SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT YÊN ĐỊNH 3
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
VẬN DỤNG TÍCH HỢP LIÊN MÔN ĐỂ NÂNG CAO
HIỆU QUẢ GIẢNG DẠY VĂN BẢN “PHÚ SÔNG BẠCH
ĐẰNG” CỦA TRƯƠNG HÁN SIÊU
Người thực hiên: Lưu Thị Tâm
Chức vụ: Tổ trưởng chuyên môn
SKKN thuộc môn: Ngữ văn
THANH HOÁ NĂM : 2018
MỤC LỤC
Trang
1. MỞ ĐẦU……………………………………………………………………...1
- Lí do chọn đề tài……………………………………………………………....1
- Mục đích nghiên cứu……………………………………………………….....2
- Đối tượng nghiên cứu………………………………………………………....2
- Phương pháp nghiên cứu……………………………………………………..2
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM………………………………..2
2.1. Cơ sở lí luận………………………………………………………………..2
2.1.1. Khái niệm tích hợp............……………………………………………......2
2.1.2. Quan điểm vận dụng tích hợp vào dạy học Ngữ văn ở trường THPT.........3
2.2. Cơ sở của việc dạy học bộ môn...………………………………………….4
2.3. Cơ sở của việc nắm kiến thức, kĩ năng.......................................................4
2.4. Thực trạng của vấn đề.................................................................................4
biết rộng, người thầy phải thường xuyên theo dõi những xu hướng, những định
hướng của môn mình phụ trách. Đồng thời phải tự học, tự bồi dưỡng để cung
cấp cho học sinh những kiến thức chuẩn xác và liên hệ được nhiều kiến thức cũ
và mới, giữa bộ môn khoa học này với bộ môn khoa học khác.
Dạy học liên môn trong môn Ngữ văn là giúp người học nhận thức được
tác phẩm văn học trong môi trường văn hóa - lịch sử sản sinh ra nó hay trong
môi trường diễn xướng của nó; thấy được mối quan hệ mật thiết giữa văn học và
lịch sử phát sinh; văn học với các hình thái ý thức xã hội khác đồng thời khắc
phục được tính tản mạn trong kiến thức văn hóa của học sinh.
Vì thế, trong quá trình dạy học, tôi nhận thấy việc tham khảo tài liệu từ
các lĩnh vực khác có vai trò quan trọng trong việc khôi phục, tái hiện hình ảnh
quá khứ tài liệu tham khảo giúp người học xây dựng được tầm“đón nhận phù
hợp với văn bản”
Ngoài ra, việc sử dụng tài liệu liên môn còn giúp người học có thêm cơ sở
để hiểu rõ quy luật phát triển của văn học, hình thành củng cố nhiều phương
pháp nghiên cứu văn học. Tài liệu tham khảo về lịch sử văn hóa là phương tiện
có hiệu quả để giúp giáo viên làm rõ nội dung sách giáo khoa kích thích sự hứng
thú học tập của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Ngữ văn.
Là một giáo viên dạy môn Ngữ văn ở trường THPT, tôi luôn trăn trở với
câu hỏi:
Phải làm thế nào để học sinh hiểu rõ ràng, cụ thể những giá trị nội dung,
nghệ thuật, tư tưởng của một tác phẩm văn học? Phải tích hợp như thế nào cho
phù hợp mà ở đó học sinh vừa phải hiểu được nội dung nghệ thuật vừa phải nắm
được kiến thức của các bộ môn có liên quan? Làm cách nào để học sinh hiểu và
đánh giá chính xác quan điểm tư tưởng của tác giả là điều không dễ.
1
Tôi đã thử nhiều giải pháp, mỗi giải pháp đem lại thành công nhất định.Vì
thế qua mỗi lần thử nghiệm, tôi đã tự điều chỉnh và tự hoàn thiện dần phương
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận
2.1.1. Khái niệm tích hợp
Tích hợp (integration) có nghĩa là sự hợp nhất, sự hoà nhập, sự kết hợp.
Nội hàm khoa học khái niệm tích hợp có thể hiểu một cách khái quát là sự hợp
nhất hay là sự nhất thể hoá đưa tới một đối tượng mới như là một thể thống nhất
trên những nét bản chất nhất của các thành phần đối tượng, chứ không phải là
một phép cộng giản đơn những thuộc tính của các thành phần ấy. Hiểu như vậy,
tích hợp có hai tính chất cơ bản, liên hệ mật thiết với nhau, quy định lẫn nhau, là
tính liên kết và tính toàn vẹn. Liên kết phải tạo thành một thực thể toàn vẹn,
không còn sự phân chia giữa các thành phần kết hợp. Tính toàn vẹn dựa trên sự
thống nhất nội tại các thành phần liên kết, chứ không phải sự sắp đặt các thành
2
phần bên cạnh nhau. Không thể gọi là tích hợp nếu các tri thức, kĩ năng chỉ được
thụ đắc, tác động một cách riêng rẽ, không có sự liên kết, phối hợp với nhau
trong lĩnh hội nội dung hay giải quyết một vấn đề, tình huống.
Trong lí luận dạy học, tích hợp được hiểu là sự kết hợp một cách hữu cơ,
có hệ thống, ở những mức độ khác nhau, các kiến thức, kĩ năng thuộc các môn
học khác nhau hoặc các hợp phần của bộ môn thành một nội dung thống nhất,
dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập đến trong các
môn học hoặc các hợp phần của bộ môn đó. Trong Chương trình THPT, môn
Ngữ văn, năm 2002 của Bộ GD&ĐT, khái niệm tích hợp cũng được hiểu là “sự
phối hợp các tri thức gần gũi, có quan hệ mật thiết với nhau trong thực tiễn, để
chúng hỗ trợ và tác động vào nhau, phối hợp với nhau nhằm tạo nên kết quả
tổng hợp nhanh chóng và vững chắc.” (tr. 27)
Trên thế giới, tích hợp đã trở thành một trào lưu sư phạm hiện đại, nó
góp phần hình thành ở học sinh những năng lực rõ ràng, có dự tính những hoạt
động tích hợp, trong đó học sinh học cách sử dụng phối hợp kiến thức, kỹ năng;
2.2.Cơ sở của việc dạy học bộ môn:
Dạy học là một tác động hai chiều giữa giáo viên và học sinh, trong đó học
sinh là chủ thể của quá trình nhận thức, còn giáo viên là người tổ chức các hoạt
động nhận thức cho học sinh. Nếu giáo viên có phương pháp tốt thì học sinh sẽ
nắm kiến thức dễ dàng và ngược lại.
2.3.Cơ sở của việc nắm kiến thức, kĩ năng
- Về mặt kiến thức: Học sinh phải nắm được các đơn vị kiến thức cơ bản
trong sách giáo khoa, trong giờ giảng văn. Đó là nền tảng cơ bản để các em phát
triển tư duy, nâng cao năng lực cảm thụ văn học.
- Về kĩ năng: Học sinh biết vân dụng kiến thức các bộ môn liên quan để
cảm thụ tác phẩm văn học từ đơn giản đến phức tạp, từ tái hiện kiến thức đến
vận dụng kiến thức.
2.4. Thực trạng của vấn đề
- Về phía giáo viên: giáo viên lúng túng trong việc tạo hứng thú học tập
cho học sinh, một số GV ngại soạn giáo án tích hợp liên môn do mất nhiều thời
gian tìm hiểu tài liệu liên quan.
- Về phía học sinh: Thực tế cho thấy, học sinh hiện nay ít mặn mà với các
môn xã hội, trong đó có môn văn nguyên nhân một phần do xu thế xã hội. Các
em học văn chỉ với tính chất đối phó, ít em có năng khiếu thực sự.
2.5. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
2.5.1. Cách thức tiến hành đề tài
+ Khảo sát đối tượng học sinh trước và sau tác động của đề tài: Tôi lựa
chọn khảo sát ở hai lớp 10C1, 10C2: Đây là hai lớp có mặt bằng chung trong lớp
không đồng đều, một số em học khá nhưng cũng có một số em lực học hạn chế,
ý thức chưa cao.
+ Tổ chức phân loại đối tượng học sinh, đặc biệt chú ý đến đối tượng có lực
học còn yếu.
+ Thường xuyên tổ chức kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm cho học sinh.
+ Xây dựng thiết kế lên lớp theo tinh thần ứng dụng những nghiên cứu lý
luận.
- Thấy được những đặc trưng cơ bản của thể phú về các mặt kết cấu, hình tượng
nghệ thuật, lời văn.
2. Kĩ năng
- Có kĩ năng đọc hiểu bài phú cụ thể theo đặc trưng thể loại
3. Thái độ
- Qua bài học, học sinh có ý thức phát huy truyền thống yêu nước của dân tộc,
tinh thần yêu chuộng hòa bình và luôn có thái độ, trách nhiệm xây dựng và bảo
về Đất nước trong mọi thời đại.
- Giáo dục bồi dưỡng thức dân tộc, trân trọng di sản văn hóa của cha ông
4. Định hướng góp phần hình thành năng lực
- Năng lực hợp tác, năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, năng
lực tự học, năng lực giao tiếp tiếng Việt, năng lực thưởng thức văn học/ cảm thụ
thẩm mỹ…
B-CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH
GV: SGK, SGV Ngữ văn 10, tài liệu tham khảo, thiết kế bài giảng, máy tính,
máy chiếu.
HS: SGK, vở soạn, tài liệu tham khảo, học bài cũ, xem trước bài mới.
C- PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN
- Phương pháp trực quan: Quan sát tranh, xem video
- Sử dụng kỹ thuật dạy học: Hoạt động nhóm
- Gv kết hợp phương pháp đọc sáng tạo, đối thoại, trao đổi, nêu vấn đề, thảo
luận, tích hợp
D- TIẾN TRÌNH DẠY HỌC:
Hoạt động 1: Khởi động (GV tích hợp với bộ môn Lịch sử, Địa lí)
GV chia lớp học thành 4 nhóm tham gia trò chơi: Tìm hiểu về những
chiến công trên sông Bạch Đằng.
5
- Ngô Quyền nhanh chóng tiến quân vào thành Đại La, bắt giết Kiều Công Tiễn
và dùng kế đóng cọc ở sông Bạch Đằng, cho quân mai phục ở hai bên bờ sông.
Khi thủy triều lên, ông cho một toán quân ra khiêu chiến, giả vờ thua, nhử quân
Hán vào bên trong bãi cọc. Vừa lúc nước triều rút, cọc nhô lên, quân ta đổ ra
đánh. Thuyền giặc vướng cọc lại bị đánh bất ngờ từ nhiều phía, tan vỡ, tướng
giặc Hoằng Thao bị tiêu diệt.
Trận Bạch Đằng năm 938
- Trận thắng lớn ở sông Bạch Đằng năm 938 có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối
với lịch sử Việt Nam, nó đã giúp chấm dứt 1000 năm Bắc thuộc trong lịch sử
Việt Nam, mở ra một thời kỳ độc lập tự chủ cho Việt Nam.
2. Chiến tranh chống Tống năm 981: Cuộc kháng chiến chống quân Tống lần 1
diễn ra từ tháng 1- 4/981 của quân dân nhà Tiền Lê (Đại Cồ Việt) chống lại
cuộc xâm lược của nhà Tống (Trung Quốc), giữ vững nền độc lập, tự chủ,
thể hiện chủ quyền quốc gia của dân tộc ta.
- Nhà Tống lấy cớ Lê Hoàn tự xưng Đế, đổi niên hiệu, đầu năm 981, quân
Tống đem 4 vạn quân sang xâm lược nước ta.
7
Sơ đồ cuộc kháng chiến chống Tống lần 1 (981).
- Phân tích các tin tình báo đưa về, Lê Hoàn quyết đánh địch trên cả hai tuyến thủy, bộ, phá
tan âm mưu phối hợp hai đoàn quân thủy, bộ của chúng. Ông đã bố trí lực lượng dọc theo
tuyến sông Bạch Đằng, sông Kinh Thầy kéo dài cho đến vùng Lục Đầu Giang (thuộc địa phận
tỉnh Thái Bình ngày nay, nơi hợp lưu 6 con sông lớn ở miền Bắc gồm sông Cầu, sông
Thương, sông Lục Nam, sông Đuống, sông Kinh Thầy và nhánh chính sông Thái Bình).
Trong đó, lực lượng tập trung cao nhất là ở vùng cửa biển Bạch Đằng – nơi đoàn thuyền chiến
của địch vừa mới tiến vào vùng Lục Đầu Giang – nơi hợp quân của hai đoàn quân thủy, bộ
của quân Tống. Những cọc đóng trên sông Bạch Đằng gây cho địch rất nhiều trở ngại. Cuộc
chiến kéo dài suốt 2 tháng từ tháng 2 đến tháng 4 năm 981. Đại quân Tống bị đánh tan, vua
Hoạt động 2: Hình thành kiến thức
Hoạt động của giáo viên và học sinh
Nội dung cần đạt
I. Tìm hiểu chung:
I. Tìm hiểu chung:
1. Tác giả Trương Hán Siêu
1. Tác giả Trương Hán Siêu
HS đọc phần tiểu dẫn SGK
- Trương Hán Siêu (?- 1354) tự là
? Dựa vào phần tiểu dẫn, hãy nêu những Thăng Phủ, người làng Phúc Thành,
nét chính về tác giả Trương Hán Siêu ?
huyện Yên Ninh (Ninh Bình).
- HS dựa vào SGK trả lời, GV bổ sung - Là người có học vấn uyên thâm,
một số nét về tác giả (Tích hợp với lịch từng tham gia các cuộc chiến đấu
sử):
của quân dân nhà
- Đương thời Trương Hán Siêu là một Trần chống quân Mông Nguyên,
nhân vật nổi tiếng. Ông được Trần Hưng được các vua Trần tin cậy và nhân
Đạo lấy làm “môn khách” trong dinh. dân kính trọng.
Ông từng tham gia cuộc kháng chiến
chống quân Mông – Nguyên lần thứ
hai (1285) và lần thứ ba (1287- 1288)
với cương vị là thư nhi (một chức quan
9
gần như thư kí riêng) của Trần Hưng
Đạo. Kháng chiến thắng lợi, ông được
Trần Hưng Đạo tiến cử vào triều đình
lần lượt giữ các chức Hàn Lâm học sỹ,
II. Đọc hiểu văn bản:
- GV hướng dẫn HS đọc văn bản
- Dựa vào phần tiểu dẫn, em hãy chia
cấu trúc bài phú ?
Giáo viên khái quát lại:
+ Đoạn 1: Từ đầu đến “luống còn lưu”:
Cảm xúc của “khách” trước cảnh sông
Bạch Đằng.
+ Đoạn 2: Từ “Bên sông bô lão” đến
“nghìn xưa ca ngợi”: Các bô lão kể lại
2. Thể phú
- Có nguồn gốc từ Trung Quốc được
du nhập vào Việt Nam. Nó là thể
văn có vần hoặc xen lẫn văn vần và
văn xuôi, dùng để tả cảnh vật,
phong tục, kể sự việc, bàn chuyện
đời…
- Kết cấu: 4 đoạn (đoạn mở, đoạn
giải thích, đoạn bình luận, đoạn kết).
- Có hai loại phú:
phú cổ thể và phú cận thể.
- Bài “Phú sông Bạch Đằng”: thuộc
loại phú cổ thể.
II. Đọc hiểu văn bản:
10
các chiến tích trên dòng sông Bạch
chủ yếu bằng sách vở, bằng trí
tưởng tượng. Những địa danh của
Việt Nam: cửa Đại Than, bến Đông
Triều, sông Bạch Đằng. Địa danh
cụ thể, là những hình ảnh thật, đang
hiện ra trước mắt.
- Hình ảnh thời gian: sớm ở Nguyên
Tương, chiều thăm Vũ Huyệt. Thời
gian thiên nhiên vũ trụ. Sự thay thế
liên tiếp của không gian chính là sự
hóa thân của thời gian tốc độ.
- Thời gian và không gian có kích
cỡ rộng rãi và thay đổi đến chóng
mặt trong cách nói khoa trương
phóng đại, vốn quen thuộc thường
thấy trong thể phú, tạo nên nhịp
điệu ngân nga, phiêu diêu của lời
văn. Đặc biệt là các tính từ miêu tả:
chơi vơi, mải miết, tha thiết, tiêu
dao, thướt tha…được sử dụng với
tần suất dày đã mở ra một không
? Không gian và thời gian nghệ thuật ấy gian tung hoành cho “khách”. ->
hé mở cho ta biết điều gì về nhân vật Không gian nghệ thuật bốn phương,
“khách”?
mênh mông, bát ngát, thơ mộng và
- Học sinh trả lời.
tràn ngập ánh trăng.
- Giáo viên tóm tắt, bổ sung
- Nhân vật “khách”: xuất hiện
11
người đời Trần vì nước mà ngã xuống
đã đành. Ở đây Trương Hán Siêu thương
cho cả những kẻ là nạn nhân của nhà
nước phong kiến phương Bắc. Cảm xúc
đầy nhân văn ấy dường như bắt nguồn
từ một nơi nào đó rất sâu trong cõi tâm
hồn của tác giả. Cho nên lời phú vang
lên như một lời cảm khái “Thương nỗi
anh hùng đâu vắng tá/ Tiếc thay dấu vết
luống còn lưu!”(Phú sông Bạch Đằng).
Ở thời khắc thay đổi đột ngột giữa hai
cực của một tâm trạng trong lòng nhân
vật “khách”, thời gian như dừng lại, chỉ
có người nghệ sĩ với tấm lòng nhân ái
nhìn thấu vào trái tim mình và gọi tên
những cảm xúc đang dâng lên nghẹn
trong tư thế chủ động, ngang dọc,
tung hoành. Sử dụng một loạt các
động từ chỉ hoạt động: giương,
lướt, chơi, lần thăm, chứa, buông
chèo… cho thấy con người làm chủ
không gian bốn phương và thời gian
vũ trụ. “Khách” là người có tâm hồn
thơ mộng, phóng túng, yêu thiên
nhiên, thích dungoạn, đầy chí khí,
hoài bão lớn lao.
- Đến sông Bạch Đằng: Cảnh sắc
trên sông “Bát ngát sóng kình muôn
dặm/ Thướt tha đuôi trĩ một màu/
- Học sinh trả lời
- GV chốt vấn đề
? Các bô lão đã kể cho “khách” về
những chiến trận nào trên sông Bạch
Đằng ? Không khí chiến trận ấy được
tác giả làm sống dậy bằng các biện pháp
nghệ thuật nào?
- Học sinh trả lời.
- Giáo viên nhận xét, khái quát
- Video về đại chiến Bạch Đằng (Tích
hợp với lịch sử)
- Giáo viên bình: Bạch Đằng chiến
trận được xem là một Xích Bích thứ hai
trong lịch sử từng khiến Tào Tháo phải
thất điên bát đảo, còn được sánh với trận
Hợp Phì 100 vạn quân của Bồ Kiên bị
thiêu đốt thành tro. Chiến thắng lớn lao
và oai hùng đến nỗi, nước sông chảy
đêm ngày ra biển Đông cũng không sao
rửa hết nỗi nhục cho kẻ thù còn ghim lại
muôn đời trong sử sách. Bạch Đằng của
buổi Trùng Hưng nhị Thánh bắt Ô Mã
khiến cho bao nhiêu năm sau các nhà
thơ đi qua đó vẫn còn chung cảm giác
nước sông còn in máu đỏ: “Ánh nước
chiều hôm màu đỏ khé/ Tưởng rằng
máu giặc vẫn chưa khô.” (Trần Minh
Tông – Bạch Đằng giang). Trong “Đại
Nam quốc sử diễn ca” cũng ghi lại:
“Bạch Đằng một cõi chiến tràng/
đẩy cả người kể và người nghe vào
trạng thái hồi hộp chờ đợi, cả tin
tưởng lẫn âu lo.
- Thủ pháp đối lập được vận dụng
triệt để: đó là sự đối lập căng thẳng
của chiến tuyến ta >< địch. Kết hợp
câu văn dài ngắn khác nhau phù hợp
với tâm trạng và diễn biến trận đánh
Những câu văn ngắn gọn, sắc bén
dựng lên khung cảnh chiến trận
căng thẳng, gấp gáp:“Thuyền bè
muôn đội, tinh kì phấp phới / Hùng
hổ sáu quân, giáo gươm sáng chói.”;
Những câu văn dài gợi không khí
trang nghiêm dõng dạc:
“Đây là chiến địa buổi Trùng Hưng
nhị thánh bắt Ô Mã,/ Cũng là bãi đất
xưa, thưở trước Ngô chúa phá
Hoằng Thao”. Sử dụng hình ảnh
13
còn hồng.” (Giang Văn Minh). Cuộc
chiến Bạch Đằng trong con mắt của
người trong cuộc được xem như là một
cuộc sinh nở vĩ đại mang tầm vóc vũ trụ
để sáng tạo ra một lần nữa dải đất Việt
thân yêu này: “Tái tạo công lao, nghìn
đời ca ngợi”. Tất cả như còn hừng hực,
như còn vang đâu đây ngay trước mắt
- Các cuộc chiến tranh, rốt cuộc ta đều
thắng, một trong các lý do là:
+Chúng ta biết lấy nhỏ chống lớn, lấy ít
địch nhiều, lấy chất lượng cao thắng số
lượng đông, biết phát huy sức mạnh
khoa trương, phóng đại: “giáo gươm
sáng chói”, “Ánh nhật nguyệt chừ
phải mờ/ Bầu trời đất chừ sắp đổi” –
nét nổi bật của thi pháp phú.
- Kết quả là: chính nghĩa chiến
thắng, giặc “hung đồ hết lối”, chuốc
nhục muôn đời: “Đến nay nước
sông tuy chảy hoài/ Mà nhục quân
thù khuôn rửa nổi.”
- Thái độ, giọng điệu của các bô lão
đầy nhiệt huyết, tự hào. Lời kể súc
tích, cô đọng, khái quát nhưng gợi
lại không khí của trận đánh hết sức
sinh động.
3. Đoạn 3. Suy ngẫm, bình luận
của các bô lão về nguyên nhân
chiến thắng trên sông Bạch Đằng.
- Nguyên nhân thắng lợi: thời thế
thuận lợi (thiên thời): “trời cũng
chiều người”. Địa thế núi sông (địa
lợi): “trời đất cho nơi hiểm trở”.
Nhưng điều quyết định là: ta có
“nhân tài giữ cuộc diện an”; “Kìa
trận Bạch Đằng mà đại thắng/ Bởi
trị của các nước lớn
4. Đoạn 4. Tác giả khẳng định, đề cao
vai trò, đức độ của con người.
- Giáo viên: nêu ý nghĩa nội dung của
lời ca mà các bô lão hát trên dòng sông
Bạch Đằng ?
- Học sinh trả lời.
- Giáo viên tổng hợp
- Video về cuộc đời của Trần Hưng
Đạo.
- Giáo viên: theo em, bài ca của
“khách” đã bổ sung gì cho ý kiến của
các bô lão?
- Học sinh trả lời.
- Giáo viên tổng hợp
- Giáo viên bình: lời tổng kết của
“khách” có ýnghĩa bổ sung thêm và phổ
nhạc cho chân lý bất tử được các bô lão
đưa ra. Lời ca ấy hát lên cùng dòng sông
lịch sử, bài ca về những con người làm
nên thời đại anh hùng được kết tinh ở
hai vị Thánh quân. Đó cũng là niềm khát
khao cháy bỏng của “khách” về hai
tiếng hòa bình “Giặc tan muôn thưở
thanh bình”. Và cái gốc của sự thanh
bình ấy, “khách” thiết tha muốn nhấn đi
nhấn lại với hậu thế chính ở hai tiếng kỳ
4. Đoạn 4. Tác giả khẳng định, đề
cao vai trò, đức độ của con người.
diệu Con Người, hơn nữa là Con Người Bạch đằng trong hiện tại.
có Đức cao. Tư tưởng triết lý về “đức 2. Nghệ thuật:
cao” từ “Bạch Đằng giang phú” của - Cấu tứ: đơn giản mà hấp dẫn.
Trương Hán Siêu rồi đây sẽ trở thành - Bố cục: chặt chẽ.
lập luận đanh thép về “nhân nghĩa” - Hình tượng nghệ thuật: sinh động,
trong “Đại cáo bình Ngô”của Nguyễn vừa gợi hình sắc trực tiếp vừa mang
Trãi ở thế kỷ XV. Đặt niềm tin ở con ý nghĩa khái quát, triết lí.
người trong xu thế vận động của lịch sử, - Ngôn ngữ: trang trọng, hào sảng
điều đó đã góp phần giải hóa tâm lí hoài vừa lắng đọng, gợi cảm.
cổ của bài phú, làm cho nó được cân " Bài phú là đỉnh cao nghệ thuật của
bằng, bâng khuâng man mác chứ không thể phú trong VHTĐVN.
sầu thảm bi lụy.
Hoạt động 3: Củng cố và dặn dò
- Nắm được đặc trưng cơ bản của thể phú qua tìm hiểu một tác phẩm cụ thể.
- Nắm được giá trị, ý nghĩa của bài phú.
- Bài học lịch sử và ý nghĩa của bài học đó đối với thế hệ hôm nay
- Bồi dưỡng lòng yêu nước, tự hào dân tộc và ý thức trách nhiệm của thế hệ trẻ
đối với đất nước
Hoạt động 4: Luyện tập
- Học và hoàn thành BT.
Bài tập nâng cao:
Trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay đối với việc bảo vệ chủ quyền dân tộc?
Soạn bài: Đại cáo bình Ngô.
* RÚT KINH NGHIỆM
................................................................................................................................
................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.............................................................................................................................
2.6. Hiệu quả của SKKN đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng
Sĩ số
10C4
40
Húng thú học tập
Số lượng
%
15
37,5
Không hứng thú học tâp
Số lượng
%
25
62,5
Lớp thực nghiệm ( bảng 2)
Húng thú học tập
Không hứng thú học tâp
Số lượng
%
Số lượng
%
10C2
42
38
Trung bình
SL
%
20
50
Yếu, kém
SL
%
12
30
Lớp thực nghiệm ( bảng 2)
Lớp
Tổng số Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu, kém
HS
SL
%
SL %
SL
%
SL
%
10C2 42
8
phù hợp với việc đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp thi cử.
- Giúp giáo viên không ngừng tìm tòi, sáng tạo, từ đó nhằm nâng cao trình
độ chuyên môn nghiệp vụ của giáo viên để tránh nguy cơ tụt hậu. Bài soạn
“Bạch Đằng giang phú” theo một cách nhìn nhận mới đã giúp giáo viên ý thức
tự giác hơn về đặc trưng thi pháp thể loại phú, về việc lựa chọn kiến thức liên
môn, lựa chọn kỹ năng và phương pháp khi hướng dẫn học sinh làm việc với tác
phẩm.
- Rèn cho học sinh phương pháp học tập tích cực, chủ động, phải có tinh
thần học tập nghiêm túc, phải biết kết nối kiến thức của các bộ môn có liên quan
để trang bị cho mình một cái nhìn toàn diện trong cảm thụ và đánh giá một tác
phẩm văn học.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
Trong quá trình học tập, giáo viên cần hướng dẫn học sinh vận dụng những
kiến thức, kĩ năng mới học để giải quyết các tình huống có liên quan trong học
tập và cuộc sống hàng ngày; tiếp tục tìm tòi và mở rộng kiến thức thông qua các
nguồn tư liệu, học liệu, khác nhau; tự đặt ra các tình huống có vấn đề nảy sinh từ
nội dung bài học, từ thực tiễn cuộc sống, vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã học
để giải quyết bằng những cách khác nhau.
Muốn có kết quả tốt phải bắt đầu từ người thầy trước. Không có học trò dốt,
chỉ có thầy chưa giỏi. Trong quá trình giảng dạy người thầy phải biết bắt đầu từ
những kỹ năng đơn giản nhất như dạy bài mới như thế nào cho tốt, tích hợp như
thế nào để bồi dưỡng được các kiến thức, kỹ năng…Kiến thức, sự hiểu biết, kinh
nghiệm và tư cách của người thầy có sức lan tỏa lớn đối với học sinh.
Đề tài của tôi không bắt nguồn từ những ý tưởng lớn lao mà xuất phát từ
thực tế mà tôi đã được trải nghiệm trong quá trình ôn tập nhiều năm. Nội dung,
kiến thức của để tài giúp cho học sinh hiểu rộng hơn, học tốt hơn, rèn tốt hơn
những kiến thức cơ bản mà sách giáo khoa đã nêu ra. Vì vậy tôi cũng tin tưởng
rằng: Đề tài của tôi sẽ được áp dụng rộng rãi, nhất là đối tượng học sinh lớp 10.
Tôi mong muốn nhận được sự quan tâm từ phía BGH nhà trường, từ
phía đồng nghiệp, các tổ chức chuyên môn để tôi có thể triển khai đề tài của