1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài :
Mỗi môn học ở trường phổ thông đều có một vai trò quan trọng trong việc
đào tạo nên một con người toàn diện. Ở bậc Tiểu học, học sinh được học các
môn học rất cơ bản như Toán, Tiếng Việt, Đạo đức, Khoa học, Lịch sử- Địa lí,
Kĩ thuật, Âm nhạc, Mĩ thuật. Môn khoa học được xây dựng trên cơ sở nối tiếp
những kiến thức của môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1,2,3. Nội dung chương trình
được cấu trúc đồng tâm mở rộng và nâng cao theo các chủ đề; tích hợp các nội
dung của khoa học tự nhiên với khoa học về sức khoẻ được lựa chọn thiết thực
gần gũi và có ý nghĩa đối với học sinh, giúp các em vận dụng những kiến thức
khoa học vào đời sống hàng ngày. Chương trình đã chú trọng tới hình thành và
phát triển các kỹ năng như: quan sát, thí nghiệm, phán đoán, giải thích các sự vật
hiện tượng trong tự nhiên, biết vận dụng kiến thức khoa học vào cuộc sống.
Tăng cường tổ chức các hoạt động học tập nhằm phát huy tính tích cực, tự lực,
tìm tòi phát hiện ra kiến thức.
Trong dạy học, không có phương pháp dạy học nào là vạn năng, việc tìm
kiếm và vận dụng các phương pháp tiên tiến vào quá trình dạy học các môn học
ở Tiểu học nói chung và môn Khoa học nói riêng là vấn đề quan trọng nhằm
hình thành cho học sinh phương pháp học tập độc lập, sáng tạo, qua đó nâng cao
chất lượng dạy học. Một trong những phương pháp có nhiều ưu điểm, đáp ứng
được mục tiêu yêu cầu đổi mới và vận dụng tốt vào quá trình dạy học môn Khoa
học và môn TNXH ở tiểu học hiện nay đó là phương pháp “Bàn tay nặn bột”.
Qua thực tế triển khai phương pháp dạy học "bàn tay nặn bột" đây là một
phương pháp tích cực, nhằm hình thành thế giới quan khoa học và niềm say mê
sáng tạo cho học sinh. Ở phương pháp này học sinh được tham gia các thí
nghiệm rồi tự đánh giá, thảo luận so sánh kết quả với các bạn trong nhóm để đi
đến kết quả. Hầu hết học sinh đều cảm thấy hứng thú, chủ động trong suốt quá
trình thời gian của tiết học, nắm vững kiến thức, hiểu bài sâu hơn. Tuy nhiên
một số giáo viên vẫn còn thiếu kĩ năng về phương pháp mới. Các bước đi vẫn
đang còn lộn xộn không theo một quy trình chặt chẽ nên hiệu quả chưa cao. Từ
việc sử dụng chưa đúng các phương pháp dạy học đã ảnh hưởng đến chất lượng
hợp tác trong học tập.
- Phát triển và nhân rộng những cá nhân làm tốt phương pháp này để các
đồng nghiệp cùng trao đổi, học hỏi.
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
Những biện pháp chỉ đạo về việc áp dụng phương pháp "bàn tay nặn bột"
vào dạy học môn TNXH và môn Khoa học ở trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi.
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài đã sử dụng các phương pháp như: phương pháp đọc tài liệu, phương
pháp điều tra, phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp thực nghiệm,
phương pháp đàm thoại, phỏng vấn, phương pháp tổng kết, rút kinh nghiệm.
1.5. Điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm
Đề xuất một số biện pháp chỉ đạo việc áp dụng phương pháp "bàn tay nặn
bột" trong dạy học, thực hiện hóa chủ trường đổi mới phương pháp dạy học của
ngành giáo dục và đào tạo góp phần nâng cao chất lượng giáo dục ở trường Tiểu
học Nguyễn Văn Trỗi.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận:
Đất nước ta đang bước vào thời kì hội nhập và toàn cầu hóa. Vì vậy đòi
hỏi giáo dục phải đào tạo lớp người lao động mới: Thông minh, năng động,
sáng tạo. Yêu cầu đó buộc giáo dục phải chuyển mục tiêu đào tạo từ “biết gì?”
sang “có năng lực giải quyết vấn đề gì?”. Để đạt mục tiêu đó thì việc dạy học
phải chuyển từ trang bị tri thức sang bồi dưỡng năng lực, trong đó đặc biệt
quan trọng là năng lực sáng tạo. Theo đó, nhiều phương pháp dạy học tích
cực ra đời. Cuối những năm 90 của thế kỉ XX, một phương pháp dạy học tích
cực mới nữa ra đời có tên là phương pháp “Bàn tay nặn bột”.
2.1.1. Mục tiêu của môn Khoa học
Mục tiêu của môn khoa học lớp 4,5 là giúp học sinh có một số kiến thức
cơ bản ban đầu về sự trao đổi chất; sự sinh sản của động vật, thực vật; đặc điểm
và ứng dụng của một số chất, một số vật liệu và các dạng năng lượng thường
gặp trong đời sống và sản xuất. Bước đầu hình thành và phát triển cho các em
chuyên môn sâu, mở các chuyên đề để giáo viên dự giờ trao đổi kinh nghiệm lẫn
nhau. Trong các buổi sinh hoạt chuyên môn, giáo viên được trao đổi những vấn
đề còn vướng mắc hoặc những vấn đề khó nhằm rút kinh nghiệm chung trong
công tác giảng dạy. Học sinh chăm ngoan, ham học luôn thực hiện tốt các nhiệm
vụ của người học sinh. Đây chính là những yếu tố giúp trường Tiểu học Nguyễn
Văn Trỗi trở thành một địa chỉ "đỏ" đáng tin cậy của phụ huynh học sinh.
2.2.2. Khó khăn:
Qua dự giờ, tôi thấy một bộ phận nhỏ giáo viên còn lúng túng trong việc
sử dụng các phương pháp dạy học. Giờ học thiếu sinh động, không khí lớp học
còn trầm, học sinh chưa tự chủ trong việc tìm kiếm tri thức nên chưa gây được
hứng thú trong học tập. Mặc dù các em biết làm việc tập thể, hợp tác, trao đổi,
trình bày các ý kiến cá nhân, biết làm một số thí nghiệm thực hành đơn giản.
Một số học sinh ít tò mò, ít đặt ra những câu hỏi thắc mắc và hầu như mơ hồ về
biểu tượng của những sự vật hiện tượng mà các em được tìm hiểu, các kỹ năng
kỹ xảo thực hành còn vụng về, lúng túng. Vì các em thiếu hẳn kỹ năng thực
hành nên việc vận dụng những kiến thức vào thực tiễn còn hạn chế. Các em
chưa có thói quen ghi lại những gì mà các em quan sát được. Việc xác lập mục
đích quan sát và mục đích của thí nghiệm chưa tốt.
3
2.3. Kết quả khảo sát:
Để xác lập cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu, tôi đã tiến hành khảo
sát nhằm đánh giá khả năng nắm kiến thức của các em, kỹ năng vận dụng các
kiến thức đã học để làm bài tập và vận dụng thực tế... Kết quả khảo sát chất
lượng đầu năm 2017- 2018 như sau:
Kết quả (Tính theo tỉ lệ %)
Tốt Bình thường Chưa tốt
Kĩ năng nhận thức
31,6
pháp "Bàn tay nặn bột" đạt hiệu quả.
Giải pháp 1: Nâng cao nhận thức cho giáo viên về sự cần thiết của việc
đổi mới phương pháp dạy học và những hiểu biết về PPBTNB
Phương pháp dạy học là một vấn đề có tính lịch sử, muốn đổi mới phương
pháp dạy học thì phải đổi mới trước hết ở ý thức. Để nâng cao nhận thức cho
giáo viên về sự cần thiết của việc đổi mới phương pháp dạy học và những ưu
điểm của PPBTNB, tôi đã thực hiện như sau:
Một là, Tổ chức các buổi sinh hoạt tư tưởng chính trị để giáo viên nắm
được sự biến chuyển của xã hội, sự phát triển kinh tế văn hóa của đất nước
của địa phương; tổ chức cho giáo viên học tập văn bản pháp quy giáo dục và
đào tạo.
Hai là, Tổ chức học tập các chuyên đề về đổi mới phương pháp, tiếp cận
với phương pháp, kĩ thuật dạy học mới đặc biệt là phương pháp bàn tay nặn bột.
Từ việc để giáo viên hiểu mục tiêu hàng đầu của phương pháp "Bàn tay nặn bột"
là giúp học sinh tiếp cận dần các khái niệm khoa học và kỹ thuật thực hành, kèm
theo sự vững vàng trong diễn đạt, nói và viết.
Ba là, tổ chức tiết dạy mẫu để giáo viên thấy được những ưu điểm của
phương pháp dạy học Bàn tay nặn bột
a. Khái niệm phương pháp "Bàn tay nặn bột".
Phương pháp “Bàn tay nặn bột” là một phương pháp dạy học mà trong
đó, học sinh tiến hành các thao tác trí tuệ có sự hỗ trợ của một số dụng cụ và
những giác quan để nghiên cứu, tìm tòi, khám phá ra tri thức mới. Tất cả suy
nghĩ và kết quả được học sinh mô tả lại bằng chữ viết, lời nói, hình vẽ.
Kĩ năng được đánh giá
4
Hay nói cách khác: “ Bàn tay nặn bột” là một phương pháp dạy học được
tổ chức nhằm giúp học sinh tự phát hiện ra tri thức khoa học. Trên cơ sở vận
c. Bản chất của việc dạy - học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột”.
Bản chất của phương pháp “Bàn tay nặn bột” không phải là phương thức
mới, cho phép các em hội nhập tốt hơn vào đời sống tự nhiên mà tạo cho các em
một cách xử lý độc lập bằng việc sử dụng giác quan và một số dụng cụ hỗ trợ
cho các thao tác trí tuệ, có phần nào giống như một nhà nghiên cứu.
Dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột” không đòi hỏi phải sử dụng
những dụng cụ thí nghiệm phức tạp, hiện đại, đắt tiền mà các dụng cụ ở đây
không quá tốn kém, đa số là các vật dụng dễ kiếm, dễ sử dụng, không nặng nề.
Nó được sử dụng hàng ngày với những vật liệu đơn giản là đủ. Các thao tác trên
những dụng cụ thí nghiệm cũng hết sức đơn giản và không cần có kĩ thuật gì đặc
biệt. Các em có thể thử nghiệm nhu cầu của cây trồng bằng cách thay đổi các
thông số : đất, nước, ánh sáng, nhiệt độ, không khí,... bằng cách so sánh và phân
tích kết quả thực nghiệm. Các em sẽ phát hiện ra rằng: chỉ cần thay đổi mỗi lần
5
một thông số là có những kết luận khác nhau. Trong quá trình ấy, học sinh đặt ra
câu hỏi thắc mắc: Tại sao có những loại cây sống bám trên cây khác mà không
cần đến yếu tố đất? Tại sao sự nảy mầm không chỉ xảy ra trong đất mà còn cả
trên nhựa, tờ giấy?... Như vậy trong hạt có gì? Cây trồng có ăn đất không? Tại
sao lại bón phân cho cây ?...
d. Một số nguyên tắc khi sử dụng phương pháp“ Bàn tay nặn bột”
vào quá trình dạy học.
- Giáo viên tổ chức các hoạt động trong giờ học nhằm đến một sự tiến bộ
trong học tập. Các hoạt động này gắn với nội dung chương trình và dành phần
lớn quyền tự chủ cho học sinh.
- Các em cần được quan sát một số sự vật, hiện tượng của thế giới thực
tại, gần gũi, dễ cảm nhận. Trong quá trình học tập, các em tự lập luận và đưa ra
các lý lẽ, thảo luận cùng bạn đưa ra các kết quả trên cơ sở xây dựng kiến thức
cho mình. Một hoạt động mà hoàn toàn chỉ dựa trên sách vở là không đủ. Mỗi
6
Bước 3: Thảo luận tập trung: đại diện các tổ nêu ý kiến, những điều còn băn
khoăn, thắc mắc về phương pháp bàn tay nặn bột, các tổ khác nhận xét bổ sung.
Bước 4: Tổng kết và vận dụng: Ban chuyên môn tổng kết các vấn đề nổi bật và
những vấn đề được rút ra sau buổi chuyên đề. Từ đó hướng giáo viên áp dụng
phương pháp dạy học cho phù hợp với thực tiễn.
Sau đó tôi chỉ đạo việc thống nhất thực hiện quy trình dạy học như sau:
Bước 1 : Giao nhiệm vụ.
+ Chia lớp thành các nhóm (mỗi nhóm có 2; 4 hoặc 6 học sinh).
+ Giao nhiệm vụ cho mỗi nhóm.
+ Phát cho mỗi nhóm những đồ dùng, phương tiện cần thiết để làm thí nghiệm.
+ Làm thực nghiệm theo yêu cầu (thường làm ra một kết quả cụ thể).
+ Quan sát hiện tượng xảy ra rồi ghi chép lại ( Mỗi nhóm có một quyển vở )
+ Giải thích hiện tượng và rút ra kết luận khoa học .
Bước 2 : Học sinh thực hiện nhiệm vụ.
+ Học sinh thảo luận đề xuất các phương án giải quyết.
+ Học sinh lần lượt thử các phương án đề xuất.
+ Trong trường hợp thành công, các em ghi lại diễn biến của thí nghiệm vào sổ.
+ Học sinh tập giải thích hiện tượng và rút ra kết luận khoa học. (Đây chính là
tri thức khoa học mà học sinh tìm ra).
Bước 3 : Trình bày kết quả.
+ Học sinh trình bày kết quả thí nghiệm trước lớp theo nhóm. Các nhóm khác
đặt câu hỏi mà nhóm mình quan tâm thắc mắc.
+ Các nhóm khác có thể tiếp tục làm thí nghiệm nếu có cách giải quyết khác.
Bước 4: Tổng kết, đánh giá.
+ Giáo viên kết luận : Khẳng định kết quả thí nghiệm đúng và kết luận khoa học
tương ứng mà học sinh phát hiện.
Theo d
Yêu cầu
quả; giúp
chốt lại ki
Đ
8
* Những lưu ý khi sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn
bột” đến giáo viên.
- Việc chuẩn bị các vật liệu, đồ dùng dạy học có ý nghĩa vô cùng quan
trọng vì nếu không có đồ dùng dạy học thì không thể tiến hành được.
- Hệ thống câu hỏi phải gọn, rõ ràng, dễ hiểu, hạn chế những từ ngữ mang
khái niệm mà các em chưa biết. Nếu có, giáo viên nên tìm những từ ngữ thay thế
sao cho vừa đảm bảo học sinh hiểu được vừa giữ nguyên được ý nghĩa của nó.
Câu hỏi thường mang tính chất mở hoặc nửa mở phù hợp với mục tiêu bài học
và phù hợp với trình độ nhận thức của các em. Đồng thời phải có tác dụng khêu
gợi trí tò mò, ham hiểu biết khoa học, kích thích suy nghĩ và tiến hành giải quyết
để đem lại những hiểu biết cho các em.
- Đối với phương pháp này việc đánh giá học sinh cần phải phối hợp đánh
giá về năng lực quan sát, năng lực tư duy, khả năng suy luận và phán đoán, kỹ
năng làm thí nghiệm, cách sử dụng ngôn ngữ để biểu đạt (kể cả trong khi nói và
viết), sự hứng thú tìm tòi, sự tò mò ham hiểu biết, sự tham gia tích cực trong giờ
học...Tất cả những điều đó nhằm kích thích, lôi kéo các em khám phá thế giới
không ngừng, tạo ra sự cân đối ở các em giữa kiến thức và kỹ năng, giữa lý
thuyết và thực hành.
Bước 1: Gv yêu cầu học sinh dùng một cốc nước để dấu đi một viên bi ?
- Học sinh tìm nhiều cách nhưng sẽ không có cách nào dấu được viên bi.
Từ đó học sinh nêu được: Nước trong suốt.
GV yêu cầu học sinh tiếp tục thực hiện dùng một cốc nước để làm đổi
màu viên phấn. Học sinh thực hiện theo yêu cầu thấy viên phấn không đổi màu.
Kết luận: Nước không màu.
Nước không màu, trong suốt
Bước 2: GV cho học sinh chuyển cốc nước sang chai mà vẫn giữ nguyên hình
dạng. Học sinh phát hiện : Hình dạng của nước là bình chứa nó. Từ đó học sinh
rút ra kết luận: Nước không có hình dạng nhất định.
Thí nghiệm nước không có hình dạng nhất định
* Đồ dùng thực hiện mục tiêu 2: GV cho học sinh chuẩn bị: 1 tấm kính
(vẽ một vòng tròn); 1 ít nước trong cốc; bông, muối, đường, cát.
- GV yêu cầu học sinh dùng ít nước trong cốc, hãy giữ nguyên lượng
nước trong phạm vi vòng tròn tấm kính. Học sinh sẽ không thể tìm được cách
nào thoả mãn được yêu cầu trên.
- GV hỏi học sinh làm thế nào để giữ nguyên được vị trí của giọt nước khi
ta nghiêng tấm kính. Học sinh nhận thấy đó là điều vô lí không thể xảy ra.
10
- GV yêu cầu học sinh làm giảm nước trong cốc bằng bông ? Học sinh
thấy nước thấm qua bông.
Kết luận: Nước lan ra khắp mọi phía; nước chảy từ cao xuống thấp, lan ra khắp
mọi nơi. Nước thấm qua 1 số vật.
- GV yêu cầu học sinh làm nóng chiếc thìa bằng ngọn nến mà không được
chạm thìa vào ngọn lửa? (Cách làm đúng là để thìa gần ngọn lửa).
- Hãy làm lạnh chiếc ống sữa bò bằng khay đá mà không chạm ống bò
vào khay đá đó? ( Cách làm đúng là chụp bơ bò lên đá).
* Kết luận: Các vật ở gần vật nóng thì nóng lên, các vật ở gần vật lạnh
hơn thì lạnh đi.
Sau khi thực hành chuyên đề, các tổ khối góp ý rút kinh nghiệm và xây
dựng cho tiết học của khối mình để đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả giáo dục. Đây là một số tình huống của giáo viên trường Tiểu học
Nguyễn Văn Trỗi đã sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột môn Khoa học
lớp 4,5 thời gian qua.
Ví dụ 1: (Dự giờ cô Sâm - 4C) Bài 30: Làm thế nào để biết có không khí?
- Giáo viên đưa ra một túi ni lông màu đen trong đó đựng đầy không khí
(miệng của túi ni lông buộc kín) cho học sinh sờ nắn và bảo các em đoán xem
trong túi này có gì?
- Học sinh sờ nắn đưa ra các phương án: Không có gì; Có bông; Có không
khí.....
* Giáo viên mở túi ni lông ra để cho học sinh xác định rằng trong đó có
không khí. Sau đó đặt vấn đề : Theo các em, không khí có ở những nơi nào?
Học sinh nêu: Có ở khắp nơi; Có trong cái chai rỗng ; Trong cục đất khô…..
GV : Để biết được không khí có ở trong chai rỗng, trong miếng đất khô và có ở
khắp nơi hay không, chúng ta cần phải làm gì?
- HS: Làm thí nghiệm. Đề xuất phương án thí nghiệm, tiên đoán kết quả,
tiến hành thí nghiệm và báo cáo kết quả.
* Thảo luận đưa ra kết luận chung: Xung quanh mọi vật và mọi chỗ, bên
trong vật đều có không khí.
- Tự điều chỉnh kiến thức khoa học tìm được của mình vào vở thí nghiệm.
Học sinh ghi lại kết quả của thí nghiệm về không khí có ở khắp nơi
rồi nhét vào cổ chai và đục một lỗ trên đáy chai rồi chúc cốc xuống để lọc.
Nhưng nước chỉ chảy được một lúc rồi dừng hẳn. Trong lúc cả nhóm đang loay
hoay không biết làm thế nào thì một em đã biết đục thêm một lỗ khác trên đáy
chai. Kết quả là nước lại chảy bình thường. Sau tiết học, tôi hỏi thì em trả lời “
Khi bố em đục hộp sữa ông Thọ, bố em đục hai lỗ. Bố em bảo làm như thế để
không khí tràn vào làm sữa chảy ra nhanh hơn”. Điều đó chứng tỏ các em đã rất
linh hoạt, đã biết xử lý khi thí nghiệm không thành công và biết vận dụng những
gì quan sát được trong đời sống hàng ngày vào giải quyết những vấn đề trong
học tập.
Ví dụ 3: (Dự giờ cô Linh 4E) Bài 22: Mây được hình thành như thế
nào? Mưa từ đâu ra? (Bài học dùng tên của đầu bài làm câu hỏi).
* GV cho HS quan sát những đám mây trên bầu trời, đưa ra vấn đề “ Mây
được hình thành như thế nào”? HS có thể đặt câu hỏi xung quanh vấn đề này là:
- Những đám mây có phải là khói không?/Hơi nước bốc lên rồi nó đi
đâu?/ Vì sao khi có nhiều mây thì có mưa còn ít mây thì không mưa?/Liệu ở trên
đó có lạnh không?
* Sau đó các em có thể đưa ra các giả thuyết sau:
- Các đám mây được hình thành là do khói.
- Có lẽ những đám mây đó là nước. Nhưng nếu là nước thì tại sao nó
không rơi cả đám xuống vì nó rất nặng?
- Những đám mây đó là nước nhưng không biết nước đó từ đâu ra.
13
- Hơi nước bốc lên rồi ngưng tụ lại tạo thành mây vì nước có sự bốc hơi
lên cao. Nhiều nơi bốc hơi như thế thành nhiều hơi nước và chúng gặp nhau ở
trên đó.
* Cũng có thể các em cho rằng: Do hơi nước bốc lên gặp lạnh nó tạo
thành mây. Sau đó các em đưa ra những phương án thí nghiệm là:
- Đổ nước nóng vào một cái bình rồi lấy một cái nắp đậy lại. Một lúc sau
Ví dụ 5: Khi dạy bài Bóng tối của cô giáo Nguyễn Thị Thúy Hà
Mở đầu bài học về Bóng tối theo phương pháp BTNB, câu đố của cô giáo
đã lôi cuốn sự chú ý của các em học sinh: “Nắng ba năm ta không bỏ bạn/ Mưa
một ngày bạn đã bỏ ta” là gì?”. Giáo viên còn cho HS quan sát bức tranh chụp
bóng cây vào các thời điểm khác nhau trong ngày để nhận xét, so sánh. Và để trả
lời câu hỏi của GV đưa ra, cái bóng xuất hiện ở đâu, khi nào, có hình dạng như
thế nào, có thể làm cho bóng của sự vật thay đổi bằng cách nào, các em lớp 4H
cùng đã cùng làm thí nghiệm.
14
Sau khi tự làm thí nghiệm, quan sát, HS thảo luận, thắc mắc… theo nhóm,
giáo viên có thể gọi bất kỳ một HS nào trong nhóm để trình bày các ý kiến, nếu
HS nào trình bày chưa đúng với kiến thức cần cung cấp thì GV gọi thêm những
HS khác cho đến khi nào đúng thì thôi.
2.5. Kết quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục,
với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
Sau thời gian chỉ đạo thực nghiệm, tôi nhận thấy phương pháp dạy học
này có nhiều ưu điểm, đặc biệt khơi gợi trí sáng tạo, kích thích sự hứng thú say
mê trong các hoạt động học… Ban đầu, chưa quen, chỉ vận dụng phương pháp
này vào những buổi thao giảng để đồng nghiệp dự giờ, góp ý, rút kinh nghiệm.
Về sau, quen dần, thành thạo hơn trong mọi thao tác nên đã áp dụng phương
pháp Bàn tay nặn bột vào rất nhiều bài học và đạt được hiệu quả cao. Kết quả:
BẢNG KHẢO SÁT CÁC KĨ NĂNG CỦA HỌC SINH
Kết quả - Tính theo tỷ lệ %
Tốt Bình thường Chưa tốt
52,6
47,4
0
70,7
Điểm
Điểm
9 - 10
7-8
5-6
SL % SL % SL %
Chưa hoàn
thành
Điêm dưới
5
SL
%
Năm học 2016-2017 197
138
70
35
17,8
22
11,2
2
kiếm tri thức của bản thân đồng thời rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào
cuộc sống, kĩ năng thực hành, thí nghiệm, năng lực quan sát, sáng tạo, năng
lực tự học và hợp tác nhóm. Bên cạnh đó, ngôn ngữ nói và viết của các em
cũng được phát triển thông qua việc trình bày kết quả nghiên cứu của mình.
Vì vậy, trong các buổi sinh hoạt chuyên môn, tôi thường cho giáo viên
thảo luận những bài học của tuần tới có thể áp dụng phương pháp này để giáo
viên trong tổ áp dụng trong dạy học. Đặc biệt, trong kì thi giáo viên giỏi năm
học 2014- 2015, cô giáo Lê Khánh Linh đã áp dụng phương pháp này vào bài
Khoa học: "Mây được hình thành như thế nào? Mưa từ đâu ra?"; năm học
2017-2018, cô giáo Nguyễn Thị Thúy Hà, cô giáo Lê Thị Hà vận dụng phương
pháp “bàn tay nặn bột” môn Tự nhiên xã hội trong kì thi giáo viên giỏi cấp
thành phố và được đánh giá rất cao.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận:
Qua việc triển khai và thực hiện PPDHBTNB đối với môn TNXH lớp
1,2,3 và môn Khoa học đối với lớp 4,5 nhà trường chúng tôi rút ra bài học kinh
nghiệm như sau:
- Quán triệt cụ thể đến giáo viên các văn bản chỉ đạo của Bộ GD, Sở GD,
phòng GD&ĐT về việc triển khai phương pháp dạy học BTNB để mỗi giáo viên
nắm vững quan điểm chỉ đạo của các cấp các ngành.
- Tổ chức tập huấn thường xuyên đối với giáo viên về cách giảng dạy theo
PPBTNB để giáo viên nắm vững các bước qua đó giáo viên mới áp dụng thành
thạo vào khối lớp mình giảng dạy.
- Thường xuyên tổ chức các buổi SHCM, hội thảo về dạy học theo
PPBTNB để mỗi giáo viên nâng cao nhận thức vai trò trách nhiệm trong việc đổi
mới phương pháp dạy học qua đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của
nhà trường.
- Làm tốt công tác kiểm tra đối với giáo viên trong việc áp dụng PPBTNB
trình dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học, chất lượng giáo dục nói chung.
- Quy trình sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột trong dạy học môn
Khoa học mà tôi đã đề xuất có tính khả thi cao và dễ dàng áp dụng vào quá trình
giảng dạy. Tuy nhiên, giáo viên cần nghiên cứu kỹ nội dung kiến thức cũng như
tìm hiểu thêm bản chất của phương pháp này để ứng dụng phù hợp với trình độ
của học sinh thực tại của trường mình để đạt được hiệu quả tối ưu nhất mà
phương pháp mang lại.
Những biện pháp trên không phải là khó nhưng để có được hiệu quả như
mong muốn thì bản thân mỗi giáo viên cũng cần tham khảo, nghiên cứu kỹ để áp
dụng phù hợp với đối tượng học sinh. Tôi tin rằng, chuyên đề này hẳn cũng sẽ là
những cẩm nang hữu ích, mang lại hiệu quả nhất định cho giáo viên tâm huyết
trong quãng đường công tác của mình. Tôi rất mong được sự đóng góp và bổ
sung ý kiến của các cấp lãnh đạo và bạn bè đồng nghiệp gần xa để chuyên đề
của tôi được thành công hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Xác nhận của nhà trường
Thanh Hóa, ngày 15 tháng 4 năm 2018
Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến kinh
nghiệm của mình, không sao chép
nội dung của người khác.
Người thực hiện
Ngô Việt Hưng
17
PHỤ LỤC
MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRIỂN KHAI VIỆC THỰC HIỆN SINH HOẠT
PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ THANH HÓA
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO GIÁO VIÊN SỬ DỤNG
PHƯƠNG PHÁP “BÀN TAY NẶN BỘT” TRONG DẠY HỌC
MÔN KHOA HỌC VÀ MÔN TNXH NHẰM NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC
Người thực hiện: Ngô Việt Hưng
22
Chức vụ: Phó Hiệu trưởng
Đơn vị : Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi
SKKN thuộc lĩnh vực: Quản lý
THANH HÓA, NĂM 2018
23
24