TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
TRẦN THỊ PHƢƠNG THẢO
RÈN KỸ NĂNG VIẾT ĐOẠN VĂN
CHO HỌC SINH LỚP 2, 3
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
ThS. GVC. LÊ BÁ MIÊN
HÀ NỘI - 2018
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô trong Khoa Giáo
dục Tiểu học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đặc biệt là sự giúp đỡ tận
tình của Thạc sĩ, giảng viên chính khoa Ngữ Văn, trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2, thầy Lê Bá Miên. Nhân đây, em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu
sắc tới các thầy cô giáo cùng các em học sinh trường Tiểu học Lê Văn Tám,
Thành phố Lào Cai đã giúp đỡ em hoàn thành tốt khóa luận này.
Trong khuôn khổ thời gian có hạn nên khóa luận khó tránh khỏi những hạn
chế, thiếu sót, em rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô giáo cùng
toàn thể các bạn sinh viên để khóa luận của em có thể tiếp tục hoàn thiện
trong quá trình học tập và giảng dạy sau này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 4 năm 2018
Sinh viên thực hiện
2. Cơ sở thực tiễn ............................................................................................ 17
2.1. Chương trình sách giáo khoa ở tiểu học .................................................. 17
2.2. Thực tiễn giảng dạy và học tập ở trường phổ thông. ............................... 19
CHƢƠNG 2: MỘT SỐ KỸ NĂNG GIÚP HỌC SINH LỚP 2, 3 VIẾT
ĐOẠN VĂN ................................................................................................... 26
1. Kỹ năng ....................................................................................................... 26
1.1. Khái niệm kỹ năng ................................................................................... 26
1.2. Phân loại kỹ năng ..................................................................................... 28
1.3. Sự hình thành kỹ năng ở học sinh ............................................................ 29
2. Kỹ năng viết đoạn văn................................................................................. 29
2.1. Kỹ năng xác định chủ đề .......................................................................... 29
2.2. Kỹ năng lập dàn ý .................................................................................... 31
2.3. Kỹ năng tập hợp tư liệu ............................................................................ 33
2.4. Kỹ năng dựng đoạn .................................................................................. 35
2.5. Kỹ năng viết và sửa chữa ......................................................................... 40
CHƢƠNG 3: THỬ NGHIỆM TÁC ĐỘNG ............................................... 44
1. Mục tiêu thử nghiệm ................................................................................... 44
2. Biện pháp tiến hành ..................................................................................... 44
PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ..................................................... 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 49
PHẦN 1: PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong thời đại khoa học kĩ thuật và công nghệ thông tin phát triển vô
cùng mạnh mẽ, nhiều quốc gia đã tận dụng lợi thế đó để khẳng định vị trí của
mình trên trường quốc tế. Tuy nhiên, có một điều không bao giờ có thể phủ
nhận rằng: nhân tố con người vô cùng quan trọng. Năm bắt tình hình đó,
chuyển từ Mầm non lên Tiểu học, lần đầu tiên trẻ tham gia hoạt động học với
tư cách là hoạt động chủ đạo và chính trong quá trình đó, trẻ được hình thành
những kiến thức và kỹ năng học tập cơ bản gắn với từng môn học, làm nền
tảng cho bậc học tiếp theo.
Bên cạnh các môn học như Toán, Tự nhiên và Xã hội, Đạo đức, …môn
Tiếng Việt ở Tiểu học hình thành và phát triển các kỹ năng nghe, nói, đọc,
viết cần thiết trong sử dụng Tiếng Việt để học tập và giao tiếp, cũng như các
kỹ năng mềm, kỹ năng sống trong xã hội. Tiếng Việt được gọi nôm na là môn
học “vỡ lòng”. Nếu nói việc học tập giống như xây một cái nhà thì bộ môn
này chính là móng nhà của ngôi nhà đó. Muốn xây nhà được đẹp được tốt thì
móng nhà phải thật vững chắc. Nếu như môn Toán giúp học sinh hình thành
kỹ năng tư duy logic thì môn Tiếng Việt sẽ phát triển kỹ năng tư duy ngôn
ngữ cho học sinh. Mỗi phân môn của môn học này đều hướng tới mục tiêu
trên, trong đó phân môn Tập làm văn có vai trò đặc biệt quan trọng.
Tập làm văn là phân môn đòi hỏi khả năng tổng hợp và kết hợp một
cách linh hoạt các kiến thức có được từ các phân môn, môn học khác cũng
như kiến thức từ cuộc sống hằng ngày. Vì thế một bài văn viết ra có thể được
coi như thước đo dùng để đánh giá quá trình học tập của học sinh, kỹ năng sử
dụng ngôn từ, vốn sống, vốn hiểu biết mà học sinh có được. Làm văn là một
hoạt động giao tiếp. Dạy văn cho học sinh thực chất là dạy cho các em nắm
được cơ chế của việc sản sinh ngôn bản nói và viết theo đúng quy tắc của
ngôn ngữ. Để viết được một bài văn hoàn chỉnh, học sinh cần rèn luyện các
2
kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết, kỹ năng phân tích đề, tìm ý, lập dàn ý, viết đoạn
và liên kết đoạn,...
Ở tiểu học, học sinh bắt đầu được học tập làm văn từ lớp 2 với cách
viết các đoạn văn ngắn có chủ đề gần gũi với cuộc sống xung quanh. Đây là
Minh Thuyết trong giáo trình Tiếng Việt 2 và Hỏi - đáp về dạy học Tiếng Việt
2; Hỏi - đáp về dạy học Tiếng Việt 3,… hay Lê Hữu Tình, Trần Mạnh Hưởng
trong cuốn Giải đáp 88 câu hỏi về giảng dạy Tiếng Việt ở tiểu học hoặc trong
Bồi dưỡng văn - tiếng Việt ở Tiểu học của Nguyễn Thị Kim Dung, Hồ Thị
Vân Anh,…
Bên cạnh đó, các khóa luận tốt nghiệp Đại học của các sinh viên khóa
trước cũng có nhiều đề tài nói về thực trạng dạy và học Tập làm văn cũng như
rèn kỹ năng viết bài tập làm văn của học sinh Tiểu học: Nguyễn Thị Nhung Thực trạng kỹ năng học phân môn Tập làm văn của học sinh lớp 3; Hoàng
Thị Thủy - Kỹ năng viết bài tập làm văn của học sinh lớp 4; Nguyễn Thu
Thảo - Tìm hiểu kỹ năng học tập phân môn tập làm văn của học sinh lớp 5;…
Song việc đề tài về kỹ năng viết đoạn văn cho học sinh lớp 2, 3 vẫn chưa
có tác giả nào nghiên cứu. Vậy nên tôi nhận thấy việc nghiên cứu đề tài “Rèn kỹ
năng viết đoạn văn cho học sinh lớp 2, 3” là rất quan trọng và cần thiết.
3. Mục đích nghiên cứu đề tài.
Từ việc rèn kỹ năng viết đoạn văn cho học sinh nhằm hướng tới tạo cho
trẻ tư duy logic và tư duy hình tượng.
Hướng tới nâng cao chất lượng dạy và học môn Tiếng Việt nói chung
và phân môn Tập làm văn nói riêng.
4. Đối tƣợng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu là kỹ năng viết đoạn văn cho học sinh lớp 2, 3.
4
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
1.1. Tập hợp tư liệu nghiên cứu, hệ thống hóa những vấn đề lý luận
liên quan đến đề tài.
1.2. Khảo sát thực trạng, nguyên nhân ảnh hưởng tới kỹ năng viết đoạn
văn của học sinh lớp 2, 3.
1.3. Nêu ra các kỹ năng cần thiết để viết đoạn văn cho học sinh lớp 2, 3
văn ở đây chính là ngôn bản. Tập làm văn chính là tập sản sinh và tạo lập
ngôn bản.
Vậy dạy Tập làm văn chính là dạy cho học sinh biết cách sản sinh và
tạo lập văn bản.
Hệ thống bài tập làm văn ở Tiểu học:
Bài tập làm văn là một lệnh đưa ra yêu cầu cho học sinh thực hiện một
hành động nói, viết để tạo lập văn bản.
Bài tập làm văn chia thành bài tập luyện nói và bài tập luyện viết.
Trong đó:
a. Bài tập luyện nói gồm:
+ Bài tập hội thoại.
+ Bài tập độc thoại.
b. Bài tập luyện viết gồm:
+ Bài tập viết lời hội thoại: điền lời lựa chọn phù hợp vào chỗ trống
(chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi,…) hoặc viết câu trả lời.
+ Bài tập viết thành đoạn bài: viết văn bản nhật dụng (văn bản tự thuật,
danh sách học sinh, …), văn bản nghệ thuật (kể chuyện, miêu tả).
1.1.2. Vị trí và nhiệm vụ của phân môn Tập làm văn.
- Vị trí.
Tiếng Việt ở trường tiểu học được dạy và học thông qua tám phân môn
(hay bảy loại bài học) khác nhau: Học vần, tập đọc, tập viết, chính tả, từ ngữ,
6
ngữ pháp, kể chuyện, tập làm văn. Phân môn Tập làm văn có vị trí đặc biệt
trong việc dạy và học Tiếng Việt xét trên hai phương diện:
Phân môn Tập làm văn tận dụng các hiểu biết và kĩ năng về tiếng Việt
do các phân môn khác rèn luyện hoặc cung cấp đồng thời góp phần hoàn thiện
chúng. Để làm được một bài làm văn nói hoặc viết, người làm phải hoàn thiện
duy hình tượng, tư duy logic, kĩ năng phân tích - tổng hợp - phân loại - lựa
chọn) và hình thành nhân cách (lịch sự, khuôn mẫu trong giao tiếp; bồi dưỡng
tình cảm đẹp và vốn sống...) cho học sinh tiểu học.
1.1.3. Sự cần thiết của phân môn Tập làm văn
Tập làm văn là phân môn đòi hỏi khả năng tổng hợp và kết hợp một
cách linh hoạt các kiến thức có được từ các phân môn, môn học khác cũng
như kiến thức từ cuộc sống hằng ngày. Vì thế một bài văn viết ra có thể được
coi như thước đo dùng để đánh giá quá trình học tập của học sinh, kỹ năng sử
dụng ngôn từ, vốn sống, vốn hiểu biết mà học sinh có được. Làm văn là một
hoạt động giao tiếp. Dạy văn cho học sinh thực chất là dạy cho các em nắm
được cơ chế của việc sản sinh ngôn bản nói và viết theo đúng quy tắc của
ngôn ngữ. Để viết được một bài văn hoàn chỉnh, học sinh cần rèn luyện các
kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết, kỹ năng phân tích đề, tìm ý, lập dàn ý, viết đoạn
và liên kết đoạn, ...Chính vì vậy, Tập làm văn là một phân môn cần thiết và
không thể thiếu trong chương trình các môn học ở cấp Tiểu học.
1.2. Đoạn văn.
1.2.1. Khái niệm
Theo quan điểm của tác giả Lê Phương Nga trong Phương pháp dạy
học Tiếng Việt ở Tiểu học thì: “Đoạn văn là một bộ phận của văn bản bao
gồm một số câu liên kết với nhau chặt chẽ, thể hiện một cách tương đối trọn
vẹn về một tiểu chủ đề. Nó có một cấu trúc nhất định và được tách ra khỏi
đoạn văn khác bằng dấu hiệu chấm xuống dòng và bắt đầu bằng chữ cái viết
hoa thụt đầu dòng”. Với định nghĩa này, ta thấy:
8
Về mặt nội dung, đoạn văn có thể hoàn chỉnh ở một mức độ nhất định.
Khi đoạn văn hoàn chỉnh về mặt nội dung thì mỗi đoạn văn sẽ là đoạn ý
(giống như định nghĩa theo sách giáo khoa lớp 4), còn khi đoạn văn không
chức năng liên kết đoạn và dẫn dắt vào đoạn có thể được phức hợp trong một
câu văn mà một bộ phận nào đó có chức năng liên kết, bộ phận còn lại dẫn
vào đoạn văn.
- Câu chủ đoạn.
Câu chủ đoạn là câu có chức năng nêu lên chủ đề của đoạn văn mà các
câu thuyết đoạn sẽ triển khai làm sáng tỏ. Trong trường hợp câu chủ đoạn là
câu đứng đầu của đoạn thì ngoài chức năng nêu lên chủ đề, nó còn có chức
năng phụ là liên kết văn bản.
Câu chủ đoạn có khả năng xuất hiện hay vắng mặt. Nếu xuất hiện, số
lượng thường gặp là 1 câu, đứng đầu đoạn hay sau câu chuyển đoạn, câu mở
đoạn (nếu đoạn văn có 2 loại câu này). Trong trường hợp câu chủ đoạn vắng
mặt, chủ đề của đoạn có thể mang tính hàm ngôn hay do câu kết đoạn biểu đạt
(nếu câu kết đoạn xuất hiện).
- Câu thuyết đoạn.
Câu thuyết đoạn là câu có chức năng triển khai, làm sáng tỏ chủ đề của
đoạn, hay nêu lên sự việc, sự kiện làm tiền đề để rút ra kết luận khái quát
trong câu kết đoạn.
Trừ trường hợp đoạn văn có một câu, câu thuyết đoạn bao giờ cũng
xuất hiện, số lượng tùy thuộc vào quy mô của đoạn. Đoạn văn có nhiều câu
thuyết đoạn thì chủ đề cũng được triển khai cụ thể, chi tiết hơn.
- Câu kết đoạn.
Câu kết đoạn là câu có chức năng đúc kết, khái quát hay mở rộng chủ
đề của đoạn. Trong trường hợp đoạn văn không có câu mở đoạn mà có câu
kết đoạn, câu kết đoạn là câu nêu lên chủ đề của đoạn.
Câu kết đoạn có thể xuất hiện hay vắng mặt. Nếu xuất hiện, số lượng có
thể là 1 hoặc 2 câu và nằm ở cuối đoạn văn.
10
- Đoạn văn miêu tả.
Đoạn miêu tả là đoạn văn có nội dung thể hiện sự vật, hiện tượng một
cách chi tiết, cụ thể, sinh động như nó tồn tại trong thực tại khách quan hay
theo trí tưởng tượng của người viết. Đây là đoạn văn cơ bản, xuất hiện rất phổ
biến trong các loại văn bản thuộc phong cách nghệ thuật như truyện, thơ trữ
tình, ký sự.
- Đoạn thuật sự.
Là loại đoạn văn có nội dung trình bày diễn biến của sự việc, sự kiện
như nó đã xảy ra hay theo trí tưởng tượng của người viết. Loại đoạn văn này
có khả năng xuất hiện trong nhiều phong cách ngôn ngữ văn bản: hành chính,
khoa học, chính luận và nghệ thuật.
- Đoạn lập luận.
Lập luận là đoạn văn có nội dung trình bày suy nghĩ, ý kiến, quan điểm
của người viết về một vấn đề, một hiện tượng nào đó. Đây là loại đoạn văn cơ
bản, xuất hiện rất phổ biến trong các loại văn bản thuộc phong cách khoa học,
chính luận. Văn bản thuộc phong cách hành chính cũng có thể vận dụng loại
đoạn văn này nhưng ít phổ biến hơn.
- Đoạn hội thoại.
Hội thoại là loại đoạn văn có nội dung phản ánh lời nói trực tiếp của
người tham gia giao tiếp. Đoạn văn hội thoại xuất hiện rất phổ biến trong
khẩu ngữ tự nhiên hằng ngày, trong các văn bản thuộc phong cách nghệ thuật
như truyện.
1.3. Đặc điểm tâm - sinh lý của học sinh tiểu học.
1.3.1. Đặc điểm sinh lý.
a. Đặc điểm sinh lý của học sinh Tiểu học.
- Hệ xương: đang trong thời kỳ phát triển (thời kỳ cốt hóa) nên dễ bị
cong vẹo, gẫy dập,… Vì thế mà trong các hoạt động vui chơi cũng như học
12
13
1.3.2. Đặc điểm tâm lý.
a. Đặc điểm tâm lý của học sinh Tiểu học.
Tuy cùng chịu sự chi phối của các quy luật và yếu tố như ở những giai
đoạn phát triển khác, những mỗi giai đoạn lứa tuổi trong quá trình phát triển
tâm lý của cá thể nói chung và trẻ em nói riêng là một khoảng thời gian nhất
định với những đặc trưng riêng của một trình độ phát triển. Lứa tuổi học sinh
Tiểu học là một giai đoạn phát triển với các đặc trưng sau:
Học sinh Tiểu học thường là những trẻ có tuổi từ 6 - 11, 12 tuổi. Đây là
lứa tuổi đầu tiên đến trường, trở thành học sinh và có hoạt động chủ đạo. Trẻ
em lứa tuổi Tiểu học thực hiện bước chuyển từ hoạt động vui chơi là hoạt
động chủ đạo sang học tập là hoạt động chủ đạo. Là hoạt động lần đầu tiên
xuất hiện với tư cách là chính nó, hoạt động học tập có vai trò và ý nghĩa đặc
biệt quan trọng đối với sự phát triển tâm lý của học sinh Tiểu học. Cùng với
cuộc sống nhà trường, hoạt động học tập đem đến cho trẻ những điều mà
trước đây trẻ chưa bao giờ có được hoặc không thể tiếp cận được. Từ đó cùng
với sự phát triển về thể chất và dựa trên những thành tựu về phát triển tâm lý
đã đạt được của giai đoạn trước, trẻ sẽ tạo lập nên những cái mới trong đời
sống tâm lý của mình, mà trước hết là tính chủ định, kỹ năng làm việc trí óc,
sự phản tỉnh - những cấu tạo tâm lý mới đặc trưng cho lứa tuổi này. Ngoài ra,
nhà trường và hoạt động học tập cũng đặt ra cho trẻ những đòi hỏi mới của
cuộc sống. Trẻ không chỉ phải tự lập lấy vị trí của mình trong môi trường
“trung lập về tình cảm”, mà còn phải thích ứng với những bó buộc không
tránh khỏi và chấp nhận một người lớn ngoài gia đình (thầy, cô giáo) sẽ đóng
vai trò hàng đầu trong cuộc sống của trẻ. Trẻ chẳng những phải ý thức và có
thái độ trách nhiệm trong việc thực hiện các nhiệm vụ của mình, đặc biệt là
nhiệm vụ học tập và biết điều khiển hành vi của mình một cách có chủ định,
đồng thời phải có hả năng thiết lập, vận hành cùng một lúc các mối quan hệ
mặt bàn.
15
Khi tri giác, sự phân tích có tính định hướng, có tổ chức và sâu sắc của
học sinh còn yếu. Cụ thể trong những năm đầu của Tiểu học, tri giác học sinh
gắn chặt với hành động, hoạt động thực tiễn của trẻ. Có nghĩa là tri giác sự vật
là một cái gì đó mà các em gặp trực tiếp trong cuộc sống và hoạt động của các
em, những cái mà giáo viên đặc biệt chỉ dẫn, nhấn mạnh cho các em.
Những hoạt động tri giác của học sinh Tiểu học được tổ chức và phát
triển ngày càng cao dần. Giáo viên tổ chức việc tri giác của học sinh Tiểu học,
giao nhiệm vụ điều chỉnh quá trình tri giác và kiểm soát kết quả của nó. Học
sinh Tiểu học có thể tri giác đúng độ lớn của một vật thông thường, còn các
vật quá to hoặc quá nhỏ thì các em chưa tri giác được. Tri giác về thời gian
phát triển chậm hơn về không gian.
- Tư duy:
Tư duy của học sinh giai đoạn lớp 2, 3 chuyển dần từ tư duy cụ thể
sang tư duy trìu trượng. Trong quá trình học tập, tư duy của học sinh thay đổi
rất nhiều. Nếu tri giác phát triển khá mạnh ở lứa tuổi Mẫu giáo thì ở lứa tuổi
Tiểu học, tư duy phát triển mạnh mẽ hơn. Ở đây, vài trò thúc đẩy các nội
dung và phương pháp dạy học, vai trò của giáo viên với tư cách là người tổ
chức hoạt động có tính quyết định và tư duy. Tư duy trìu tượng ở giai đoạn
lớp 2, 3 bắt đầu phát triển nhưng còn non yếu, vì vậy học sinh sẽ tiếp thu kiến
thức nhanh nếu giáo viên tổ chức dạy học có kết hợp với các đồ dùng trực
quan hiệu quả.
- Tưởng tượng:
Sự phát triển tưởng tượng của học sinh Tiểu học diễn ra theo hai giai
đoạn chủ yếu:
Lúc đầu những hình ảnh tái tạo chỉ đặc trưng gần đúng cho đối tượng
Số lượng và thời lượng dạy: 31 tiết Tập làm văn trong cả năm học.
- Nội dung:
Các nghi thức lời nói tối thiểu (chào hỏi, tự giới thiệu, cám ơn, xin lỗi,
nhờ cậy, yêu cầu, khẳng định, phủ định, tán thành, từ chối, chia vui, chia
17
buồn…) và biết cách sử dụng chúng trong các tình huống giao tiếp nơi công
cộng, ở gia đình, trong trường học, …
Các kĩ năng phục vụ học tập và đời sống hằng ngày: khai bản tự thuật
ngắn, viết thư ngắn để nhắn tin, chia vui hoặc chia buồn, nhận và gọi điện
thoại, đọc và lập thời gian biểu…
Nói, viết về những vấn đề chủ điểm: kể một sự việc đơn giản, tả sơ
lược về người, vật xung quanh theo gợi ý bằng tranh, bằng câu hỏi…
- Hình thức luyện tập: có 2 hình thức luyện tập chính là nói và viết.
Ở mỗi hình thức luyện tập này, học sinh hình thành kĩ năng tạo lập văn
bản qua từng công đoạn, từ những yêu cầu đơn giản nhất như: điền vào chỗ
trống, trả lời câu hỏi đến nói hay viết một đoạn văn trọn vẹn. Trong các tiết Tập
làm văn từ học kì 2 trở đi, SGK tổ chức rèn luyện kĩ năng nghe cho học sinh
thông qua hình thức nghe, kể chuyện, trả lời câu hỏi theo nội dung câu chuyện.
Ví dụ:
Ở tiết Tập làm văn tuần 33, từ bài 1: hãy nhắc lại lời an ủi và lời đáp
của các nhân vật trong tranh, đến nói lời đáp của các em trong những tình
huống cụ thể và yêu cầu của bài tập cuối cùng ở tiết học là học sinh viết một
đoạn văn ngắn kể về một việc tốt của em hoặc bạn em. Hay tiết 34: kể ngắn
về người thân (nói, viết). Ở bài tập 1, kể về một người thân của em, sau đó
yêu cầu tiếp theo là viết những điều đã kể thành một đoạn văn. Ở tiết 30,
nghe, kể chuyện và trả lời câu hỏi bài Qua suối ở bài tập 1 yêu cầu nghe và trả
lời câu hỏi, ở bài tập 2 yêu cầu viết lại những điều đã nghe …
2.2. Thực tiễn giảng dạy và học tập ở trƣờng phổ thông.
2.2.1. Vai trò của thầy cô.
- Ưu điểm.
Trong công cuộc đổi mới giáo dục hiện nay, các phương pháp và hình
thức dạy học thường xuyên được giáo viên tìm hiểu và thay đổi theo hướng
tích cực. Giáo viên được tham gia các khóa tập huấn, được đi thực tế học hỏi
19
ở nhiều trường, nhiều địa phương khác nhau. Từ đó rút ra được nhiều kinh
nghiệm cho bản thân, áp dụng vào việc xây dựng và thực hiện bài giảng.
Công nghệ phát triển, các phương tiện dạy học đa dạng và phong phú
đã tạo điều kiện thuận lợi không nhỏ cho giáo viên trong quá trình dạy học
các môn học khác nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng. Nhiều giáo
viên rất chịu khó tìm hiểu, sưu tầm, chuẩn bị tài liệu, hình ảnh, thông tin độc
đáo, bổ ích phục vụ bài dạy. Giúp cho học sinh không những học tốt bài học
mà còn tạo hứng thú học tập, giúp các em học hỏi được nhiều kiến thức, nhiều
điều hay trong cuộc sống với tâm thế háo hức, ham học hỏi.
Một số giáo viên tích cực thay đổi các hình thức dạy học để tránh sự
nhàm chán, tạo hứng thú cho học sinh. Tổ chức các hoạt động ngoại khóa
ngoài giờ lên lớp để có thể hiểu hơn về học sinh của mình, các học sinh hiểu
rõ hơn về nhau, tạo ra sự kết nối giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh
với học sinh. “Học mà chơi, chơi mà học”.
Bên cạnh việc theo dõi sự tiến bộ của học sinh, một số giáo viên cũng
rất chú trọng các lỗi sai học sinh mắc phải. Tìm hiểu những lỗi sai nào phổ
biến nhất, những ai hay mắc lỗi sai nhất, lỗi sai đó là gì, vì sao lại hay mắc lỗi
đó,… Từ việc xác định thực trạng và tìm ra nguyên nhân, giáo viên chữa lỗi
cho học sinh một cách cẩn thận để không gặp lại những lỗi sai đó. Một số
thầy cô cũng rất cẩn thận khi đưa ra các lỗi sai thường gặp trước đó để học