Theo dõi quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và biện pháp phòng trị bệnh sinh sản trên đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại Tuấn Hà xã Yên Sơn huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang (Khóa luận tốt nghiệp) - Pdf 50

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
---------------------

MA A VỪ
Tên chuyên đề:
THEO DÕI QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƢỠNG VÀ BIỆN PHÁP
PHÒNG TRỊ BỆNH TRÊN ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN NUÔI TẠI TRẠI
TUẤN HÀ, XÃ YÊN SƠN, HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo:

Chính quy

Chuyên ngành:

Thú y

Khoa:

Chăn nuôi Thú y

Khóa học:

2013 - 2017

Thái Nguyên - 2017


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

Giảng viên hƣớng dẫn: ThS. Trần Nhật Thắng

Thái Nguyên - 2017


i

LỜI CẢM ƠN
Bản khóa luận tốt nghiệp được hoàn thành sau một thời gian học tập,
nghiên cứu và thực hiện chuyên đề thực tập.
Có được kết quả như ngày hôm nay, em xin bày tỏ lòng biết ơn, sự kính
trọng sâu sắc tới: Ban Giám hiệu, khoa Chăn nuôi Thú y, cùng tập thể các
thầy cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho em
hoàn thành khóa luận đúng thời gian quy định. Đặc biệt, em xin chân thành
cảm ơn thầy giáo Ths.Trần Nhật Thắng đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành
khóa luận tốt nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn chủ trại và anh kỹ sư bác quản lý trại, công
nhân tại trại lợn nái Tuấn Hà, huyện Lục Nam,tỉnh Bắc Giang đã tạo điều
kiện cho em trong quá trình thực tập và thực hiện đề tài.
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, người thân, bạn bè đã luôn
ủng hộ, động viên, giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài.
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017
Sinh viên

Ma A Vừ


ii

DANH MỤC CÁC BẢNG


Nxb:

Nhà xuất bản

STT: Số thứ tự
T.T:

Thể trọng


iv

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................... i
DANH MỤC CÁC BẢNG .............................................................................. ii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT ............................................ iii
MỤC LỤC ....................................................................................................... iv
Phần 1. MỞ ĐẦU ............................................................................................ 1
1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề ........................................................... 2
1.2.1. Mục tiêu................................................................................................... 2
1.2.2. Yêu cầu.................................................................................................... 2
Phần 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ......................................................... 3
2.1. Điều kiện cơ sở nơi thực tập ...................................................................... 3
2.1.1. Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập ............................ 3
2.1.2. Cơ sở vật chất của trại ............................................................................. 7
2.2. Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước .............................................. 8
2.2.1. Tổng quan tài liệu.................................................................................... 8
2.2.2.Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan tới chuyên

5.1. Kết luận .................................................................................................... 43
5.2. Đề nghị ..................................................................................................... 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 45
PHụC LụC


1

Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, nhờ áp các thành tựu khoa học kỹ thuật vào
sản xuất, chăn nuôi lợn nước ta đã có những bước phát triển như:tổng đàn
tăng, cơ cấu đàn lợn đa dạng,năng suất, chất lượng cao.. . Chăn nuôi theo kiểu
hộ gia đình ngày càng giảm, thay vào đó là các trang trại với quy mô nhỏ và
vừa ngày càng tăng.
Tuy nhiên, nghề chăn nuôi lợn luôn gặp khó khăn,ngoài sự cạnh tranh
với các ngành nghề khác, các chính sách, chi phí đầu vào, chi phí thức ăn.
Chăn nuôi lợn còn phải đối mặt với tình hình dịch bệnh lợn hay mắc
một số bệnh như bệnh truyền nhiễm, bệnh ký sinh trùng, bệnh sản khoa. Một
trong những bệnh sản khoa thường gặp đó là ở lợn nái sinh sản là bệnh viêm
tử cung, bệnh viêm tử cung ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh sản làm mất sữa
lợn con không có sữa sẽ còi cọc, suy dinh dưỡng lợn con chậm phát triển lợn
nái bị bệnh chậm động dục trở lại không thụ thai có thể dẫn đến mất khả năng
sinh sản. Bệnh viêm tử cung do một số vi khuẩn gây ra như: Esherichia coli,
Streptococccus, Staphylococcus. Bệnh có thể dẫn đến hậu quả như gây chết
thai sẩy thai và làm hạn chế khả năng sinh sản của lợn nái ở các lứa tiếp theo,
ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và hiệu quả của nghề chăn nuôi lợn.
Xuất phát từ thực tiễn kể trên và được sự đồng ý của ban chủ nhiệm khoa
Chăn Nuôi Thú y em tiến hành thưc hiện chuyên đề.

hành chính của xã được xác định như sau:
- Phía Bắc giáp xã Chu Điện.
- Phía Nam giáp xã Chu Xá.
- Phía Đông giáp 2 xã Khám Lạng, Bắc Lũng.
- Phía Tây giáp xã Lan Mẫu, xã Trí Yên huyện Yên Dũng.
Trang trại chăn nuôi lợn Tuấn Hà kết hợp với công ty cổ phần chăn
nuôi C.P Việt Nam là công ty vốn 100% nước ngoài (thái lan) thuộc tập đoàn
C.P. Trang trại xây dựng và đi vào hoạt động từ năm 2013 có tổng diện tích là
30.000m2 với tổng số vốn đầu tư là 12 tỷ.
Tình hình chăn nuôi trong 4 năm vừa qua tại trại Tuấn Hà Bắc Giang
trong năm 2013 số đầu heo nái của trang trại là 600 con, vào năm 2014 số đầu
heo nái là 630 tuy có gặp khó khăn nhưng về cơ bản trang trại vẫn đạt chỉ tiêu
xuất trung bình 1200 con lợn con/tháng. Năm 2015 trang trại có 650 con lợn nái
và số heo con xuất chuồng trung bình 1300 heo con/tháng đến năm 2016 số đầu
heo nái đã tăng lên 660 con, số heo con xuất chuồng trung bình 1350 con/tháng.
Nhìn lại thủa ban đầu khi mới lập trang trại gặp không ít khó khăn, vào
năm 2014 dịch bùng phát tại trang trại trong vòng 1 tháng tổn thất 600 con


4

lợn con nhưng nhờ có kinh nghiệm, kỹ thuật chăn nuôi và được sự hỗ trợ từ
công ty cổ phần chăn nuôi C.P nên trang trại đã vượt qua và vẫn đi vào hoạt
động sản xuất bình thường.
2.1.1.2. Điều kiện khí hậu
Khí hậu xã Yên Sơn không có sự khác biệt so với khí hậu của tỉnh Bắc
Giang và các tỉnh thuộc khu vực Đông Bắc Việt Nam xã nằm trong vùng khí
hậu nhiệt đới gió mùa, một năm có bốn mùa rõ rệt. Mùa Đông có khí hậu khô,
lạnh; mùa Hè khí hậu nóng, ẩm; mùa Xuân và Độ ẩm trung bình trong năm là
83%, một số tháng trong năm có độ ẩm trung bình trên 85%. Các tháng mùa

3.000

10%

Vườn

1.000

3,33%

Khu xử lý chất thải

3.000

10%

30.000m2

100%

Mục đích sử dụng

Tổng diện tích

( Nguồn: theo số liệu điều tra tại trang trại, 2017)


5

 Chủ trang trại làTuấn Hà.

cách nhau bởi 1 bức tường có cửa thông qua 2 dãy, mỗi dãy chuồng có 28 ô
chuồng, sử dụng nuôi nhốt nái đẻ nuôi con và nái mang thai chờ đẻ.
Khu chuồng bầu giáp với khu chuồng đẻ gồm có 8 dãy chuồng, mỗi
dãy có 70 ô chuồng, ở giữa là lối đi, dưới gầm mỗi dãy sẽ có đường dẫn nước


6

thải, chuồng được sử dụng để nuôi nái chờ phối và nái mang thai. Ở chuồng
bầu 1 có khu phối nhốt đực và nái chờ phối để thuận tiện việc phối giống,
đầu dãy bên cạch khu phối có các ô rộng và bên cạnh ô rộng là các ô chuồng
nhốt đực để thuận tiện cho việc thử tính lên giống của nái chờ phối. Nối tiếp
là phòng xử lý tinh dịch sau khai thác và chứa các dụng cụ như que phối
giống, nước cất, kính hiển vi.
Khu chuồng cách ly bao gồm 4 chuồng: 1 chuồng đực và 3 chuồng còn
lại dùng để nuôi nhốt lợn hậu bị mới nhập trại, lợn loại thải, lợn nghi mắc
bệnh. Đầu chuồng đực có 1 ô để giá nhảy để khai thác tinh.
Chuồng bầu, nái đẻ và các ô chuồng được làm bằng khung thép, sàn
chuồng được lắp ghép bằng các tấm sàn bê tông, tấm sàn nhựa có lỗ, cách nền
chuồng một khoảng nhất định (khoảng 1,5m). Chuồng lợn con cai sữa và khu
chuồng cách ly được xây bằng gạch, nền láng xi măng, các chuồng đều có độ
dốc thích hợp nên rất thuận tiện cho việc vệ sinh tiêu độc.
Các khu chuồng nuôi được xây dựng theo hướng Đông – Nam. Chuồng
được xây dựng là chuồng khép kín, các khu chuồng được nối với nhau bởi hệ
thống hành lang láng xi măng được quét vôi sạch sẽ, mỗi đầu chuồng là hệ
thống dàn mát, cuối chuồng là hệ thống quạt hút gió, mái các khu chuồng
được lợp bằng mái tôn, cách sàn chuồng khoảng 3 – 3,5m. Tất cả các khu
chuồng 2 bên tường có hệ thống cửa sổ bằng kính để lấy ánh sáng tự nhiên
vào chuồng. Trên mái, dàn mát có hệ thống vòi phun nước giúp làm giảm
nhiệt độ chuồng nuôi vào mùa hè, mùa đông thì có thể dùng bạt che phần dàn

Chuồng nuôi nái chờ phối sau cai sữa con và nái mang thai được xây
thành 2 dãy đối diện với hành lang ở giữa dùng để cho ăn, chăm sóc. Máng
ăn, máng uống ở phía trước chuồng vì trang trại sử dụng chuồng cá thể.
Chuồng nái nuôi con hiện nay thường dùng chuồng lồng. Chuồng gồm
3 ngăn: Ngăn giữa dành cho heo mẹ và 2 ngăn ở hai bên dành cho heo con.


8

Tổng diện tích chuồng khoảng 3,96 - 4,32 m2; kích thước 2,2 - 2,4m x 1,8m
chiều rộng (0,6m ở giữa cho heo mẹ và 0,8 và 0,4m mỗi bên cho heo con).
Chiều cao của ngăn heo mẹ là 0,9 - 1m, chiều cao của ngăn heo con là 0,5 0,6m. Máng ăn đặt cao hơn sàn chuồng 0,25m.
Chuồng heo cai sữa trang trại tuấn Hà sử dụng chuồng nền bằng bê tông.
* Thuận lợi và khó khăn của trại
- Thuận lợi:
+ Trại được xây dựng trên một cánh đồng nên cách xa khu dân cư,
không làm ảnh hưởng đến người dân xung quanh.
+ Đội ngũ quản lý, cán bộ kỹ thuật, công nhân của trại có năng lực,
năng động, nhiệt tình và có trách nhiệm trong công việc.
+ Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị hiện đại,
do đó rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi lợn công nghiệp hiện nay.
- Khó khăn:
+ Trại nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết diễn biến
phức tạp nên khâu phòng trừ bệnh gặp nhiều khó khăn. Năm 2014, khi trại
vừa bắt đầu vào hoạt động ổn định thì dịch bệnh tai xanh bùng phát làm trại
thiệt hại khá lớn về kinh tế và làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của trại.
2.2. Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nƣớc
2.2.1. Tổng quan tài liệu
2.2.1.1. Đặc điểm cấu tạo giải phẫu cơ quan sinh dục của lợn nái
Theo Đặng Quang Nam (2002) [9], cơ quan sinh dục cái có các bộ

tử cung. Cổ tử cung không có gấp nếp hoa nở mà là những cột thịt xen kẽ cài
răng lược với nhau.
Cấu tạo tử cung xếp từ ngoài vào trong có: Tương mạc được nối với
dây chằng rộng, lớp cơ rất phát triển (dày, khỏe, có cấu tạo phức tạp phù hợp


10

với chức năng chứa thai phát triển và đẩy thai khi đẻ. Cơ dọc ở ngoài, cơ
vòng ở trong và phát triển mạnh ở cổ tử cung tạo thành cơ thắt), lớp niêm mạc
trong cùng màu hồng nhạt có nhiều gấp nếp với nhiều tuyến tiết chất nhờn.
- Âm đạo (Vagina): Âm đạo là đoạn nối tiếp sau cổ tử cung, trước âm
hộ. Đây là nơi tiếp nhận dương vật khi giao phối, phía trên là trực tràng, phía
dưới là bóng đái, nó được ngăn cách với âm hộ bởi màng trinh.
Cấu tạo: Lớp ngoài là tương mạc phủ phần trước âm đạo. Lớp giữa là
lớp cơ trơn xếp theo các chiều khác nhau dính lẫn lộn với tổ chức liên kết
bọc ngoài. Lớp niêm mạc có nhiều gấp nếp nhăn nheo theo chiều dọc, trong
đó có nhiều chất nhờn. Âm đạo có khả năng co giãn rất lớn và là đường đi
ra của thai.
- Âm hộ (Vulva): Đây là đoạn sau cùng của bộ máy sinh dục cái, sau
âm đạo và ngăn cách âm đạo bởi màng trinh. Âm hộ nằm dưới hậu môn và
được thông ra ngoài bởi một khe thẳng đứng gọi là âm môn. Trong âm hộ còn
có lỗ thông với bóng đái, tuyến tiền đình (Bartholin) và khí quan cương cứng
gọi là âm vật (Clitoris).
Âm môn là một khe thẳng đứng dưới hậu môn, có 2 môi nối với nhau
bởi 2 mép. Môi lớn ở ngoài dày trùm lấy môi nhỏ ở trong. Mép trên hơi nhọn,
mép dưới rộng bao quanh âm vật. Mép trên và dưới được bao bởi lớp da
mỏng mịn, phía dưới mép dưới có lông.
Bộ phận phía trong âm hộ và âm môn:
+ Màng trinh (Hymen): Ngăn cách giữa âm đạo và âm hộ.

tuyến dày đặc.
+ Núm vú: Một bầu vú có một núm vú cấu tạo bởi da - tổ chức liên kết
- cơ - ống dẫn sữa. Ống dẫn sữa gồm 2 - 3 ống thông nối từ xoang sữa (Bể
sữa) ra đầu núm vú. Ở đầu núm vú, sợi cơ trơn xếp thành vòng tạo thành cơ
vòng đầu vú giữ cho đầu vú ở trạng thái khép kín khi không thải sữa.
+ Quá trình mang thai và đẻ:


12

Nguyễn Xuân Tịnh (1996) [16] cho biết, thụ thai là sự kết hợp giữa tinh
trùng và trứng tạo thành hợp tử, hay nói cụ thể hơn là quá trình đồng hóa giữa
tinh trùng và trứng. Đó là kết quả của sự tái tổ hợp các gen từ 2 nguồn gen
khác nhau. Thời gian mang thai của lợn trung bình 114 ngày. Khi mang thai
thể vàng tồn tại và tiết ra kích tố progesterone ức chế sự phát triển của bao
noãn. Do đó, con vật chửa sẽ không động dục và không thải trứng.
Thời gian chửa của lợn cái được chia ra làm hai thời kỳ:
+ Chửa kỳ 1: Là thời gian lợn chửa 84 ngày đầu tiên.
+ Chửa kỳ 2: Là thời gian lợn chửa từ ngày chửa thứ 85 đến khi đẻ.
- Theo Trương Lăng (2003) [6], trong thời kỳ lợn chửa có thể xuất hiện
hai tai biến:
+ Toàn bộ các thai chết gây sảy thai.
+ Một phần thai chết, các thai khác tiếp tục phát triển xen kẽ không bị
đẩy ra ngoài.
2.2.1.2. Một số bệnh sinh sản ở lợn nái
Bệnh viêm tử cung
Bệnh viêm tử cung xảy ra trên các giống lợn nội, ngoại khác nhau. Lợn
nái đẻ ít lứa, nhiều lứa hay đang nuôi con đều có thể mắc bệnh song tỷ lệ mắc
bệnh phụ thuộc vào yếu tố vệ sinh, chăm sóc nuôi dưỡng. Khi gia súc sinh đẻ
nhất là trong trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ, niêm

Theo Đoàn Kim Dung và cs

(2002) [ 3] cho biế t , nguyên nhân gây

viêm tử cung là do vi khuẩ n tu ̣ cầ u vàng (Staphylococcus aureus), Liên cầ u
dung huyế t

(Streptococcus hemolitica) và các loại

Proteus vulgais,

Klebriella, E. coli….
Theo Lê Văn Năm và cs

(1997) [ 10] cho rằ ng , có rất nhiều nguyên

nhân từ ngoa ̣i cảnh gây bê ̣nh như: Do thức ăn nghèo dinh dưỡn g, do can thiê ̣p
đỡ đẻ bằ ng du ̣ng cu ̣ hay thuố c sản khoa sai kỹ thuâ ̣t dẫn đế n Muxin của chấ t
nhày các cơ quan sinh dục bị phá hủy hoặc kết tủa , kế t hơ ̣p với viê ̣c chăm sóc


14

nuôi dưỡng bấ t hơ ̣p lý và thiế u vâ ̣n đô ̣ng đã làm châ ̣ m quá triǹ h thu teo sinh
lý của dạ con (trong điề u kiê ̣n cai sữa bình thường da ̣ con trở về khố i lươ ̣ng
kích thước ban đầu khoảng 3 tuầ n sau đẻ ). Đây là điề u kiê ̣n tố t để vi khuẩ n
xâm nhâ ̣p vào tử cung gây bênh . Biế n chứng nhiễm trùng do vi khuẩn xâm
nhâ ̣p vào da ̣ con gây lên trong thời gian đô ̣ng đực (vì lúc đó tử cung mở ) và
do thu ̣ tinh nhân ta ̣o sai kỹ thuâ ̣t.
Bê ̣nh còn xảy ra do thiế u sót về dinh dưỡng và quản lý

- Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sảy thai.
Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt. Khi mang thai, sự co
thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của Progesterone, nhờ vậy phôi có
thể bám chặt vào tử cung.
Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử
cung tiết nhiều Prostaglandin F2α (PGF2α), PGF2α gây phân huỷ thể vàng ở
buồng trứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây
co mạch hoặc thoái hoá các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi
đến thể vàng. Thể vàng bị phá huỷ, không tiết Progesterone nữa, do đó hàm
lượng Progesterone trong máu sẽ giảm làm cho tính trương lực co của cơ tử
cung tăng nên gia súc cái có chửa dễ bị sảy thai.
- Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai
chết lưu.
Lớp nội mạc của tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để
giúp phôi thai phát triển. Khi lớp nội mạc bị viêm cấp tính, lượng
Progesterone giảm nên khả năng tăng sinh và tiết dịch của niêm mạc tử cung
giảm, do đó bào thai nhận được ít thậm chí không nhận được dinh dưỡng từ
mẹ nên phát triển kém hoặc chết lưu.
- Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn sữa nên lợn con trong
giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy.
Khi lợn nái bị nhiễm trùng tử cung, trong tử cung thường có mặt của vi
khuẩn E. coli, vi khuẩn này tiết ra nội độc tố làm ức chế sự phân tiết kích
thích tố tạo sữa prolactin từ tuyến yên, do đó lợn nái ít hoặc mất hẳn sữa.
Lượng sữa giảm, thành phần sữa cũng thay đổi nên lợn con thường bị tiêu
chảy, còi cọc.


16

- Lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục

chảy ra thì có thể là do viêm bàng quang. Nếu mủ chảy ở thời kỳ động dục thì
có thể bị nhầm lẫn.
Như vậy, việc kiểm tra mủ chảy ra ở âm hộ chỉ có tính chất tương đối.
Với một trại có nhiều biểu hiện mủ chảy ra ở âm hộ, ngoài việc kiểm tra mủ
nên kết hợp xét nghiệm nước tiểu và kiểm tra cơ quan tiết niệu sinh dục. Mặt
khác, nên kết hợp với đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái để chẩn đoán cho
chính xác.
Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mức độ
ảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái. Để hạn chế tối thiểu
hậu quả do viêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗi thể viên từ
đó đưa ra phác đồ điều trị tối ưu nhằm đạt được hiệu quả điều trị cao nhất,
thời gian điều trị ngắn nhất, chi phí điều trị thấp nhất.
Bệnh sót nhau
Lợn nái bị viêm niêm mạc tử cung nên sau khi đẻ nhau không ra hết,
can thiệp vội vàng, thô bạo, không đúng kỹ thuật nên nhau bị đứt và sót lại.
Lợn nái quá già, đẻ nhiều đuối sức, tử cung co bóp kém không đẩy được
nhau ra.
Nguyên nhân: Trịnh Đình Thâu và cs (2010) [13]: Sau khi đẻ tử cung
co bóp yếu trong thời gian mang thai, nhất là giai đoạn cuối con vật không
được vận động thỏa đáng. Trong thức ăn thiếu các chất khoáng, nhất là Ca và
P. Hoặc tử cung bị sa liệt, con vật quá gầy yếu hoặc quá béo, chửa quá nhiều
thai, thai quá to, khó đẻ, nước ối quá nhiều làm tử cung giãn nở quá mức.
+ Kế phát sau các bệnh khó đẻ khác.
+ Nhau mẹ và nhau con dính lại với nhau do con vật mắc các bệnh truyền
nhiễm đặc biệt bệnh sẩy thai truyền nhiễm, hoặc do cấu tạo của nhau thai.
Triệu chứng:
Căn cứ vào mức độ sát nhau, người ta chia ra làm 2 loại:


18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status