng
hoặc hành vi cụ thể. Hiện nay, hình thức giao kết trong hợp đồng dân sự nói chung,
hợp đồng vay tài sản nói riêng chủ yếu bằng hai hình thức chính, là bằng miệng đối
với những hợp đồng có giá trị tài sản không lớn và bằng văn bản đối với những
hợp đồng có giá trị tài sản tương đối lớn [20].
1.2. Chủ thể, hình thức, đối tượng, thời hạn, lãi suất trong hợp đồng vay
tài sản
1.2.1 Chủ thể của hợp đồng vay tài sản
Chủ thể trong hợp đồng vay tài sản là những cá nhân, tổ chức có đầy đủ năng
lực pháp luật và năng lực hành vi theo quy định của pháp luật [20]. Chủ thể trong
15
quan hệ hợp đồng vay tài sản bao gồm:
1.2.1.1. Cá nhân
Đây là chủ thể phổ biến nhất của các quan hệ dân sự nói chung và quan hệ
vay tài sản nói riêng, các chủ thể khác khi tham gia vào quan hệ dân sự cũng đều
phải thông qua hành vi của con người cụ thể. Vì vậy, để tham gia vào quan hệ vay
tài sản, cá nhân phải có tư cách chủ thể, tức là năng lực pháp luật và năng lực hành
vi theo quy định pháp luật. Theo quy định tại Điều 16 BLDS năm 2015:
- Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân