skkn tích hợp kiến thức liên môn nhằm phát huy năng lực cho học sinh trong môn GDCD lớp 10 (phần công dân với việc hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học) - Pdf 50

1. Mở đầu
1.1. Lý do chọn đề tài
Năm học 2017-2018, nhằm tiếp tục triển khai có hiệu quả Kế hoạch hành
động của ngành Giáo dục, Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện
Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo,
Nghị quyết số 88/2014/QH13 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo
khoa giáo dục phổ thông và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề
án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, ngoài những nhiệm
vụ thường xuyên. Trong đó toàn ngành Giáo dục tập trung vào nhiệm vụ: Triển
khai đồng bộ các giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng
các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, nghiên cứu khoa học và luyện kỹ năng thực
hành, vận dụng kiến thức, kỹ năng vào giải quyết các vấn đề thực tiễn cho học
sinh, các kĩ năng sống. Để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp
ứng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và nhu cầu phát triển của người học, giáo dục
phổ thông đã và đang đổi mới mạnh mẽ theo bốn trụ cột của giáo dục thế kỉ
XXI, mà thực chất là: Học để biết, Học để làm, Học để tự khẳng định mình và
Học để cùng chung sống.
Trên thực tế, giáo dục ở Việt Nam còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được
yêu cầu giáo dục của thời đại mới. Về nội dung: kiến thức còn hàn lâm cứng
nhắc, coi trọng lí thuyết hơn thực tiễn, thiếu tính liên thông các bài học với nhau,
nhiều vấn đề khai thác trùng lặp trong nhiều môn học, làm chương trình trở nên
thiếu tính hệ thống, quá tải. Về phương pháp: dạy học chủ yếu nặng về thuyết
trình, ít có sự liên hệ kiến thức giữa các bộ môn với nhau cũng như kiến thức
giữa các bài học trong cùng một bộ môn. Mục tiêu dạy học chỉ chú trọng vào
việc cung cấp kiến thức mà ít chú trọng đến phát triển kĩ năng cho học sinh, ít có
sự liên hệ giữa lí thuyết học trong nhà trường và thực tiễn cuộc sống. Trong khi
các tình huống ngoài thực tiễn cuộc sống luôn mang tính tích hợp thì dạy học
trong nhà trường còn thiếu sự tích hợp giữa các môn (theo các nhà nghiên cứu).
Trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo (GD & ĐT) hiện nay việc nâng cao
chất lượng dạy học là vấn đề quan trọng hàng đầu, để giúp học sinh lĩnh hội kiến

trở nên khô khan, khó hiểu, … nên việc vận dụng kiến thức liên môn vào giảng
dạy bộ môn GDCD là cần thiết, sẽ gây được hứng thú trong học tập cho học
sinh.
Chính lý do trên thôi thúc tôi chọn đề tài: "Tích hợp kiến thức liên môn
nhằm phát huy năng lực cho học sinh trong môn GDCD lớp 10 (phần công
dân với việc hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học)”.
1.2. Mục đích nghiên cứu
- Mục đích: Trước hết làm sáng tỏ phương pháp vận dụng tri thức liên môn
để làm gì? Tại sao cần phải vận dụng tri thức liên môn trong quá trình giảng dạy
môn GDCD? Những yêu cầu cơ bản để sử dụng tốt phương pháp này, những
điều cần tránh trong quá trình vận dụng tri thức liên môn. Đồng thời, tìm ra cách
vận dụng như thế nào cho hợp lý và đạt hiệu quả cao, góp phần đổi mới phương
pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục.
- Nhiệm vụ: Với mục đích đó SKKN có nhiệm vụ sau:
+ Nghiên cứu tình hình sử dụng tri thức liên môn trong quá trình giảng dạy
môn GDCD của giáo viên ở trưởng THPT. Cụ thể tôi đã nghiên cứu tình hình sử
dụng phương pháp vận dụng tri thức liên môn của các giáo viên giảng dạy môn
GDCD ở các trường.
+ Chỉ ra vai trò, tầm quan trọng và cách sử dụng của phương pháp vận
dụng tri thức liên môn.
+ Vận dụng tri thức liên môn ở một số bài cụ thể ở phần thứ nhất: Công
dân với việc hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học.
1.3. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Là học sinh lớp 10 mới vào THPT nên việc tiếp cận với kiến thức triết học
như: Vật chất - ý thức; các quy luật của triết học; vai trò của thực tiễn … là vô
cùng khó khăn và khó hiểu nên giáo viên đã sử dụng phương pháp liên môn
bằng cách đưa các môn khoa học khác như: Toán, Lý, Hóa, Sinh, Văn, Sử,
Địa ... vào giảng dạy, đồng thời kết hợp với một số hình ảnh, vi deo, tư liệu để
tăng thêm phần tích cực học tập trong học sinh.
1.4. Phương pháp nghiên cứu

- Quan tâm đến việc sử dụng kiến thức trong tình huống cụ thể: Giúp học
sinh hòa nhập vào thực tiễn cuộc sống.
- Giúp người học xác lập mối quan hệ giữa các khái niệm đã học.
Đặc điểm của dạy học tích hợp liên môn:
- Lấy người học làm trung tâm.
- Định hướng, phân hóa năng lực người học.
- Dạy và học các năng lực thực tiễn.
Các quan điểm tích hợp trong dạy học hiện nay:
- Tích hợp “đơn môn”: Xây dựng chương trình học tập theo hệ thống của
một môn học riêng biệt. Các môn học được tiếp cận một cách riêng rẽ.
- Tích hợp “đa môn”: Một chủ đề trong nội dung học tập có liên quan với
những kiến thức, kỹ năng thuộc một số môn học khác nhau. Các môn tiếp tục
được tiếp cận riêng, chỉ phối hợp với nhau ở một số đề tài nội dung.
- Tích hợp “liên môn”: Nội dung học tập được thiết kế thành một chuỗi
vấn đề, tình huống đòi hỏi muốn giải quyết phải huy động tổng hợp kiến thức,
kỹ năng của những môn học khác nhau.
3


- Tích hợp “xuyên môn”: Nội dung học tập hướng vào phát triển những kỹ
năng, năng lực cơ bản mà học sinh có thể sử dụng vào tất cả các môn học trong
việc giải quyết các tình huống khác nhau.
Theo công văn số 5555/BGDĐT-GDTrH về việc hướng dẫn sinh hoạt
chuyên môn về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá; tổ chức và
quản lí các hoạt động chuyên môn của trường trung học/trung tâm giáo dục
thường xuyên qua mạng, ngày 08 tháng 10 năm 2014: “Thay cho việc dạy học
đang được thực hiện theo từng bài/tiết trong sách giáo khoa như hiện nay, các
tổ/nhóm chuyên môn căn cứ vào chương trình và sách giáo khoa hiện hành, lựa
chọn nội dung để xây dựng các chủ đề dạy học trong mỗi môn học và các chủ đề
tích hợp liên môn phù hợp với việc sử dụng phương pháp dạy học tích cực trong

1), trong khi đó học sinh bị cấm không được mang điện thoại đến trường.
Học sinh hiện tại đang quen với lối mòn cũ nên khi đổi mới học sinh thấy lạ
lẫm và khó bắt kịp. Do xu thế chọn ngành nghề theo thực tế xã hội nước ta hiện
nay và việc quy định các môn thi trong các kì thi tuyển sinh nên đa số các học
sinh và phụ huynh kém mặn mà (coi nhẹ) với các môn không thi, ít thi (môn
phụ). Điều này được thể hiện thông qua kết quả khảo sát trước khi thực hiện đề
tài:
(Phụ lục 1)
Thực trạng học môn GDCD
Tiết học khô
Kiến thức SGK Học sinh Học sinh thích

Khối
khan, buồn tẻ, trừu tượng, nặng xem nhẹ
học môn
số
không lôi cuốn
lí thuyết
môn học
GDCD
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
10
21,3

17
39,5
7
16,
13
30,2
10A9 43
3
5


14,
13
30,2
0
37
17,5
89
42,2
32 15,
53
25,1
Tổng 211
2
Từ kết quả thực trạng trên cho thấy, học sinh chưa có hứng thú học tập với
bộ môn GDCD do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do môn GDCD trừu
tượng, khó hiểu, nhiều lí thuyết lại khô khan; bản thân học sinh và phụ huynh
xem nhẹ môn học mặc dù hai năm học qua môn GDCD đã được đưa vào là môn
thi tốt nghiệp, xét hạnh kiểm cho các em.
Với những khó khăn trên nhưng bản thân tôi quyết tâm khắc phục để xây

(Truyện thần thoại, ngụ ngôn như “Sơn tinh Thủy tinh”, “thần trụ trời”…)
* GV trình chiếu hình ảnh:
(Phụ lục 3)

* GV: Nhận xét rút ra quan điểm thế giới quan duy tâm. Đồng thời đưa ra
những cách lý giải của khoa học cùng với quan điểm của trường phái duy vật …
để giải thích thế giới quan là gì?
* GV: Thế giới quanh ta là gì? Thế giới có bắt đầu và kết thúc không?
Con người có nguồn gốc từ đâu? con người có nhận thức được thế giới hay
không? Những câu hỏi đó đều liên quan đến mối quan hệ giữa vật chất và ý
thức, giữa tư duy và tồn tại. Đó là vấn đề cơ bản của Triết học.
* GV hỏi: Vấn đề cơ bản của triết học là gì? (HS trả lời).
* GV: Trong lịch sử Triết học có nhiều trường phải khác nhau. Mỗi trường
phải tùy theo cách trả lời về các mặt của vấn đề cơ bản của Triết học mà hệ
thống thế giới quan được xem là duy vật hay là duy tâm.
*GV trình chiếu ví dụ:
Béc – cơ – li: “Không có sự vật nằm ngoài cảm giác” (Duy tâm chủ
quan).
Khổng Tử: “Sống chết có mệnh, giàu sang do trời” (Duy tâm khách
quan)
7


Đê-mô-crít cho rằng: nguyên tử (hai vật chất không thể phân chia được)
và chân không là hai nhân tố tạo nên mọi vật … (Thế giới quan duy vật).
* GV yêu cầu HS hoạt động cá nhân, hoàn thành phiếu học tập sau:
Bảng: So sánh về thế giới quan duy vật và thế giới quan duy tâm (Phụ lục 4)
Thế giới quan duy vật
Thế giới quan duy tâm
Quan hệ giữa vật

PPL biện chứng

PPL siêu hình

Quan hệ giữa các sự
vật, hiện tượng, vận
động và phát triển
Ví dụ
Bài 3. Sự vận động và phát triển của thế giới vật chất
Mục tiêu: Học sinh hiểu được khái niệm vận động; biết được vận động là
phương thức tồn tại của thế giới vật chất; phân biết các hình thức vận động cơ
bản của thế giới vật chất;
Giáo viên lồng ghép kiến thức liên môn: Vật lí, Hóa học, Sinh
học.
Phương pháp dạy học: Đặt và giải quyết vấn đề; Hoạt động nhóm; Trực
quan.
Cách tổ chức:
Khi giảng mục 1: Thế giới vật chất luôn luôn vận động
* GV nêu ra các hiện tượng:
- Cá bơi, người đi.
- Sự dẫn điện.
- Sự hóa hợp các chất.
- Hạt thóc nảy mầm.
- Sự thay đổi các hình thái xã hội trong lịch sử.
* GV hỏi học sinh: các hiện tượng trên có thuộc tính gì chung?
(Các hiện tượng trên có thuộc tính chung là chỉ sự biến đổi nói chung của
các sự vật hiện tượng).
* GV phân tích, chứng minh, khái quát và đưa ra khái niệm vận động theo
nghĩa triết học. Song giáo viên không thể dừng lại ở đây mà cần phải phân tích,
so sánh, phản bác lại quan niệm về vận động của chủ nghĩa duy tâm cho rằng:

* GV khái quát: Mỗi hình thức vận động trên đều có những đặc điểm riêng,
đó là đối tương nghiên cứu của từng ngành khoa học. Song nó có mối quan hệ
chặt chẽ khăng khít với nhau. Hình thức vận động sau bao giờ cũng cao hơn hơn
10


hình thức vận động trước. Hình thức vận động xã hội là hình thức vận động cao
nhất bao hàm các hình thức vận động khác.
Bài 4: Nguồn gốc vận động, phát triển của sự vật và hiện tượng.
Mục tiêu: Giúp học sinh hiểu được các qui luật: Qui luật mâu thuẫn, ý
nghĩa của các quy luật này trong thực tiễn; hiểu được mâu thuẫn là nguồn gốc
vận động, phát triển của sự vật và hiện tượng. Từ đó yêu cầu học sinh vận dụng
những kiến thức đã học vào cuộc sống và thực tiễn.
Lồng ghép kiến thức các môn: Vật lí, Toán học, Sinh học, Lịch sử, Hóa
học ... làm ví dụ minh họa.
Phương pháp dạy học: Vấn đáp tìm tòi; Hoạt động nhóm; kĩ thuật khăn
phủ bàn; Trực quan sinh động.
Cách tổ chức:
Khi giảng mục 1: Thế nào là mâu thuẫn?
* GV cho HS thảo luận nhóm:
Nhóm 1: Lấy một số ví dụ về mâu thuẫn (Hóa học, Sinh học, lí học,
tư duy, …) và có nhận xét gì về các ví dụ đó?
Nhóm 2. Nếu khái niệm mâu thuẫn là gì?Ví dụ.
Nhóm 3. Thế nào là mặt đối lập, thế nào là sự thống nhất và sự đấu
tranh giữa các mặt đối lập?
* HS trả lời được các ý cơ bản sau:
Nhóm 1:
- Một nguyên tử: Điện âm (-) và điện dương (+) (Lí học)
- Cơ thế sống: Đồng hóa và Dị hóa; Biến dị và di truyền. (Sinh học)
- Trong tư duy con người: chân lý và sai lầm.

Các mặt đối lập xung đột, đối lập nhau, tính chất, khuynh hướng vận động trái
ngược nhau.
Để hiểu rõ điều này chúng ta trở lại ví dụ trên:
Đồng hóa: là quá trình tổng hợp từ các chất đơn giản thành các chất
phức tạp đặc trưng của cơ thể và tích lũy năng lượng.
Dị hóa: là quá trình phân giải các hợp chất hữu cơ được tổng hợp
trong quá trình đồng hóa tạo thành những hợp chất đơn giản và giải phóng năng
lượng.
Đồng hóa và Dị hóa là hai mặt đối lập nhau nhưng lại phải liên hệ với
nhau, qui định lẫn nhau, chúng tồn tại trong một cơ thể sống.
* GV cần giáo dục tư tưởng, tình cảm đạo đức cho học sinh thông qua quy
luật này.
Bài 5: Cách thức vận động, phát triển của sự vật và hiện tượng.
Khi giảng mục 3: Quan hệ giữa sự biến đổi về lượng và sự biến đổi về
chất.
12


Mục tiêu: HS hiểu được mối quan hệ biện chứng giữa sự biến đổi về lượng
và sự biến đổi về chất của sự vật, hiện tượng. Đồng thời chỉ ra được sự khác
nhau giữa sự biến đổi về lượng và sự biến đổi về chất
Lồng ghép kiến thức các môn: Toán học, Sinh học, Hóa học, Lịch sử, Ca
dao tục ngữ Việt Nam.
Phương pháp dạy học: Vấn đáp tìm tòi; Trực quan sinh động.
Cách tổ chức:
a) Sự biến đổi về lượng dẫn đến sự biến đổi về chất:
* GV đặt câu hỏi: - Sự biến đổi về lượng có dẫn đến sự biến đổi về chất
hay không, yếu tố nào dẫn đến sự biến đổi đó?
- Lượng biến đổi nhanh hay chậm? Đạt đến điểm gì thì
làm biến đổi về chất? Cho ví dụ.


13


Xô Viết Nghệ Tĩnh - Đỉnh cao của cao trào cách mạng 1930 – 1931
Đó là quá trình phát triển liên tục về lượng, dẫn đến sự thay đổi về chất.
- Trong học tập của học sinh: Quá trình tích lũy về lượng (tích lũy kiến
thức) phát triển dần đến một thời điểm nhất định, học sinh sẽ đủ kiến thức để
chuyển biến thành chất.
Nhưng một điểm cần lưu ý rằng: Sự biến đổi về lượng dẫn đến sự biến đổi
về chất ở một độ xác định. Nghĩa là, khi lượng biến đổi một điểm nút thì chất
biến đổi.
Ví dụ: Trong điều kiện áp suất bình thường nước ở thể lỏng, nếu ta tăng
dần nhiệt độ lên đến 1000C nước mới sôi. Tương tự, chỉ khi ta hạ nhiệt độ xuống
00C nước mới đông đặc.
Một cuộc cách mạng cũng vậy, qua quá trình vận động quần chúng, taappj
hợp lực lượng, định ra đường lối cách mạng, tiến hành cuộc đấu tranh từ thấp
đến cao, đến một độ nào đó cách mạng sẽ thắng lợi.
Hoặc ta trở lại ví dụ về hình hình hành: Nếu chúng ta tăng chiều dài cạnh a
nhưng phải đúng 15cm, hoặc giảm cạnh b xuống nhưng phải đúng 10cm thì hình
bình hành mới trở thành hình thoi.
* GV yêu cầu HS liên hệ với bản thân: Các em muốn học giỏi thì phải cố
gắng. Nhưng không phải cố gắng đến một độ bất kỳ nào cũng học giỏi. Mà phải
cố gắng đúng độ cần thiết có thể trở thành học sinh giỏi.
b) Chất mới ra đời lại bao hàm một lượng mới tương ứng:
* GV nêu ví dụ: Học sinh THPT tích lũy kiến thức thi đỗ vào Đại học trở
thành sinh viên. Chất mới (sinh viên) kéo theo lượng mới về số lượng, kiến
thức, về ngoại ngữ, về năng lực tư duy, phân tích tổng hợp và khả năng ứng
dụng ...
Hoặc: Khi cách mạng thắng lợi, chế độ mới tiến bộ ra đời thay thế cho chế

phải có lượng đổi, thay thế sự vật cũ. Đây là
lượng đổi( sự tích lũy điểm nút trong quá trình vận
về lượng) là điều kiện động liên tục của sự vật và
tất yếu của chất đổi.
hiện tượng.
* HS lấy ví dụ...
* GV yêu cầu HS liên hệ với bản thân: Trong cuộc sống các em phải kiên
trì, tích lũy về lượng, chủ động tạo điểu kiện cho sự biến đổi về chất.
Tục ngữ có câu:
“Tích tiểu thành đại"
"Năng nhặt chặt bị"
"Có công màu sắt có ngày nên kim"
(Tục ngữ ca dao Việt Nam, NXB Giáo dục, 1999 - tái bản lần thứ 5)
Vì thế, trong học phải cố gắng liên tục, bền bỉ, nếu có tư tưởng nôn nóng,
muốn đốt cháy giai đoạn là trái với quy luật.
Bài 6: Khuynh hướng phát triển của sự vật và hiện tượng.
Mục tiêu: HS nêu được khái niệm phủ định, phủ định biện chứng và phủ
định siêu hình; Biết được phát triển là khuynh hướng chung của sự vật và biện
chứng.
Lồng ghép kiến thức các môn: Địa lí, Sinh học, Hóa học, Lịch sử.
Phương pháp dạy học: Vấn đáp tìm tòi; Trực quan sinh động; Hoạt động
nhóm.
Cách tổ chức:
Khi giảng mục 1: Phủ định biện chứng và phủ định siêu hình
* GV cho HS thảo luận nhóm:
Nhóm 1. Các hình ảnh sau nói lên những hoạt động gì của con người?
Những hoạt động này có làm sự vật đó bị xóa bỏ không?
(Phụ lục 13)

15

* GV hỏi: Phát triển là gì?
* HS trả lời: Phát triển là một quá trình cái cũ mất đi, cái mới ra đời thay
thế cái cũ, là một quá trình phủ định. Đối với mọi sự vật, hiện tượng trong tự
nhiên, trong xã hội, trong ý thức, những sự phủ định như vậy nhất thiết phải xảy
ra.
* GV hỏi: Khuynh hướng phát triển của sự vật và hiện tượng là gì?
* HS trả lời: Mỗi loại sự vật, hiện tượng đều có hình thức phủ định đặc
trưng của nó.
* GV nêu ví dụ làm rõ nội dung kiến thức: Bằng những phản ứng hóa học
giáo viên chứng minh cho hình thức phủ định của giới tự nhiên vô cơ: Từ phân
tử hiđrô (chất khí) tác dụng với phân tử Ô xy (chất khí) tạo thành phân tử nước
(chất lỏng).
2 H2 + O2 = 2H2O
(Hóa học 8)
Ta cho axít Clohiđric tác dụng với Natri hyđrôxít (bazơ) sẽ thu được chất
mới làm được Natri clorua (có khả năng trung tính) và nước:
HCl+ NaOH = NaCl + H2O
Chất mới ra đời trên cơ sở chất cũ, nó thay thế chất cũ. Đó chính là quá
trình phủ định.
* GV sử dụng kiến thức môn Lịch sử chứng minh cho quy luật phủ định:
Các chế độ xã hội ra đời kế tiếp nhau là một chuỗi những sự phủ định liên tục.
Chế độ chiếm hữu nô lệ ra đời phủ định chế độ Cộng sản nguyên thủy, chế độ
phong kiến ra đời phủ định chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ TBCN ra đời phủ
định chế độ Phong kiến, chế độ Cộng sản chủ nghĩa ra đời sẽ phủ định chế độ
TBCN. Qua những kiến thức trên giáo viên cần thiết phải phân tích, giải thích
cho học sinh hiểu rõ: Sự phủ định ở đây không phải là sự phủ định một cách
sạch trơn mà là phủ định biện chứng: Cái mới ra đời có kế thừa,, có chọn lọc cái
cũ, cái mới ra đời trên cơ sở cái cũ, tiếp thu những cái tinh hoa, những yếu tố
tích cực của cái cũ. Mặt khác, phủ định gạt bỏ những cái lạc hậu, cái không cần
thiết cho sự phát triển: Sự phủ định đó diễn ra một cách khách quan.

23,1
5
12,8
10A7
39
29
74,4
8
20,5
2
5,1
10A9
43
30
69,8
10
23,3
3
6,9
10A10
43
32
74,4
8
18,7
3
6,9
Tổng
211
143 67,8

học của học sinh cả ở trong và ngoài lớp học; vì vậy giáo viên các bộ môn liên
quan có điều kiện và chủ động hơn trong sự phối hợp, hỗ trợ nhau trong dạy
học.
Như vậy, dạy học theo các chủ đề liên môn không những giảm tải cho giáo
viên trong việc dạy các kiến thức liên môn ở môn học của mình mà còn có tác
dụng bồi dưỡng, nâng cao kiến thức và kĩ năng sư phạm, phát triển đội ngũ giáo
viên bộ môn hiện nay thành đội ngũ giáo viên có đủ năng lực dạy học kiến thức
liên môn, tích hợp.
3.2. Kiến nghị
- Với nhà trường: thường xuyên tổ chức các chuyên đề dạy học tích hợp
liên môn. Triển khai thêm các chuyên đề soạn giảng và sử dụng một số phần
mềm dạy học.
- Đối với Sở GD & ĐT: Cần trang bị cho giáo viên thêm tài liệu tham khảo
cần thiết, đặc biệt là tài liệu tích hợp liên môn để bổ sung, hỗ trợ cho giáo viên
trong quá trình giảng dạy. Với những sáng kiến kinh nghiệm mang tính thực tiễn
cao nên phổ biến để cho giáo viên được học tập và vận dụng.
Trên đây là đề tài dạy học theo chủ đề dưới dạng sáng kiến kinh nghiệm
"Tích hợp kiến thức liên môn nhằm phát huy năng lực cho học sinh trong
môn GDCD lớp 10 (phần công dân với việc hình thành thế giới quan, phương
pháp luận khoa học)”. Mặc dù đã có nhiều cố gắng song không thể tránh khỏi
18


những hạn chế và thiếu sót, rất mong được sự đóng góp của các cấp lãnh đạo,
quý thầy, cô giáo để đề tài được tốt hơn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG Thanh Hóa, ngày 25 tháng 5 năm 2018
ĐƠN VỊ
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của


Nhờ phân tích các yếu tố của đất nên ta mới biết được tính chất của các loại
đất để đưa ra giống cây trồng hợp lí đối với từng loại đất. Từ đó giúp học sinh
hiểu rõ thêm về vai trò của thực tiễn là cơ sở của nhận thức.
* Đối với môn Vật lí:
Qua định luật về "Sức cản của không khí" do nhà bác học Ga-li-lê phát
minh ra, giúp học sinh hiểu rõ thêm về vai trò của thực tiễn là tiêu chuẩn của
chân lí.
2. Kỹ năng
- Tìm kiếm và xử lí thông tin, phân tích, hợp tác, trình bày suy nghĩ.
- Vận dụng những kiến thức về nhận thức, về thực tiễn vào đời sống xã hội
phù hợp với lứa tuổi.
- Thu thập thông tin, phân tích, khái quát.
- Kĩ năng tự nghiên cứu và hoạt động nhóm.
- Giúp các em rèn khả năng tư duy, thảo luận nhóm, thu thập thông tin,
phân tích các kênh hình, kênh chữ, liên hệ thực tế.
- Biết vận dụng kiến thức liên môn trong giải quyết vấn đề.
3. Thái độ
- Luôn coi trọng vai trò của thực tiễn đối với nhận thức và đời sống xã hội.
- Có ý thức tham gia các hoạt động thực tiễn, tránh lý thuyết suông mà
không thực hành.
- Hợp tác tốt và linh hoạt trong các hoạt động vận dụng kiến thức liên môn
trong việc lĩnh hội kiến thức.
II. CÁC NĂNG LỰC HƯỚNG TỚI HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN Ở HỌC
SINH

Năng lực nhận thức các vấn đề , năng lực tư duy phê phán, năng lực giải
quyết vấn đề, năng lực hợp tác, năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền
thông.
Đồng thời rèn luyện kĩ năng hợp tác trình bày suy nghĩ trong thảo luận; tư

ngữ trên. Vì vậy thực tiễn có vai trò rất quan trọng đối với nhận thức. Để hiểu rõ vai
trò của nó như thế nào chúng ta sẽ tìm hiểu sang tiết 2 bài 7:
Hoạt động cơ bản của giáo viên và
Nội dung bài học
học sinh
Hoạt động 1. Tìm hiểu về vai trò của 3. Vai trò của thực tiễn đối với nhận
thực tiễn đối với nhận thức
thức
(Sử dụng phương pháp:thảo luận,nêu
vấn đề,đóng vai,kĩ thuật khăn phủ
bàn...
Rèn luyện kỹ năng: Hợp tác trình bày
suy nghĩ trong thảo luận)
- GV: chia lớp thành 4 nhóm, yêu cầu
thảo luận nhóm tìm hiểu vai trò của a. Thực tiễn là cơ sở của nhận thức
thực tiễn.
- Vì: Mọi nhận thức của con người đều
Nhóm 1: Tại sao nói thực tiễn là cơ sở bắt nguồn từ thực tiễn. Nhờ tiếp xúc
của nhận thức. Cho ví dụ ?
của các cơ quan cảm giác và hoạt
Nhóm 2: Tại sao nói thực tiễn là động động của bộ não, con người phát hiện
lực của nhận thức. Cho ví dụ?
ra các thuộc tính, hiểu được bản chất
Nhóm 3: Tại sao nói thực tiễn là mục các sự vật, hiện tượng.
đích của nhận thức. Cho ví dụ?
Nhóm 4: Tại sao nói thực tiễn là tiêu
chuẩn của chân lý. Cho ví dụ?
- HS hoạt động nhóm.
* GV sử dụng kỹ thuật khăn phủ bàn
Các nhóm học sinh thảo luận, chuẩn

của con người phát triển hơn, hoàn
thiện hơn. Nhờ đó con người càng có
khả năng nhận thức sâu sắc, đầy đủ
hơn về sự vật hiện tượng.

GV hỏi: Tại sao vượn lại tiến hóa
thành người?
HS: Trả lời
(đó cũng chính là nhờ vào hoạt động
thực tiễn săn bắn, hái lượm --> con
người tiến hóa dần đi bằng 2 chân và
lao động bằng 2 tay, các giác quan
hoàn thiện).
* GV yêu cầu đại diện nhóm 2 trình
bày, nhóm khác nhận xét bổ sung.
HS: Trả lời.
* GV vận dụng kiến thức:
- Sinh học: Trong sản xuất nông

b. Thực tiễn là động lực của nhận
thức
- Vì: Trong hoạt động thực tiễn luôn
đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ cho nhận
22


nghiệp
thức phát triển.
Trước đây 50 kg thóc/1 sào ruộng
Ngày nay >3 tạ thóc/ 1 sào ruộng

c. Thực tiễn là mục đích của nhận
thức
- Vì: Các tri thức khoa học chỉ có giá
* GV yêu cầu đại diện nhóm 3 trình trị khi được ứng dụng trong hoạt động
bày, nhóm khác nhận xét bổ sung.
thực tiễn tạo ra của cải cho xã hội.
* HS đại diện nhóm 3 trình bày.
Ví dụ: Ứng dụng các phát minh khoa
* GV vận dụng kiến thức Văn học lớp học: công nghệ điện tử, công nghệ
11 tác phẩm Chí Phèo (Nam Cao).
sinh học…
* GV cho học sinh diễn cảnh Chí Phèo
– Thị Nở (Đoạn Thị Nở nấu cháo cho
Chí Phèo ăn): Cho HS đóng cảnh Thị
Nở-Chí Phèo (thay cho clip trên).
GV hỏi: Vì sao Thị Nở lại nấu cháo
hành cho Chí Phèo ăn khi Chí Phèo
đang say rượu?
24


HS: Qua tình huống đóng vai Chí
Phèo – Thị Nở HS trả lời.
(kinh nghiệm ăn cháo hành để giải
cảm rượu).
- Hay trong lao động sản xuất ông cha
ta đã đúc rút kinh nghiệm:
" Nhất nước nhì phân tam cần tứ
giống"
" Tháng giêng là tháng trồng khoai"

con người.

d. Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân

- Chân lí: là những tri thức đúng đắn
phù hợp với quy luật khách quan.
- Vì: Chỉ có đem những tri thức đã thu
nhận được qua nhận thức đối chiếu với
thực tiễn để kiểm tra, kiểm nghiệm
mới khẳng định được tính đúng đắn
của nó.

Vậy: Thực tiễn không những là cơ sở,
→ Câu chuyện này cho thấy: Chỉ có là động lực, là mục đích của nhận
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status