ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------
LÒ THỊ BAY
Tên chuyên đề:
TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI LỢN NÁI SINH SẢN VÀ LỢN CON THEO MẸ
TẠI TRANG TRẠI NGUYỄN THANH LỊCH, XÃ BA TRẠI HUYỆN BA VÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo:
Chuyên ngành:
Khoa:
Khóa học:
Chính quy
Thú y
Chăn nuôi Thú y
2013 - 2017
Thái Nguyên, năm 2017
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------
LÒ THỊ BAY
Tên chuyên đề:
TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI LỢN NÁI SINH SẢN VÀ LỢN CON THEO MẸ
Ban giám hiệu nhà trường cùng toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Chăn
nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
Em xin đặc biệt cảm ơn đến cô giáo ThS. Nguyễn Thu Trang, cô đã
trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo động viên, giúp đỡ em về mọi mặt trong quá
trình tiến hành nghiên cứu và hoàn thành khóa luận.
Em xin chân thành cảm ơn: Ban lãnh đạo UBND xã Ba Trại, trang trại
Nguyễn Thanh Lịch và các công nhân, kỹ sư trong trại nơi cơ sở em thực tập
đã tạo điều kiện và giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài.
Cuối cùng em xin được cám ơn sự động viên, khích lệ, giúp đỡ của các
thầy cô, gia đình và bạn bè đã giúp đỡ em hoàn thành tốt việc học tập, nghiên
cứu của mình trong suốt quá trình học tập vừa qua.
Em xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, ngày
tháng
Sinh viên
Lò Thị Bay
năm 2017
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1. Cơ cấu đàn lợn qua các năm ........................................................... 25
Bảng 4.2. Tình hình sinh sản của đàn lợn nái ................................................. 28
Khoa học kỹ thuật
iv
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN .......................................................................................... i
DANH MỤC CÁC BẢNG ...................................................................... ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ........................................................ iii
MỤC LỤC .............................................................................................. iv
Phần 1: MỞ ĐẦU................................................................................... 1
1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1
1.2. Mục tiêu của đề tài ..................................................................................... 2
1.2.1. Mục tiêu................................................................................................... 2
1.2.2. Yêu cầu .............................................................................................................. 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ......................................................... 3
2.1. Điều kiện cơ sở nơi thực tập ...................................................................... 3
2.1.2. Đặc điểm của trang trại ........................................................................... 3
2.1.3. Cơ sở vật chất của trại ............................................................................. 5
2.1.4. Tình hình sản xuất của trại ...................................................................... 6
2.2. Cơ sở khoa học của đề tài .......................................................................... 7
2.2.1. Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái nuôi con ....................................................... 7
2.2.2. Kỹ thuật chăn nuôi lợn con theo mẹ ..................................................... 10
2.2.3. Những đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ ................................... 14
2.2.4. Bệnh thường gặp ở lợn con ................................................................... 18
Phần 3: ĐỐI TƢỢNG NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP TIẾN HÀNH
.............................................................................................................. 23
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................ 23
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Việt Nam là một nước đang phát triển với nhiều ngành kinh tế khác
nhau, trong đó những năm gần đây chăn nuôi gia súc, gia cầm cũng đang
được chú trọng và được coi là nền kinh tế trọng điểm của nước ta. Khi nền
kinh tế phát triển thì nhu cầu về thực phẩm của con người ngày càng nâng cao
cả về chất lượng và số lượng. Với ngành chăn nuôi truyền thống và những
nghiên cứu trong tiến bộ khoa học kĩ thuật trong những năm gần đây, ngành
chăn nuôi nước ta đã có những bước tiến nhất định, đặc biệt là ngành chăn
nuôi gia súc. Trong đó, chăn nuôi lợn chiếm một vị trí quan trọng trong nền
kinh tế quốc dân, bởi nó không chỉ đáp ứng nhu cầu thực phẩm (thịt) cho
người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu mà còn cung cấp nguyên liệu cho
ngành công nghiệp chế biến, cung cấp phân bón cho cây trồng…
Do nhu cầu tiêu thụ thịt trong nước đang tăng nhanh, đặc biệt là thịt nạc,
do sự cạnh tranh gay gắt về chất lượng và giá cả của lợn giống, lợn hơi và các
sản phẩm chế biến từ thịt lợn trên thị trường trong nước và quốc tế, nhiều hộ
nông dân, trang trại chăn nuôi lợn ở nước ta đã cố gắng chuyển phương thức
chăn nuôi truyền thống chủ yếu dựa vào kinh nghiệm vốn có và nguồn thức ăn
từ phụ phẩm nông nghiệp sang chăn nuôi theo hướng công nghiệp.
Những năm gần đây được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước tạo mọi
điều kiện để phát triển mạnh ngành chăn nuôi lợn, đạt tốc độ phát triển khá
cao với số lượng đàn lợn lớn. Ba Vì là huyện có ngành chăn nuôi đang ngày
càng phát triển mạnh, có nhiều trang trại chăn nuôi lợn ngoại với quy mô lớn
được mở ra trong những năm gần đây.
2
Để nâng cao hiệu quả sản xuất trong chăn nuôi, chất lượng con giống là
tiền đề quan trọng, vì vậy chất lượng của đàn nái sinh sản có ảnh hưởng đến
năng suất, quyết định đến số lượng con giống sản xuất. Việc đánh giá năng
- Vị trí địa lý:
Ba Trại là một trong 7 xã miền núi của huyện Ba Vì, có diện tích khoảng
36km2. Phía Đông giáp Tản Lĩnh, phía Bắc giáp xã Cẩm Lĩnh, phía Tây giáp
xã Thuần Mỹ. Xã nằm giữa con đường Tỉnh lộ, đường 87, Sơn Tây - Đá Chông
và đường 88 Sơn Tây - Bất Bạt. Đường 87 đi qua xã từ phía Nam qua các xóm
Chằm Mè, Trung Sơn tiếp giáp đường 98 tại Đá Chông. Đường 89 chạy song
song với sông Đà qua địa phận xã thuộc địa phận xã Thuần Mỹ. Đường 88 đi
qua xã ở phía Bắc và cũng là gianh giới giữa Ba Trại với Cẩm Lĩnh.
Địa hình của xã phần lớn là đồi gò, độ cao các quả đồi chênh nhau từ 5
đến 20 mét, độ dốc không lớn. Diện tích ruộng có 730 mẫu Bắc bộ, phần lớn
là ruộng, diện tích còn lại là đất đồi.
- Điều kiện tự nhiên:
Đặc điểm chung của Ba Trại bị chi phối bởi các yếu tố vĩ độ Bắc, cơ
chế gió mùa, sự phối hợp giữa gió mùa và vĩ độ tạo nên khí hậu nhiệt đới ẩm
với mùa đông lạnh và khô.
Nhiệt độ bình quân năm trong khu vực là 23,40oC. Lượng mưa trung
bình năm 2.500mm, phân bố không đều trong năm, tập trung nhiều vào tháng
7, tháng 8. Độ ẩm không khí 86,1%. Vùng thấp thường khô hanh vào tháng
12, tháng 1.
2.1.2. Đặc điểm của trang trại
- Diện tích sử dụng của trang trại là 8.000 m2. Tổng diện tích 12.068m2.
- Trang trại nuôi cả lợn nái lẫn hậu bị. Chia thành 2 khu riêng biệt hoàn
toàn cách ly với nhau.
4
- Trại được liên kết với công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam với số
lượng là 1200 lợn nái.
* Công việc:
- Sinh viên thực tập: 8 người
- Công nhân: 6 người
- Cấp dưỡng: 1 người
2.1.3. Cơ sở vật chất của trại
- Trang trại nuôi gia công với công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam
với số lượng là 1200 lợn nái. Được xây dựng cách xa với đường lớn, xa
trường học và nơi ít dân cư sinh sống, bao quanh trại chủ yếu là đồi cây và
cách xa trại là cánh đồng lúa. Trại nằm trên địa hình khá cao ráo dễ thoát
nước vào mùa mưa nhiều. Xung quanh các chuồng nuôi được trồng cây tạo
bóng râm mát cho mùa hè.
- Trang trại được xây dựng trên diện tích diện tích 12.068m2 chia làm
2 khu vực chính là: khu sinh hoạt chung cho công nhân và khu sản xuất.
- Trong đó khu sinh hoạt chung cho công nhân gồm có: cổng ra vào
trại, phòng sinh hoạt ngoài giờ làm của công nhân, nhà ăn… các khu phục vụ
cho các nhu cầu thiết yếu cho công nhân ngoài giờ làm. Ngoài ra trại còn thiết
kế thêm một số khu vui chơi phục vụ nhu cầu giải trí của công nhân.
- Khu chăn nuôi thì gồm 2 phần chính: chuồng đẻ và chuồng bầu
+ Hệ thống chuồng đẻ của trại gồm 3 dãy chuồng chính, mỗi dãy
chuồng gồm 2 ngăn chuồng có cửa thông với nhau ở cả đầu trên và cuối
chuồng. Mỗi ngăn chuồng lại gồm 64 ô chia làm 2 dãy với kích thước mỗi ô
là 2,4 m × 1,6 m/ô. Trong mỗi ngăn được lắp đặt hệ thống dàn mát ở đầu
chuồng và 4 quạt thông gió ở cuối chuồng. Ngoài ra mỗi ngăn còn được lắp
đặt thêm cửa sổ và hệ thống chiếu sáng, hệ thống điện.
+ Hệ thống chuồng bầu với 1 chuồng chính, trong mỗi chuồng được lắp
đặt 1120 ô, kích thước 2,4 m × 0,65 m/ô. Cũng như chuồng đẻ, chuồng bầu
6
cũng có dàn mát, cuối mỗi chuồng có 10 quạt thông gió. Ngoài ra trong mỗi
chuồng bầu còn có hệ thống làm mát cho lợn bằng nước. Bên cạnh chuồng
khi được phát hiện lên giống sẽ được đưa đi phối 3 lần.
Thức ăn phục vụ cho trại do công ty CP cung cấp, là loại thức ăn hỗn hợp
với các loại khác nhau dành cho lợn ở các lứa tuổi và các chu kỳ khác nhau.
* Công tác thú y:
Đàn lợn tại trại luôn được chăm sóc và phòng bệnh theo kỹ thuật của
công ty CP, được giám sát một cách chặt chẽ về mọi mặt.
- Công tác vệ sinh: Công nhân trước khi vào chuồng sẽ được tắm và
thay đồng phục tại nhà tắm sát trùng. Mọi dụng cụ khi đưa vào khu vực sản
xuất đều được cách ly, phun sát trùng. Định kỳ sẽ có các công nhân làm
nhiệm vụ vệ sinh, sát trùng trong chuồng và ngoài chuồng. Các chuồng sau
khi suất hết lợn con sẽ được vệ sinh ngâm tẩy bằng hóa chất, được cách ly
trước khi cho lợn nái mới lên đẻ.
- Công tác phòng bệnh: theo lịch của công ty, lợn trong trại sẽ được
tiêm phòng vắc xin để phòng một số bệnh thường gặp trên lợn. Từ đó tăng
sức đề kháng cho lợn mẹ và lợn con sau sinh, lợn con cũng được tiêm phòng
các loại vắc xin theo ngày tuổi.
- Công tác trị bệnh: lợn luôn được theo dõi dám sát của 2 kỹ sư và 2 tổ
trưởng, mỗi con lợn có biểu hiện bất thường đều sẽ được nhốt riêng các ly
theo dõi và có các biện pháp điều trị cũng như xử lý kịp thời. Trong thời gian
này thì lợn của trại có mắc dịch PED xong đã nhanh chóng được dập dịch.
2.2. Cơ sở khoa học của đề tài
2.2.1. Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái nuôi con
Mục đích của chăn nuôi lợn nái nuôi con là áp dụng các biện pháp khoa
học để tăng sản lượng sữa mẹ, đảm bảo cho lợn mẹ có sức khỏe tốt, lợn con
8
sinh trưởng phát triển nhanh, đạt số con sau cai sữa và khối lượng cai sữa cao.
Lợn nái chóng được phối giống trở lại sau khi tách con.
Thức ăn cho lợn nái nuôi con phải là những thức ăn có ảnh hưởng tốt
ăn/ ngày cho lợn mẹ.
- Kỹ thuật cho ăn
+ Lợn nái nuôi con trong thời gian mới đẻ mỗi bữa cho ăn một ít một,
nhưng cho ăn làm nhiều lần, thường một ngày cho ăn 3 - 4 bữa. Khoảng cách
giữa các bữa nên chia đều nhau.
+ Cho ăn đúng giờ, đúng tiêu chuẩn quy định.
+ Cung cấp đủ nước uống cho lợn nái nuôi con.
+ Khi chuyển sang dùng thức ăn cho giai đoạn nuôi con, để tránh gây
ảnh hưởng đến quá trình tiêu hóa do thay đổi thức ăn, ta phải thay dần dần.
+ Chú ý theo dõi khả năng ăn và tình trạng sức khỏe của lợn nái để có
biện pháp can thiệp kịp thời.
- Kỹ thuật chăm sóc và quản lý:
+ Vận động: là điều kiện tốt giúp cho lợn nái nhanh chóng hồi phục sức
khỏe và nâng cao sản lượng sữa mẹ. Do vậy sau khi lợn đẻ được từ 3 - 7
ngày, trong điều kiện chăn nuôi có sân vận động, nếu thời tiết tốt thì cho lợn
nái vận động, thời gian vận động lúc đầu là 30 phút/ ngày, về sau tăng số giờ
vận động lên. Khi thời tiết xấu thì không cho vận động, khi cho vận động chú
ý đề phòng cảm lạnh, bẩn vú, những lợn nái có vú quá sệ thì chỉ cho vận động
trong sân chơi. Trong chăn nuôi công nghiệp, hầu hết lợn nái nuôi con đều bị
nhốt trong các cũi đẻ, không được vận động, vì vậy phải chú ý đến thành phần
dinh dưỡng của thức ăn, đặc biệt là các khoáng và vitamin.
+ Chuồng trại của lợn nái nuôi con yêu cầu phải đảm bảo luôn khô ráo,
sạch sẽ, không có mùi hôi thối, ẩm ướt. Vì vậy hàng ngày phải vệ sinh chuồng
trại, máng ăn sạch sẽ. Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp là 18 - 24°C, ẩm độ là
10
70 - 75%. Chuồng lợn nái nuôi con phải có ô úm lợn con và ngăn tập ăn sớm
cho lợn con.
Diện tích chuồng cho lợn nái nuôi trên nền cứng là: 4 - 5m chuồng/ 1
giai đoạn 3 tuần tuổi, sau đó sản lượng sữa của lợn mẹ giảm nhanh, trong khi
đó nhu cầu dinh dưỡng của lợn con ngày càng tăng do lợn con sinh trưởng,
phát dục nhanh, đây là mâu thuẫn giữa cung và cầu, để giải quyết mâu thuẫn
này, cần tập cho lợn con ăn sớm vào 7 - 10 ngày tuổi.
- Thời kỳ ngay sau khi cai sữa:
Là thời kỳ khủng hoảng thứ 3 do môi trường sống thay đổi hoàn toàn,
do yếu tố cai sữa gây nên. Mặc khác thức ăn thay đổi, chuyển từ thức ăn chủ
yếu là sữa lợn mẹ sang thức ăn hoàn toàn do con người cung cấp. Nên giai
đoạn này, nếu nuôi dưỡng chăm sóc không chu đáo, lợn con rất dễ còi cọc,
mắc bệnh đường tiêu hóa, hô hấp.
Chú ý: Trong chăn nuôi lợn nái theo phương thức công nghiệp, tiến
hành cai sữa lúc 21 ngày thì thời kỳ khủng hoảng thứ 2 và thứ 3 trùng nhau,
hay nói cách khác ta làm giảm được một thời kỳ khủng hoảng của lợn con.
Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn con theo mẹ gồm các thao tác cơ bản sau:
+ Cho bú sữa đầu và cố định đầu vú cho lợn con
+ Bổ sung sắt cho lợn con
+ Tập cho lợn con ăn sớm
Cho bú sữa đầu và cố định đầu vú cho lợn con:
Lợn con đẻ ra cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt. Thời gian tiết
sữa đầu của lợn mẹ là 1 tuần kể từ khi đẻ nhưng có ý nghĩa lớn nhất đối với cả
đàn là trong 24 giờ đầu. Sau khoảng 2 giờ, nếu lợn mẹ đẻ xong thì nên cho
những con đẻ trước bú trước.
Sữa đầu có hàm lượng các chất dinh dưỡng rất cao. Hàm lượng protein
trong sữa đầu gấp 2 lần so với sữa thường, vitamin A gấp 5 - 6 lần, vitamin C
gấp 2,5 lần, vitamin B1 và sắt gấp 2,5 lần. Đặc biệt trong sữa đầu có hàm
12
lượng gama globulin mà sữa thường không có. Ngoài ra, Mg++ trong sữa đầu
có tác dụng tẩy các chất cặn bã trong quá trình tiêu hóa ở thời kỳ phát triển
con lúc 21 ngày tuổi nên chúng tôi bổ sung sắt một lần.
Triệu chứng điển hình của thiếu sắt là thiếu máu, hàm lượng
Hemoglobin giảm. Khi thiếu sắt, da lợn con có màu trắng xanh, đôi khi lợn
con bị ỉa chảy, ỉa phân trắng, lợn con chậm lớn, có khi tử vong.
Có thể bổ sung sắt bằng cách tiêm hoặc cho ăn nhưng người ta thường
tiêm ở cổ. Không nên tiêm ở mông do có thể làm hại đến dây thần kinh và
cũng có thể vết sắt dư thừa lưu ở thân thịt mổ bán.
Tập cho lợn con ăn sớm:
Mục đích của việc cho lợn con ăn sớm là để bổ sung thức ăn sớm cho
lợn con. Lợn con ăn được thức ăn có rất nhiều tác dụng: đảm bảo cho lợn con
sinh trưởng phát triển bình thường, không hoặc ít bị stress, không bị thiếu hụt
dinh dưỡng cho nhu cầu phát triển nhanh của lợn con sau 3 tuần tuổi và khi
cai sữa, giảm tỷ lệ hao hụt của lợn mẹ.
- Thúc đẩy bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh và sớm hoàn
thiện hơn. Khi bổ sung thức ăn sớm cho lợn con thì kích thích vào tế bào vách
dạ dày tiết ra HCl ở dạng tự do sớm hơn và tăng cường phản xạ tiết dịch vị.
- Giảm tỷ lệ hao hụt của lợn nái. Nếu không bổ sung thức ăn sớm cho
lợn con thì tỷ lệ hao hụt của lợn nái cao, nhất là đối với lợn nái được nuôi
kém, có khi tỷ lệ hao hụt lên tới 30%, sẽ làm giảm số lứa đẻ trong một năm
(tỷ lệ hao hụt trung bình của lợn nái là 15%).
- Nâng cao được khối lượng cai sữa lợn con, qua nghiên cứu cho thấy
rằng khối lượng cai sữa chịu ảnh hưởng tới 57% của thức ăn bổ sung, trong
khi đó chịu ảnh hưởng của sữa mẹ khoảng 38% và khối lượng sơ sinh là 5%.
Qua nhiều thí nghiệm và thực tế chứng minh rằng những lợn con được tập ăn
sớm thì tăng khối lượng nhanh hơn, tỷ lệ mắc bệnh ít hơn. Giúp cho lợn con
làm quen với thức ăn và sớm biết ăn tốt để tạo điều kiện cho việc cai sữa sớm
14
hơn. Hạn chế tình trạng nhiễm ký sinh trùng và vi khuẩn do lợn con hay gặm
trắng lợn con rất được chú trọng trong chăn nuôi lợn nái sinh sản.
* Đặc điểm sinh trưởng và phát dục của lợn con bú sữa
Lợn con có tốc độ sinh trưởng, phát dục nhanh.
Lợn con hay gia súc nói chung đều có thời kỳ bào thai phát triển tốt thì
sẽ ảnh hưởng tốt đến sự phát triển về sau. Nhìn chung khả năng phát triển của
lợn nhanh hơn so với một số loài gia súc khác. Khối lượng khi cai sữa của lợn
2 tháng tuổi gấp 10 - 15 lần so với khối lượng sơ sinh, trong khi đó bê, nghé
chỉ tăng 3 - 4 lần.
Theo Trần Văn Phùng và cs. (2004) [11], lợn con trong giai đoạn bú
sữa có khả năng sinh trưởng, phát dục rất nhanh. So với khối lượng sơ sinh thì
sau 10 ngày tuổi khối lượng tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp 4 lần,
lúc 30 ngày tuổi tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng gấp 7 - 8 lần, lúc 50
ngày tuổi tăng gấp 10 lần và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 12 - 14 lần. Tuy nhiên
tốc độ sinh trưởng không đều qua các giai đoạn. Tốc độ sinh trưởng nhanh
trong 21 ngày đầu về sau thì giảm, sở dĩ như vậy là do nhiều nguyên nhân,
nhưng chủ yếu là do từ sau 21 ngày khối lượng sữa mẹ bắt đầu giảm và hàm
lượng Hemoglobin trong máu lợn con thấp.
Do sinh trưởng phát dục nhanh nên khả năng đồng hóa và trao đổi chất
của lợn rất mạnh. Ví dụ: lợn con 20 ngày tuổi mỗi ngày cần tích lũy 9 - 10 g
protein/ kg thể trọng, trong khi đó lợn trưởng thành chỉ tích lũy 0,3 - 0,4 g
protein/kg thể trọng.
Theo Trần Văn Phùng và cs. (2004) [11], cơ quan tiêu hóa của lợn giai
đoạn theo mẹ phát triển nhanh về cấu tạo và hoàn thiện dần về chức năng tiêu
hóa, biểu hiện như sau: Dung tích của dạ dày lúc 10 ngày tuổi có thể tăng gấp
3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi tăng gấp 8 lần và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp
60 lần (dung tích lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít). Dung tích ruột non lợn lúc 10
16
ngày tuổi tăng gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi tăng gấp 6 lần, lúc 60
tuổi đầu men này có hoạt tính mạnh, sau đó giảm dần.
+ Men Lactaza: Có tác dụng tiêu hóa đường Lactose trong sữa, men
này có hoạt tính mạnh từ khi lợn mới đẻ ra và tăng cao nhất ở tuần tuổi thứ
hai, sau đó giảm dần.
+ Men Lipaza và Chymosin: Hai men này có hoạt lực mạnh trong 3
tuần đầu sau đó giảm dần.
* Khả năng đáp ứng miễn dịch ở lợn con
Lợn con mới đẻ, lượng kháng thể tăng nhanh sau khi bú sữa đầu từ lợn
mẹ, cho nên khả năng đáp ứng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động,
phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thu được nhiều hay ít từ lượng sữa đầu
của lợn mẹ.
Phản ứng miễn dịch là khả năng của cơ thể đáp ứng với vật lạ khi xâm
nhập vào cơ thể. Trong giai đoạn lợn con các mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể
rất dễ dàng, ở giai đoạn này không được bú sữa đầu thì khả năng lợn con mắc
bệnh tiêu chảy rất cao.
Lợn con không được bú sữa đầu thì 20 - 30 ngày tuổi mới tự tổng hợp
được kháng thể. Vì vậy, việc cho lợn con bú sữa đầu là hết sức cần thiết và
không thể bỏ qua.
* Cơ năng điều tiết thân nhiệt
Khả năng điều tiết thân nhiệt ở lợn con chưa hoàn chỉnh nên thân nhiệt
của lợn con chưa ổn định.
Trung khu điều tiết thân nhiệt của lợn con nằm ở vỏ não, mà não là cơ
quan phát triển muộn nhất cả trong thai và ngoài thai.
Diện tích bề mặt của cơ thể lợn con so với khối lượng chênh lệch tương
đối cao nên khi bị lạnh lợn con mất nhiệt nhanh.
18
Lớp mỡ dưới da mỏng, lượng mỡ và glycozen dự trữ trong cơ thể còn
thấp nên khả năng giữ nhiệt và cung cấp nhiệt kém.