ĐỊNH GIÁ TRỊ KINH TẾ KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN BÌNH CHÂU PHƯỚC BỬU, HUYỆN XUYÊN MỘC TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU - Pdf 50

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH

ĐỊNH GIÁ TRỊ KINH TẾ KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN
BÌNH CHÂU- PHƯỚC BỬU, HUYỆN XUYÊN MỘC
TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU

NGUYỄN THỊ LỆ THỦY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỂ NHẬN VĂN BẰNG CỬ NHÂN
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG

Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 06/2009


Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, trường Đại
Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “ĐỊNH GIÁ TRỊ KINH
TẾ

KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN BÌNH CHÂU- PHƯỚC BỬU, HUYỆN

XUYÊN MỘC, TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU” do NGUYỄN THỊ LỆ THỦY, sinh viên
khóa 2005-2009, ngành KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG, đã bảo vệ thành
công trước hội đồng vào ngày………………

TS. PHAN THỊ GIÁC TÂM
Người hướng dẫn,

________________________

nghiệp này.
Cảm ơn các Cô Chú, Anh Chị công tác tại Ban Quản lý Khu Bảo Tồn
Thiên Nhiên Bình Châu - Phước Bửu đã tạo điều kiện thuận lợi cũng như giúp đỡ em
trong suốt thời gian thực tập tại địa phương.
Cho tôi gởi lời cảm ơn đến bạn bè tôi, những người đã giúp đỡ tôi về
mặt tinh thần, cũng như đóng góp ý kiến để tôi hoàn thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên

NGUYỄN THỊ LỆ THỦY


NỘI DUNG TÓM TẮT
NGUYỄN THỊ LỆ THỦY. Tháng 06 năm 2009. “Định Giá Trị Kinh
Tế Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Bình Châu-Phước Bửu, Huyện Xuyên Mộc, Tỉnh
Bà Rịa - Vũng Tàu”.
NGUYEN THI LE THUY. June 2009. “Economic Valuation of Binh
Chau – Phuoc Buu protected area, Xuyen Moc District, Ba Ria – Vung Tau
Province”.
Với mục tiêu chính là xác định tổng giá trị kinh tế mà Khu BTTN Bình
Châu – Phước Bửu mang lại cho người dân tỉnh BR-VT, đề tài sử dụng phương pháp
đánh giá ngẫu nhiên để hỏi mức sẵn lòng đóng góp của người dân BR-VT cho việc
bảo tồn Khu BTTN BC-PB, qua đó xác định tổng giá trị kinh tế của rừng. Với số phiếu
phỏng vấn là 160, kết quả thu được tổng giá trị kinh tế mà khu BTTN BC-PB mang lại
cho người dân BR-VT là 84,574,677,360 đồng. Con số này sẽ cung cấp cho các nhà
làm chính sách những thông tin ban đầu về giá trị kinh tế mà khu BTTN BC-PB mang
lại. Trong tương lai, nếu các dự án bảo tồn và phát triển Khu BT được thực hiện nhưng
thiếu kinh phí thì đây sẽ là nguồn kinh phí quan trọng, góp phần làm giảm gánh nặng
cho ngân sách nhà nước.



1.3.Phạm vi nghiên cứu

3

1.4.Bố cục luận văn

3

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN

4

2.1.Tổng quan tài liệu nghiên cứu liên quan

4

2.2.Tổng quan về phương pháp đánh giá ngẫu nhiên

5

2.2.1.Giới thiệu về phương pháp CVM:

5

2.2.2.Thuận lợi và hạn chế của phương pháp CVM:

6

2.2.2.Tình huống giả định trong nghiên cứu CV:


29

3.2.2. Đánh giá nhận thức của người dân về khu bảo tồn

29

3.2.3. Xác định tổng giá trị kinh tế khu bảo tồn Bình Châu- Phước Bửu

29

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

34

4.1.Những khó khăn trong hoạt động quản lý rừng của khu bảo tồn

34

v


4.2.Đánh giá nhận thức của người dân về tầm quan trọng của KBTTN Bình Châu34

Phước Bửu
4.2.1.Các vấn đề người dân quan tâm

35

4.2.2.Nhận thức về sự thay đổi diện tích Khu BTTN BC-PB


4.4.3. Ước lượng mức WTP trung bình

48

4.5. Xác định tổng giá trị kinh tế của khu BTTN Bình Châu- Phước Bửu

50

4.6.Đề xuất một số phương hướng sử dụng bền vững tài nguyên của khu BTTN BCPB

51

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

53

5.1. Kết luận

53

5.2. Kiến nghị

54

TÀI LIỆU THAM KHẢO

56

vi

đặc biệt như nơi cư trú các loài chim nước

IUCN

Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế

CVM

Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên

DLST

Du lịch sinh thái

BQL

Ban quản lý

HST

Hệ sinh thái

PRA

Phương pháp nông thôn có sự tham gia của người nông dân

vii


DANH MỤC CÁC BẢNG


38

Bảng 4.6Lợi Ích của Khu BTTN Được Lựa Chọn Nhiều Nhất

38

Bảng 4.7Thống Kê Số Lượng Người Đồng Ý, Không Đồng Ý

40

Bảng 4.8Lý Do Sãn Lòng Đóng Góp

40

Bảng 4.9 Lý Do Không Đóng Góp

41

Bảng 4.10 Một Số Đặc Điểm Kinh Tế-Xã Hội Người Được Phỏng Vấn

42

Bảng 4.11Kết Quả Ước Lượng Mô Hình Logit ( Mô Hình 1)

43

Bảng 4.12Kết Quả Ước Lượng Mô Hình Logit ( Mô Hình 1)

44

Hình 4.1 Lợi Ích của Khu Bảo Tồn Được Lựa Chọn Nhiều Nhất

ix

39


DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ lục 1

PRA tại Xã Bưng Riềng 22/4/09

Phụ luc 2

Phiếu Phỏng Vấn Người Dân

Phụ lục 3

Kết Quả Ước Lượng Mô Hình 1

Phụ lục 4

Kết Quả Ước Lượng Mô Hình 1

Phụ lục 5

Kết Quả Ước Lượng Mô Hình 2

Phụ lục 6


tiến hóa, duy trì hệ thống tự nhiên và phát triển kinh tế xã hội. Đa dạng sinh học ở
nhiều quốc gia trên thế giới đang bị suy giảm nghiêm trọng bởi các hoạt động của con
người. Các khu BTTN đóng vai trò chủ chốt trong bảo tồn đa dạng sinh học và đáp
ứng các mục tiêu đa dạng của cộng đồng. Định nghĩa của Tổ chức bảo tồn thiên nhiên
quốc tế (IUCN) khẳng định bảo tồn đa dạng sinh học là mục tiêu cơ bản của khu
BTTN: “Khu bảo tồn thiên nhiên là một khu vực trên đất liền hoặc trên biển được
khoanh vùng để bảo vệ đa dạng sinh học, các tài nguyên thiên nhiên và văn hoá đi
kèm, được quản lý bằng các công cụ pháp luật hoặc các hình thức quản lý có hiệu quả
khác” (IUCN,1994).
Các khu BTTN cung cấp nhiều loại hàng hoá và dịch vụ (dịch vụ giải trí, du
lịch), bảo tồn nguồn gen, bảo tồn động thực vật, cung cấp nguồn nước, giảm nhẹ thiên
tai. Những hàng hoá, dịch vụ này rất có giá trị đối với con người. Tuy nhiên, nhiều loại
hàng hoá, dịch vụ này không được mua bán trên thị trường thương mại. Do vậy không


có cơ sở để định giá trên thị trường song chúng cần được tính toán thể hiện bằng giá trị
tiền để có thể so sánh với các hàng hoá, dịch vụ khác (IUCN,1994).
Khu BTTN Bình Châu Phước Bửu là khu rừng nguyên sinh ven biển duy nhất
còn lại tương đối nguyên vẹn của Việt Nam. Về cảnh quan thiên nhiên và vị trí địa lý,
khu BTTN Bình Châu Phước Bửu có cảnh quan khá đa dạng, các cảnh quan chính là
vùng đồi thấp, bình nguyên, cồn cát, hồ nước ngọt và bờ biển bằng phẳng, rừng nhiệt
đới có thành phần thực vật đa dạng phong phú, các đầm rừng tràm ngập phèn, lại có
suối nước nóng, bãi biển rất hấp dẫn đối với khách du lịch.
Khu BTTN Bình Châu Phước Bửu giữ chức năng hết sức quan trọng trong việc:
cung cấp nơi cư trú cho các loài sinh vật đặc biệt là các loài quý hiếm đang có nguy cơ
tuyệt chủng như: khỉ đuôi lợn, cu li nhỏ, gà lôi lông tía, yến núi…; phòng hộ môi
trường ven biển; bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, phục vụ nghiên cứu khoa học, giáo dục
bảo tồn, vui chơi giải trí, du lịch sinh thái; tạo vùng đệm xanh duy trì an ninh môi
trường cho vùng kinh tế trọng điểm phía Nam… Tuy nhiên, những năm gần đây tình
trạng những người dân cư nghèo ở các xã lân cận không ngừng vào rừng chặt cây lấy

-Đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao công tác quản lý và bảo tồn
1.3.Phạm vi nghiên cứu
1.3.1.Phạm vi không gian
Phạm vi của nghiên cứu này được giới hạn trong địa bàn tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu
1.3.2.Phạm vi thời gian
Đề tài được thực hiện trong khoảng thời gian từ 2/3/2009 đến 20/6/2009
1.4.Bố cục luận văn
Luận văn gồm 5 chương. Chương 1: trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu
nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và trình bày tóm tắt bố cục luận văn. Chương 2: giới
thiệu về các tài liệu, thông tin, các ứng dụng có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, tổng
quan địa bàn nghiên cứu. Chương 3: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu, trình
bày các khái niệm định nghĩa và phương pháp được sử dụng trong đề tài. Chương 4:
trình bày các kết quả đạt được của đề tài. Chương 5: dựa vào kết quả và thảo luận của
chương 4, chương này sẽ kết luận và đưa ra một số kiến nghị cho việc bảo tồn khu
BTTN Bình Châu- Phước Bửu.

3


CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN

2.1.Tổng quan tài liệu nghiên cứu liên quan
Nghiên cứu Xác định giá trị kinh tế của vườn quốc gia Borivli (Hadker, 1997)
bằng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên
Nội dung của bài nghiên cứu là tìm hiểu mức sẵn lòng trả của một bộ phận dân
cư ở Bombay cho việc bảo tồn vườn Quốc gia Borivli. Bài nghiên cứu tiến hành phỏng
vấn 500 người dân sống xung quanh thành phố Bombay. Tài liệu phỏng vấn gồm:
phần giới thiệu cho người được phỏng vấn về Khu Bảo Tồn và phần cung cấp chi tiết
về giá trị của hệ động thực vật và những vấn đề khó khăn trong công tác quản lý mà

giá ngẫu nhiên cho các nước đang phát triển, nhưng nó mang đến một số điều thú vị
trong việc xây dưng kịch bản cho hoạch đinh chính sách và quản lý. Chẳng hạn như ý
tưởng tiếp cận các nhà kinh doanh cho nguồn tài trợ. Một khía cạnh của nghiên cứu là
ý tưởng đóng góp ngày công lao động trong trường hợp không có khả năng đóng góp
bằng tiền, nó cung cấp giải pháp thay thế cho vấn đề có khả năng xảy ra ở các nước
đang phát triển.
2.2.Tổng quan về phương pháp đánh giá ngẫu nhiên
2.2.1.Giới thiệu về phương pháp CVM:
Theo Callan (2000) khi dữ liệu thị trường không có sẵn hoặc không đáng tin
cậy cho việc định giá một loại hàng hóa nào đó, các nhà kinh tế có thể áp dụng các
phương pháp thay thế khác dựa vào việc xây dựng một thị trường giả định. Thông qua
thị trường giả định đó các nhà nghiên cứu có thể thăm dò mức sẵn lòng trả (WTP) hay
sẵn lòng nhận đền bù (WTA) của các cá nhân cho một sự thay đổi trong chất lượng
môi trường. Cách tiếp cận dựa vào số liệu khảo sát để ước lượng các lợi ích hay thiệt
hại của một sự thay đổi chất lượng môi trường được gọi là phương pháp đánh giá ngẫu
nhiên (Contingent Valuation Method - CVM), gọi là “ngẫu nhiên” vì các kết quả sẽ
phụ thuộc hoặc thay đổi theo các điều kiện khác nhau được đưa ra trong thị trường giả
định.
5


Phương pháp CVM thường được sử dụng trong các lĩnh vực như: Chất lượng
nước, chất lượng không khí, những nơi có các hoạt động vui chơi giải trí (như câu cá,
săn bắn…) mà do một dự án nào đó sắp được triển khai gây ảnh hưởng đến chúng;
việc bảo tồn các khu rừng tự nhiên, các khu vực hoang dã, bảo tồn đa dạng sinh học;
bảo tồn loài. Bowker và Stoll (1988) đã ước lượng rằng các cá nhân có thể trả 22$/năm
để bảo tồn loài sếu châu Mỹ; Boyle và Bishop (1987) chỉ ra rằng các cá nhân sẽ trả
11$/năm để bảo tồn đại bàng trọc.
Phương pháp CVM sẽ thích hợp hơn khi vùng nghiên cứu có những đặc điểm
sau: những sự thay đổi chất lượng môi trường không gây ảnh hưởng trực tiếp lên năng

Chất lượng nghiên cứu khi sử dụng phương pháp CVM bị phụ thuộc vào các
điều kiện của thị trường giả định, cách lấy mẫu, cách thức điều tra phỏng vấn. Một số
sai lệch thường gặp trong việc ứng dụng phương pháp CVM. (1) Sai lệch do chiến
thuật (Strategic Bias): nếu người được điều tra cho là các giá trị mà họ đưa ra có thể có
một ảnh hưởng nào đó đến chính sách sẽ đề ra (ví dụ chính sách đền bù thiệt hại) và có
thể ảnh hưởng đến quyền lợi của họ thì họ có thể đưa ra (trả lời) các giá trị quá cao hay
quá thấp so với giá trị thực sự của họ. (2) Sai lệch xuất phát từ các giả định chúng ta sử
dụng khi xây dựng các hoạt cảnh (trường hợp) ban đầu. (3) Sai lệch tổng thể và bộ
phận: người được phỏng vấn cũng có thể hiểu nhầm vấn đề được hỏi trong quá trình
điều tra phỏng vấn và có thể đưa ra các giá trị đánh giá một bộ phận của vấn đề ta
quan tâm thành giá trị tổng thể và ngược lại. Ví dụ: Thay vì trả lời mức sẵn lòng trả
cho việc cải thiện chất lượng môi trường nước của một đoạn sông, người được điều tra
có thể đưa ra giá trị sẵn lòng trả cho việc cải thiện chất lượng môi trường nước của cả
dòng sông đó. (4) Sai lệch giữa mức sẵn lòng trả và sẵn lòng nhận đền bù. (5) Sai lệch
do điểm khởi đầu (Starting point bias) khi xây dựng các bảng điều tra mức sẵn lòng
trả. Bên cạnh đó cũng có thể có những sai lệch do thông tin cung cấp cho người được
điều tra, sai lệch do sự không hiểu giữa người điều tra và người được điều tra, sai lệch
do cách chọn phương thức đóng góp tiền khi hỏi về mức sẵn lòng trả( Đ.T. Hà, 2003).
Ngoài ra, để thực hiện được một nghiên cứu CVM đúng qui cách cần phải có nhiều
thời gian, tiền bạc và nguồn nhân lực.
2.2.2.Tình huống giả định trong nghiên cứu CV:
Tình huống giả định là nội dung then chốt đối với bảng câu hỏi CV. Tình huống
giả định càng cụ thể, càng thực tế sẽ giúp cho việc phỏng vấn trở nên dễ dàng hơn và
các câu trả lời có độ tin cậy cao hơn. Các nghiên cứu CV có kết quả cao thường là
những nghiên cứu xây dựng được tình huống giả định phù hợp và thực tế.

7


2.2.3.Các cách hỏi WTP/WTA:

8


người được phỏng vấn trả lời “Không” và ngược lại. Đây chính là mức sẵn lòng trả tối
đa của người trả lời. Với cách hỏi này, thông thường trong các nghiên cứu, người tổ
chức thường chia mẫu phỏng vấn thành nhiều nhóm và mỗi nhóm sẽ có một mức giá
khởi đầu khác nhau.Nhược điểm lớn nhất của phương pháp này là các sai lệch xảy ra
theo mức giá khởi đầu. Mức giá khởi đầu quá cao hay quá thấp đều ảnh hưởng đến kết
quả cuối cùng của nghiên cứu (Chales Griffin,1993).
d) Câu hỏi đóng (Dichotomous Choice hay Close- Ended Question)
Có hai cách hỏi sau đây
Single – bounded dichotomous choice: Tiến hành phân khoản từ mức WTP kì
vọng cao nhất đến WTP kì vọng thấp nhất. Tại mỗi mức giá này, sẽ tiến hành hỏi một
nhóm đối tượng phỏng vấn, người được phỏng vấn sẽ được trả lời “đồng ý” hay
“không đồng ý” với mức giá này.
Ưu điểm của cách hỏi này: giúp người trả lời dễ quyết định
Nhược điểm: cỡ mẫu phải lớn
Double – bounded dichotomous choice: Trong phương pháp này, người được
phỏng vấn được hỏi một câu hỏi “Có – Không” về việc họ sẵn lòng trả một khoản tiền
nhất định cho mục đích mà nó đã được mô tả. Nếu họ trả lời “có” thì câu hỏi này sẽ
được lặp lại với một số tiền lớn hơn, nếu họ trả lời “không” thì câu hỏi thứ hai sẽ hỏi
một khoản khoản tiền nhỏ hơn. Điều này được lặp lại cho đến khi WTP cuối cùng
được xác định.
Jack L Knestch (1983) cho rằng việc sử dụng cách hỏi về mức sẵn lòng trả
khác nhau thường dẫn đến những kết quả khác nhau (đặc biệt là cách hỏi “bidding
games”), hỏi theo hình thức trưng cầu dân ý (referendum) cho những ước lượng cao
gấp hai lần so với cách hỏi đóng (closed ended - tức là câu hỏi có những câu trả lời
nhất định để lựa chọn). Tác giả đã đưa ra một loạt các thử nghiệm đã thực hiện để
chứng minh các cách hỏi khác nhau dẫn đến những kết quả khác nhau. Và, kết luận
các mức WTP thu được từ những phương thức hỏi trong CVM không đúng với giá trị

án được dễ dàng hơn, khuyến khích mức sẵn lòng trả của người dân, tạo cơ sở cho các
nhà làm chính sách đưa ra những biện pháp quản lí nguồn ngân sách đóng góp một
cách hiệu quả nhất. Xác định phương thức trả tiền hay nhận đền bù phải đảm bảo 2
yếu tố (Churai Tapvong và Jittapatr Kruavan, 1999; Bateman I.J.1 và cs, 1995).
i)Trả tiền như thế nào?
Trả theo hàng tháng, hàng năm, hay chỉ trả 1 lần, trả theo từng hộ gia đình hay
từng thành viên trong gia đình, lượng tiền trả là cố định hay thay đổi phụ thuộc vào
một yếu tố nào đó có liên quan.
10


ii) Và, ai là người thu số tiền đó và số tiền đó sẽ làm gì?
Hơn ai hết, người dân muốn biết số tiền mà họ bỏ ra sẽ đi về đâu? Ai giữ? Và
họ sẽ làm gì với số tiền đó? Nên việc mô tả rõ cơ quan nào nhận trách nhiệm thu tiền
cũng như sẽ sử dụng chúng như thế nào sẽ giúp người được phỏng vấn yên tâm hơn và
sẵn sàng đưa ra mức sẵn lòng trả của mình.
Bateman I.J.1 và các cộng sự (1995) đưa ra một số phương thức trả tiền như
sau: (1) Quỹ từ thiện (DONATE), (2) Quỹ tài trợ chi trả để bảo vệ hệ thống bảo vệ lũ
lụt ở Broadland (FUND), (3) Trả trực tiếp bằng thuế (TAX). Và kết quả thu được từ 3
cách hỏi này là: Cách chi trả thông qua quĩ từ thiện có tới 46.5% người được phỏng
vấn đưa ra mức sẵn lòng trả bằng 0. Nó kết luận rằng cách định nghĩa phương thức chi
trả không rõ ràng dẫn đến người trả lời không chắc chắn rằng sự đóng góp của họ có
được sử dụng hiệu quả hay không. Tóm lại phương thức chi trả không đem lại sự đáng
tin cậy trong thị trường giả thiết bởi vậy nên loại bỏ. Phương thức chi trả bởi các quĩ
tài trợ cũng được thực hiện không hiệu quả bởi mức chi trả bằng 0 có tỉ lệ cao tới
23.1% và cũng tạo ra mức giá cải biến cao hơn nhiều so với các phương thức khác.
Cách chi trả của các quỹ tài trợ cũng nên loại bỏ. Cách trả bằng thuế tạo ra mức sẵn
lòng trả bằng 0 thấp nhất có tỉ lệ là 11.8% và thực hiện tốt hơn trong hệ thống giá cải
biến so với phương pháp FUND và cũng tốt hơn phương pháp DONATE. Nó cũng
được ủng hộ bởi trong thực tế nếu hệ thống bảo vệ lũ lụt được xây dựng thì công trình

có tầm cỡ quốc tế trong việc bảo tồn thiên nhiên, bảo vệ nguồn gen các loài thú quý
hiếm của thế giới
i)

Thực vật

Hệ thực vật rừng có các yếu tố đặc trưng của kiểu “ kiểu rừng kín lá ẩm nhiệt
đới”, đặc biệt có các tổ hợp thực vật thân thuộc với khu hệ thực vật MalaixiaIndonexia và khu hệ Ấn Độ- Miến Điện. Các tổ thực vật trong đó Tràm chiếm ưu thế
như: quần hợp tràm + cỏ Chanh lương + cỏ hoàng đầu dẹp + Dầu lông + cỏ cú trên đất
cát pha ngập nước theo mùa. Đây là những cảnh quan khá độc đáo thấy ít xuất hiện ở
các khu vực khác.
Về thành phần thực vật, kết quả nghiên cứu xác định được tên 732 loài mọc tự
nhiên thuộc 123 họ. Có 17 loài được ghi trong Sách đỏ Việt Nam trong đó co 8 loài
thuộc nhóm nguy cấp ( có thể bị đe dọa tuyệt chủng) như: Bình linh nghệ, Cẩm lai Bà
Rịa, Cầy, Xiền trắng, Gõ đỏ, Hồng Quang, Thiết đinh lá bẹ.
ii)

Động vật

Khu BTTN Bình Châu – Phước Bửu hiện có 38 loài bò sát, 15 loài bò sát và
ếch nhái quý hiếm đã được ghi vào Sách đỏ của Việt Nam chiếm 30% tổng số loài.
Trong đó rắn hổ chúa là loài đặc hữu. Có 106 loài chim trong khu BT, trong đó có 5
loài được ghi trong Sách đỏ Việt Nam là những loài quý hiếm cần được bảo vệ ở nước
ta, chiếm 47% tổng số loài như Gà lôi vằn, Gà lôi hông tía, Bồ câu nâu, Cú lợn rừng,
12


Yến núi. Trong 5 loài kể trên có 2 loài nằm trong danh sách của 47 loài bị đe dọa của
thế giới là Gà lôi lông tía, Bồ câu nâu. Về thú đã thống kê được 49 loài, có 10 loài
được ghi trong Sách đỏ Việt Nam, có 8 loài ghi trong Sách đỏ thế giới.

Mộc. Được đổi tên thành : Khu rừng cấm Bình Châu – Đầm nước sôi thuộc UBND
tỉnh BR-VT quản lý
+Năm 1996 đến nay lấy tên là Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Bình Châu – Phước
Bưu thuộc Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn BR-VT mà trực tiếp là BQL
Khu BTTN BC-PB.

13


ii)

Mục tiêu của chính phủ đối với Khu BTTN BC-PB

Nằm trong mục tiêu tổng thể của việc hình thành một mạng lưới các rừng đặc
dụng có mức độ đa dạng sinh học cao được quản lý tốt trong các ranh giới bền vững về
mặt sinh thái, mục tiêu của chính phủ đối với Khu BTTN BC-PB là:
+ Bảo tồn và phục hồi giá trị di sản tự nhiên còn lưu giữ
+Bảo vệ hệ sinh thái rừng trên vùng đất cát ven biển để bảo tồn nguồn gen,
nghiên cứu khoa học và bảo vệ cảnh quan, môi trường phục vụ du lịch và đời sống xã
hội.
iii)

Nhiệm vụ của BQL Khu BTTN BC-PB

Nhiệm vụ chính là bảo vệ nguyên vẹn cảnh quan và đa dạng sinh học của khu
rừng thông qua:
+Giảm thiểu các hoạt động đe dọa đến việc hủy hoại, gây hại hoặc làm giảm đa
dạng sinh học và tài nguyên
+Phục hồi rừng nhằm đảm bảo chức năng hỗ trợ cuộc sống của rừng càng nhiều
càng tốt

iii)

Từ năm 1993 đến nay:

Sau khi luận chứng kinh tế kỹ thuật của khu bảo tồn được Bộ nông nghiệp và
phát triển nông thôn phê duyệt và đầu tư, việc quản lý bảo vệ khu bảo tồn Bình Châu
Phước Bửu đã dần dần đi vào ổn định. Ban quản lý khu bảo tồn được thành lập và
cũng cố. Các họat động quản lý bảo vệ rừng, khoanh nuôi phục hồi rừng, và trồng
rừng đã được thực hiện ngày càng có hiệu quả hơn.
Năm 2000 Ban quản lý khu bảo tồn đã tổ chức điều tra kiểm kê tài nguyên
rừng. Đóng cộc móc và xác định ranh giới các tiểu khu rừng trên thực địa. Hợp tác
chặt chẽ với UBND huyện và các xã lân cận tổ chúc công tác vận động tuyên truyền
về luật bảo vệ phát triển rừng, và các văn bản chỉ thị của các cấp về công tác quản lý
bảo vệ và phòng chóng cháy rừng. UBND tỉnh đã đầu tư trên 1 tỷ đồng để xây dựng
trên 50 ha rừng thành vườn thực vật nhằm gom tụ những lòai thực vật điển hình của
khu bảo tồn, làm cơ sở để phục vụ cho công tác giáo dục tuyên truyền về các giá trị
của khu bảo tồn và phục vụ cho họat động du lịch sinh thái.

15



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status