ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN HỒ YẾN CHI
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH
TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Đà Nẵng - Năm 2018
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN HỒ YẾN CHI
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN CHUYỂN DỊCH
CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH
TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Mã số: 60.31.01.05
N ƣ
ƣ n
n
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu ............................................................ 4
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNGĐẾN
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH ......................................... 10
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CƠ CẤU VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ
CẤU KINH TẾ NGÀNH ................................................................................ 10
1.1.1. Những nội dung về cơ cấu kinh tế và cơ cấu kinh tế ngành ....... 10
1.1.2. Những nội dung về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành............... 12
1.1.3. Ý nghĩa CDCC ngành kinh tế ..................................................... 16
1.2. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH
TẾ NGÀNH..................................................................................................... 17
1.2.1. Điều kiện tự nhiên, địa lý............................................................ 17
1.2.2. Nguồn lao động ........................................................................... 18
1.2.3. Nguồn vốn đầu tƣ ....................................................................... 18
1.2.4. Khoa học và công nghệ............................................................... 19
1.2.5. Nhu cầu thị trƣờng ...................................................................... 20
1.2.6. Cơ chế và chính sách .................................................................. 21
1.2.7. Vai trò của Nhà nƣớc .................................................................. 21
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1................................................................................ 22
CHƢƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CỦ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƢƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................................................... 23
2.1. ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU ......................................... 23
2.1.1. Điều kiện tự nhiên....................................................................... 23
2.1.2. Tình hình kinh tế của thành phố Đà Nẵng .................................. 26
2.1.3. Tình hình xã hội của thành phố Đà Nẵng ................................... 28
2.2. GIẢ THUYẾT, KHUNG PHÂN TÍCH VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU.... 30
2.2.1. Giả thuyết nghiên cứu ................................................................. 30
2.2.2. Khung phân tích .......................................................................... 30
2.2.3. Thiết kế nghiên cứu .................................................................... 31
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CDCC
Chuyển dịch cơ cấu
CN
Công nghiệp
CNH
Công nghiệp hóa
DN
Doanh nghiệp
FDI
Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
HĐH
Hiện đại hóa
Năng suất nhân tố tổng hợp
TP
Thành phố
USD
Đồng Đô la Mỹ
VA
Giá trị tăng thêm
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
bảng
3.1.
3.2.
3.3.
3.4.
3.5.
47
49
50
53
3.9.
Thống kê mô tả các biến trong mô hình
54
3.10.
Ma trận tƣơng quan giữa các biến
54
3.11.
Diễn giải các biến sử dụng trong mô hình
56
3.12.
3.13.
3.14.
3.17.
Kết quả đánh giá về thị trƣờng
66
3.18.
Kết quả đánh giá về tài nguyên thiên nhiên
67
3.19.
Kết quả đánh giá về cơ sở hạ tầng
69
3.20.
Kết quả đánh giá về môi trƣờng thể chế
69
3.21.
Kết quả đánh giá về thị trƣờng
71
2.1.
Quy mô và tốc độ tăng trƣởng GRDP của Đà Nẵng
28
2.2.
Thu nhập bình quân đầu ngƣời của thành phố Đà Nẵng
29
3.1.
Cơ cấu GDP theo ngành kinh tế thành phố (giá thực tế)
38
3.2.
3.3.
3.4.
3.5.
3.6.
3.7.
52
3.9.
Tỷ trọng vốn đầu tƣ theo ngành của thành phố Đà Nẵng
53
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết củ đề tài
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một quá trình tất yếu của các nền kinh tế
trong quá trình phát triển. Chuyển dịch cơ cấu đúng hƣớng không chỉ thúc
đẩy tăng trƣởng kinh tế nhanh mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển
bền vững. Qua 20 năm phát triển (1997 - 2017) kể từ khi trở thành thành phố
trực thuộc trung ƣơng, nền kinh tế thành phố Đà Nẵng đã đạt đƣợc những
thành tựu nổi bật về phát triển kinh tế - xã hội, thể hiện sự năng động và bức
phá mạnh mẽ trong việc huy động và tập trung các nguồn lực cho phát triển;
từng bƣớc hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới, khẳng định vai trò trung
tâm kinh tế - xã hội của khu vực miền Trung và Tây Nguyên. Trong giai đoạn
1997-2016, Đà Nẵng đã đạt tăng trƣởng kinh tế cao với tốc độ tăng bình quân
trong giai đoạn này đạt 10,47%/năm nhƣng không ổn định đặc biệt giai đoạn
2011-2015. Cùng với tốc độ tăng trƣởng kinh tế cao, cơ cấu nhóm ngành
kinhtế của thành phố đã có sự chuyển dịch tích cực trong những năm qua,
theo hƣớng công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa trong một nền kinh tế mở,
phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ, tăng dần tỷ trọng các ngành kinh tế
có giá trị gia tăng cao.
Xét cơ cấu kinh tế theo 03 nhóm ngành thì tỷ trọng của ngành nông, lâm,
thành phố Đà Nẵng thông qua quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành; tuy
nhiên việc đi sâu nghiên cứu các nhân tố tác động và làm ảnh hƣởng đến quá
trình chuyển dịch này còn hạn chế. Do đó, việc lựa chọn đề tài nghiên cứu
“Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành tại thành phố
Đà Nẵng” là cần thiết.
2. Mụ t êu n
ên ứu
Mục tiêu tổng quát: Luận văn tập trung nghiên cứu các nhân tố ảnh
hƣởng đến CDCC kinh tế ngành tại thành phố Đà Nẵng.
Mục tiêu cụ thể
3
- Những vấn đề lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, các nhân tố ảnh
hƣởng đến CDCC kinh tế ngành;
- Đánh giá đƣợc các nhân tố ảnh hƣởng đến CDCC kinh tế ngành thành
phố Đà Nẵng;
- Đề xuất đƣợc một số hàm ý chính sách nhằm phát huy tích cực và giảm
thiểu tác động xấu của các nhân tố đến CDCC kinh tế của thành phố.
3. Đố tƣợn và p ạm v n
ên ứu
Đối tượng nghiên cứu: Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là tác động
của các nhân tố tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành.
Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Luận văn nghiên cứu trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
- Thời gian nghiên cứu: Số liệu thu thập về chuyển dịch cơ cấu kinh tế
tăng trƣởng kinh tế.
Các nghiên cứu đầu tiên về tăng trƣởng kinh tế của Fisher (1939) [23] và
Clark (1940) [21], đã chỉ ra rằng sự phát triển của các quốc gia sẽ gắn liền với
sự phát triển của ba khu vực đó là: khu vực I (khu vực nông nghiệp), khu vực II
(khu vực sản xuất hay khu vực công nghiệp) và khu vực III (khu vực dịch vụ).
Trong đó, khu vực I là khu vực sản xuất các loại hàng hóa cơ bản và tiềm năng
phát triển của khu vực này trong một chừng mực nào đó là bị hạn chế; Khu vực
II tạo ra các loại hàng hóa lâu bền để phục vụ cho các nhu cầu tiêu dùng trung
gian.Khu vực III sản xuất các loại hàng hóa xa xỉ và các đầu vào trung gian
dƣới nhiều loại hình dịch vụ khác nhau, và khu vực này có nhiều tiềm năng
phát triển trong xã hội hiện đại. Sau đó các dự báo này đã đƣợc minh chứng
một cách rõ ràng ở các nƣớc có nền kinh tế phát triển (Fuchs, 1968; Bell, 1973;
Kellerman, 1985), cụ thể đó là sự dịch chuyển trong phân bổ lao động theo
hƣớng từ khu vực I sang khu vực II và khu vực III. Về lý thuyết, có nhiều cách
để giải thích kết quả nghiên cứu trên.Thứ nhất, “Quy luật của Engel” dựa trên
tính co giãn của cầu hàng hóa dịch vụ theo thu nhập. Theo quy luật này, khi
nền kinh tế càng phát triển và thu nhập bình quân đầu ngƣời tăng lên thì cầu
của hàng hóa dịch vụ sẽ tăng lên với tỷ lệ cao hơn. Thứ hai, giải thích dựa vào
5
sự khác biệt về năng suất giữa khu vực dịch vụ và các khu vực còn lại. Tốc độ
tăng năng suất lao động của khu vực dịch vụ thấp hơn tƣơng đối so với khu vực
sản xuất và điều này đã làm cho giá cả của hàng hóa dịch vụ trở nên đắt hơn
tƣơng đối so với những loại hàng hóa khác. Và đây cũng chính là nguyên nhân
giải thích cho sự tiếp tục di chuyển lao động từ các khu vực khác sang khu vực
dịch vụ. Thứ ba, giải thích dựa vào sự phân phối của hàng hóa dịch vụ nhƣ là
đầu vào trung gian cho khu vực sản xuất. Khi nền kinh tế phát triển, sự phân
công lao động giữa các ngành sẽ tác động đến sự tăng trƣởng của khu vực dịch
vụ thông qua sự gia tăng cầu của khu vực sản xuất đối với các đầu vào dịch vụ
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt là chuyển mạnh sang cấu trúc xuất khẩu.
Đồng thời nghiên cứu cũng cho thấy mức độ tác động còn phụ thuộc nhiều
vào các đặc điểm của mỗi nƣớc (sự phát triển của địa phƣơng, mức độ cơ sở
hạ tầng, mức độ giáo dục, mức độ mở cửa…..). Nghiên cứu của William
Keng Mun Lee (1997) [34] về tác động của nguồn vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc
ngoài tới chuyển dịch cơ cấu công của Singapore đã chỉ ra những thành công
của nền công nghiệp nƣớc này thông qua chuyển dịch cơ cấu công
nghiệp.Nghiên cứu cũng khẳng định điều này đã khiến cho ngành công
nghiệp của nền kinh tế này giảm đi tính độc lập.
Những lý giải liên quan đến các nhân tố ảnh hƣởng đến chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, nghiên cứu của (Swiecki, 2013) [31] chỉ ra rằng chuyển dịch cơ
cấu kinh tế ngành đƣợc xem là đặc điểm nổi bật của phát triển kinh tế; và kết
quả quan sát từ những quốc gia có nền kinh tế phát triển cho thấy có sự
chuyển dịch trong phân bổ lao động và chi tiêu giữa các ngành nông nghiệp,
công nghiệp và dịch vụ. Từ đó, tác giả đã xây dựng mô hình định lƣợng kết
hợp bốn cơ chế tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong
một khung phân tích. Trong đó, nhân tố đầu tiên là sự tiến bộ của công nghệ
theo ngành và điều này đƣợc giải thích nếu tăng trƣởng năng suất của một
7
ngành chậm hơn so với các ngành khác trong nền kinh tế thì mức giá tƣơng
đối của khu vực chuyển dịch chậm sẽ tăng theo thời gian. Theo đó, các đầu ra
của ngành đƣợc xem là những phần bổ sung cho tiêu dùng, chi tiêu và lao
động sẽ dần dịch chuyển sang những ngành có tăng trƣởng năng suất chậm.
Sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế có thể đƣợc đo lƣờng từ góc độ
tổng cung hay từ góc độ tổng cầu. Từ góc độ tổng cung, sự chuyển dịch cơ
cấu ngành có thể đƣợc đo lƣờng thông qua sự thay đổi của tỷ trọng của mỗi
bộ phận trong tổng thể đầu ra (Lê Đình Hòa, 2003). Tuy nhiên theo cách đo
lƣờng này thì sự thay đổi giữa các ngành chỉ thể hiện ở khía cạnh kết quả mà
Bằng phƣơng pháp phân tích thực chứng tác giảđã trình bày hệ thống các số
liệu thống kê về xu hƣớng tăng vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào các
ngành, các vùng và theo thành phần kinh tế gắn với cơ cấu sản lƣợng. Phân
tích cũng chỉ ra nguồn vốn này đã kéo theo các nhân tố sản xuất khác nhƣ lao
động, công nghệ hƣớng vào khu vực công nghiệp chế biến định hƣớng xuất
khẩu. Nhƣng theo thời gian sự dịch chuyển này đã dần sang sản xuất sản
phẩm công nghệ cao, công nghệ thông tin, vật liệu mới, sản phẩm điện tử….
Khi nghiên cứu quan hệ giữa đầu tƣ và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Nguyễn Công Mỹ và Nguyễn Đăng Hƣng (2011) [9] đã sử dụng mô hình về
quan hệ giữa mức tăng thêm tổng đầu tƣ với mức gia tăng tỷ trọng đầu tƣ và
tỷ trọng của các ngành trong GDP. Sử dụng mô hình này phân tích số liệu đầu
tƣ và cơ cấu các ngành từ 1990 đến 2009, các tác giả đã chỉ ra rằng đầu tƣ
toàn xã hội của Việt Nam tăng lên chủ yếu do tăng tỷ trọng đầu tƣ cho khu
vực phi nông nghiệp trong khi chuyển dịch cơ cấu không tác động nhiều. Tuy
không bàn tới FDI nhƣng nghiên cứu này có thể là gợi ý cho nghiên cứu tác
động của nhân tố vốn đầu tƣ tới CDCC kinh tế ngành.
Nhà kinh tế Porter M (1990) [27] đã phân tích quá trình CDCC kinh tế
9
và các định hƣớng CDCC kinh tế phù hợp với xu thế phát triển kinh tế hiện
đại, hội nhập kinh tế quốc tế và tăng cƣờng năng lực cạnh tranh: “Những yếu
tố đầu vào của sản xuất nhƣ đất đai, lao động, vốn, tài nguyên và sự can thiệp
của chính phủ thông qua trợ cấp, tỷ lệ lãi suất, rào cản thƣơng mại lẫn nhau sẽ
đóng vai trò quan trọng trong việc xác định lợi thế so sánh của một quốc gia
đối với phát triển kinh tế trong đó bao gồm quá trình CDCC kinh tế”. Những
quan điểm về lợi thế cạnh tranh của nhà kinh tế Porter M rất có giá trị đối với
việc điều chỉnh cơ cấu sản xuất tại mỗi quốc gia để đảm bảo lợi thế cạnh tranh
hay nói cách khác là tác động lớn đến định hƣớng CDCC kinh tế tại mỗi quốc
gia trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng phát triển.
trong những không gian và điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể, chúng vận động
hƣớng vào những mục tiêu nhất định. Mỗi vùng, mỗi ngành lại có cơ cấu kinh
tế riêng của mình tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, địa lý, kinh tế - xã hội cụ
thể.
Cơ cấu kinh tế có thể đƣợc hiểu theo nhiều nghĩa, cơ cấu kinh tế có thể
đƣợc hiểu nhƣ là sự phân bổ các yếu tố đầu vào của nền kinh tế theo ngành,
theo việc làm, theo yếu tố địa lý hay theo phân loại sản phẩm đầu ra. Theo đó,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi của tỷ trọng các yếu tố đầu vào phân
bổ cho các ngành, nghề nghiệp hoặc các loại sản phẩm. Bên cạnh đó, cơ cấu
kinh tế còn có thể đƣợc hiểu theo cấu thành đầu ra của nền kinh tế và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế lúc này chính là “sự thay đổi tỷ trọng tƣơng đối của các
thành phần cơ bản của các chỉ số kinh tế vĩ mô: giữa tổng sản phẩm và chi
11
tiêu, giữa nhập khẩu và xuất khẩu, giữa dân số và lực lƣợng lao động”
(Ishikawa, 1987). Và xét về phƣơng diện kinh tế - xã hội, cơ cấu kinh tế có
thể đƣợc xác định theo tỷ trọng đóng góp vào nền kinh tế theo thành phần
kinh tế hay theo vùng địa lý kinh tế.
Cơ cấu kinh tế đƣợc khái niệm theo nghĩa rộng: Cơ cấu kinh tế là một
tổng thể bao gồm những bộ phận cấu thành và các yếu tố liên quan nhƣ: các
yếu tố đầu vào (hay các nhân tố đóng vai trò cung), các yếu tố đầu ra của quá
trình sản xuất và các nhân tố tác động từ bên ngoài.
Nhóm nhân tố đầu vào gồm tập hợp các nguồn lực mà xã hội có thể huy
động vào quá trình sản xuất nhƣ: các nguồn lực tự nhiên (bao gồm tài nguyên
đất, nƣớc, rừng, khoáng sản,…), nguồn lực con ngƣời, nguồn tài chính.
Nhóm nhân tố đầu ra ảnh hƣởng đến quá trình định hƣớng sản xuất,
trong đó thị trƣờng là nơi phát ra các tín hiệu quan trọng bậc nhất dẫn dắt các
nguồn vốn đầu tƣ cũng nhƣ các nguồn lực sản xuất khác, thị trƣờng sẽ chi
phối quyết định phân bổ sản xuất và đầu tƣ vào những lĩnh vực sản xuất nào,
lực lƣợng sản xuất. Khái niệm cơ cấu kinh tế ngành không chỉ đƣợc áp dụng
cho một nền kinh tế mà có thể đƣợc áp dụng cho một vùng hoặc một địa
phƣơng.
Cơ cấu ngành kinh tế luôn thay đổi theo thời gian phù hợp với các điều
kiện kinh tế - xã hội nhất định. Do vậy, chuyển dịch cơ cấu là sự thay đổi của
cơ cấu kinh tế theo thời gian từ trạng thái và trình độ này tới một trạng thái và
trình độ khác phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội và các điều kiện vốn
có nhƣng không lặp lại trạng thái cũ (Bùi Quang Bình (2010)) [4].
1.1.2. Những nội dung về chuyển dị
ơ ấu kinh tế ngành
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình cải biến KT-XH từ tình trạng lạc
hậu bƣớc vào chuyên môn hóa hợp lý, trang bị kỹ thuật, công nghệ hiện đại,
trên cơ sở đó, tạo ra năng suất lao động cao, hiệu quả kinh tế cao và nhịp độ
13
tăng trƣởng mạnh cho nền kinh tế nói chung. CDCC kinh tế bao gồm cải biến
kinh tế theo ngành, theo vùng lãnh thổ và cơ cấu các thành phần kinh tế.
CDCC kinh tế là vấn đề mang tính tất yếu khách quan và là một quá trình đi
lên từng bƣớc dựa trên sự kết hợp mật thiết các điều kiện chủ quan, các lợi thế
KT-XH, tự nhiên trong nƣớc, trong vùng, trong đơn vị kinh tế với các khả
năng đầu tƣ, hợp tác, liên kết, liên doanh về sản xuất, dịch vụ, tiêu thụ sản
phẩm của các nƣớc, các vùng và đơn vị kinh tế khác nhau.
Nền kinh tế vận hành theo các kiểu hay cơ chế khác nhau để phân bổ các
nguồn lực cho các ngành kinh tế. Sự phân bổ này đã tạo ra năng lực sản xuất
của các ngành. Quá trình này đồng thời cũng chịu ảnh hƣởng của cấu trúc nhu
cầu thị trƣờng. Những nhận định này đã đƣợc khẳng định từ các lý thuyết về
cơ cấu và CDCC kinh tế.
Việt Nam có ba ngành lớn, bao gồm: nông - lâm - thủy sản, công nghiệp - xây
dựng, dịch vụ. Đây cũng chính là ba ngành lớn nhất và tạo ra toàn bộ sản
lƣợng hay GDP của nền kinh tế. Cơ cấu ngành này quyết định năng lực sản
xuất và tăng trƣởng của nền kinh tế.
Quá trình thay đổi của cơ cấu ngành từ trạng thái này sang trạng thái
khác ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp với môi trường và điều kiện phát
triển gọi là sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế [15]. Chuyển dịch cơ cấu
ngành không chỉ là thay đổi về số lƣợng các ngành, tỷ trọng của mỗi ngành
mà còn bao gồm sự thay đổi về vị trí, tính chất mối quan hệ trong nội bộ cơ
cấu ngành. Việc chuyển dịch cơ cấu ngành phải dựa trên cơ sở một cơ cấu
hiện có và nội dung của sự chuyển dịch là cải tạo cơ cấu cũ, lạc hậu hoặc
chƣa phù hợp để xây dựng cơ cấu mới tiên tiến, hoàn thiện và bổ sung cơ cấu
cũ nhằm biến cơ cấu cũ thành cơ cấu mới hiện đại và phù hợp hơn.
Để đánh giá sự CDCC có nhiều cách để đo lƣờng khác nhau. Từ góc độ
tổng cung có thể sử dụng cách đo lƣờng sự thay đổi của tỷ trọng của mỗi bộ