Sáng kiến kinh nghiệm SKKN sử dụng phương pháp “bàn tay nặn bột” trong dạy học khoa học 4 - Pdf 39

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:
“SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP “BÀN TAY NẶN BỘT” TRONG DẠY
HỌC KHOA HỌC 4”


PHẦN I - ĐẶT VẤN ĐỀ
A- LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI :
1- Cơ sở lý luận
Như chúng ta đã biết, không có phương pháp dạy học nào là vạn năng. Việc tìm
kiếm và vận dụng các phương pháp tiên tiến vào quá trình dạy học các môn học ở Tiểu
học nói chung và môn Khoa học nói riêng là vấn đề quan trọng nhằm hình thành cho học
sinh phương pháp học tập độc lập, sáng tạo, qua đó nâng cao chất lượng dạy học. Một
trong những phương pháp có nhiều ưu điểm, đáp ứng được mục tiêu yêu cầu đổi mới và
vận dụng tốt vào quá trình dạy học môn Khoa ở tiểu học hiện nay đó là phương pháp
“Bàn tay nặn bột”. Trong những năm gần đây phương pháp ‘Bàn tay nặn bột” bước đầu
được đưa vào thử nghiệm trong dạy học môn Khoa học ở một số trường Tiểu học tại Việt
Nam. Việc nghiên cứu áp dụng phương pháp này vào dạy học sao cho phù hợp với điều
kiện cụ thể của nhà trường là vấn đề hết sức cần thiết góp phần đổi mới phương pháp dạy
học. Có như vậy mới hình thành cho học sinh phương pháp học tập đúng đắn, giúp họ
thực sự trở thành “chủ thể” tìm kiếm tri thức.
Khoa học là môn học chiếm vị trí quan trọng ở bậc Tiểu học. Mục tiêu của môn
khoa học lớp 4,5 là giúp học sinh có một số kiến thức cơ bản ban đầu về sự trao đổi chất;
sự sinh sản của động vật, thực vật; đặc điểm và ứng dụng của một số chất, một số vật liệu
và các dạng năng lượng thường gặp trong đời sống và sản xuất. Bước đầu hình thành và
phát triển cho các em những kỹ năng cần thiết như quan sát và làm một số thí nghiệm
thực hành khoa học đơn giản gần gũi với đời sống sản xuất, nêu thắc mắc và đặt câu hỏi
trong quá trình học tập, biết tìm thông tin để giải đáp. Biết diễn đạt những biểu cảm bằng
lời nói, bài viết, hình vẽ, sơ đồ, phân tích so sánh rút ra những dấu hiệu chung và riêng
của một số sự vật hiện tượng đơn giản trong tự nhiên. Qua đó hình thành và phát triển

những nâng cao hiệu quả dạy học môn khoa học mà còn phù hợp với xu hướng đổi mới
phương pháp dạy học và yêu cầu đào tạo con người trong giai đoạn hiện nay. Điều thật
đáng mừng là trong năm học này, Phù Cừ đã là nơi tập huấn cho toàn tỉnh, chính thức
đưa phương pháp “Bàn tay nặn bột” vào giảng dạy môn Tự nhiên- Xã hội ở tiểu học.
Điều đó càng khẳng định vị trí, vai trò và hiệu quả của việc ứng dụng phương pháp “Bàn
tay nặn bột” vào dạy học là vô cùng cần thiết và nên làm. Tôi tha thiết mong muốn
phương pháp Bàn tay nặn bột sớm được áp dụng rộng rãi và trở thành một phương pháp
dạy học quen thuộc trong các nhà trường Tiểu học hiện nay.
2- Cơ sở thực tiễn.
a- Đối với giáo viên.
Chúng ta đã biết, môn khoa học được đưa vào giảng dạy ở các lớp 4,5 với một
dung lượng kiến thức lớn. Đội ngũ giáo viên đã có nhiều cố gắng trong việc trao đổi, học
hỏi, tự bồi dưỡng cũng như trong việc cải tiến các phương pháp nhằm nâng cao chất
lượng dạy học.
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm nói trên, việc dạy học môn Khoa học còn có
những hạn chế nhất định làm ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng dạy học môn học này.
Khó khăn lớn nhất của giáo viên trong dạy học môn khoa học đó là việc vận dụng các


phương pháp và hình thức tổ chức dạy học. Đặc biệt là về mặt phương pháp, nhiều giáo
viên còn lúng túng trong việc sử dụng các phương pháp dạy học, chưa tìm thấy phương
pháp dạy học hữu hiệu sao cho phù hợp với mục đích, yêu cầu của từng bài học cũng như
đặc trưng của môn học. Trong khi cần chú trọng việc hình thành cho học sinh phương
pháp học tập, rèn kỹ năng và thói quen tự tìm tòi nghiên cứu trước các sự vật, hiện tượng
tự nhiên thì không ít giáo viên lại yêu cầu học sinh đọc thuộc lòng, nhồi nhét kiến thức,
bắt học sinh phải công nhận một cách miễn cưỡng không phát huy được tính tò mò ham
hiểu biết của học sinh.
b- Đối với học sinh.
Qua dự giờ tôi thấy, các em biết làm việc tập thể, hợp tác, trao đổi, trình bày các ý
kiến cá nhân, biết làm một số thí nghiệm thực hành đơn giản. Tuy nhiên, giờ học thiếu

thế thời đại - Thời đại bùng nổ thông tin, với một khối lương tri thức khổng lồ mà nhà
trường không đủ khả năng truyền tải hết. Có như vậy mới phù hợp với bậc tiểu học là
“Bậc học phương pháp”.
B– Mục đích nghiên cứu:
Đó là phương pháp “ Bàn tay nặn bột”. Phương pháp này là ý tưởng sáng tạo
của nhà vật lý người Mỹ Leon Ledeman vào những năm 40 của thế kỷ XX. Năm 1995
Giáo sư George Charpak cùng một số nhà khoa học Pháp đã nghiên cứu xây dựng
chương trình thí điểm dạy học khoa học. Tôi đã được học trong chương trình đào tạo
nâng chuẩn khóa học 2003 – 2006. Với tinh thần tự học, tự bồi dưỡng, tìm tòi, khám phá
để có thêm kiến thức về phương pháp. Bản thân thấy rõ những ưu điểm vượt trội của
phương pháp và đã vận dụng vào quá trình giảng dạy môn Khoa học ở Tiểu học nhiều
năm qua bước đầu đã thu được kết quả đáng khích lệ. Vì vậy, tôi quyết định lựa chọn đề
tài này nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn Khoa học ở Tiểu học, đặc
biệt là với học sinh khối 4.
C- Đối tượng nghiên cứu:
- Tôi tiến hành nghiên cứu, đề xuất cách sử dụng một phương pháp dạy học mới,
phương pháp “Bàn tay nặn bột” có nhiều ưu điểm vào dạy môn khoa học ở Tiểu học.
D- Phạm vi nghiên cứu :
- Đề tài tập trung nghiên cứu việc sử dụng “Bàn tay nặn bột” vào dạy học môn Khoa
học cho học sinh khối 4.
E- Khách thể nghiên cứu :
- Giáo viên và học sinh khối 4 của trường Tiểu học Nguyên Hòa – Phù Cừ - Hưng
Yên.
G- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tôi tiến hành tìm hiểu tình hình dạy học môn Khoa học lớp 4, thực hành xác định
phương pháp, hình thức tổ chức và các kiến thức cần thiết. Dự giờ, kiểm tra đánh giá kết
quả học tập của học sinh trong quá trình học tập ở phân môn. Từ đó đề xuất cách thực
hiện sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” phù hợp trong quá trình giảng dạy nhằm
nâng cao chất lượng dạy học môn Khoa học cho học sinh.


- Tôi tiến hành làm một đợt khảo sát chất lượng lớp. Tôi lựa chọn lớp thực nghiệm là lớp
4A, lớp đối chứng là lớp 4B để đánh giá chất lượng ban đầu các khối lớp làm cơ sở để
khảo sát thực nghiệm của đề tài.
- Nội dung khảo sát nhằm đánh giá khả năng nắm kiến thức của các em, kỹ năng vận
dụng các kiến thức đã học để làm bài tập, hệ thống kiến thức, trả lời câu hỏi, Vận dụng
thực tế…
* Kết quả khảo sát chất lượng đầu năm ở hai lớp 4A và 4B của trường Tiểu học
Nguyên Hòa như sau:
Lớp

Số

Điểm giỏi

Điểm khá

Điểm TB

Điểm yếu

HS

SL

%

SL

%


30

6

20

6

20

16

53,4

2

6,6

Qua kết quả khảo sát thì thấy rằng chất lượng của hai lớp trong cùng một khối là
tương đương, sự chênh lệch giữa trình độ hai lớp là không đáng kể. Môi trường sống
tương đương nhau vì các em là học sinh thuộc địa bàn trong cùng một xã.


PHẦN II- NỘI DUNG THỰC HIỆN ĐỀ TÀI.
SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT TRONG DẠY - HỌC KHOA
HỌC CHO HS LỚP 4.
Để ứng dụng giảng dạy đạt hiệu quả, trước hết, người giáo viên cần nghiên cứu kỹ,
hiểu và nắm vững những vấn đề sau:
1/ Khái niệm “Bàn tay nặn bột”.
Theo Gioerges Charpak thì:

nghiệm, tri thức cũ và tham gia làm thực nghiệm khoa học.
Như vậy, phương pháp Bàn tay nặn bột đề cao vai trò chủ thể tích cực, độc lập, sáng
tạo của HS, hình thành cho các em phương pháp học tập đúng đắn. Các em học tập nhờ
hành động, cuốn hút mình trong hành động. Các em sẽ tiến bộ dần bằng cách tự nêu
những thắc mắc, nghi vấn, hỏi đáp với bạn, trình bày quan điểm của mình, đối lập với các
quan điểm của người khác, tranh luận, tạo ra môi trường học tập tích cực.
2/ Một số đặc điểm của phương pháp “ Bàn tay nặn bột”.
- Mục tiêu hàng đầu của phương pháp là giúp học sinh tiếp cận dần các khái niệm khoa
học và kỹ thuật thực hành, kèm theo sự vững vàng trong diễn đạt, trong nói và viết.
- Phương pháp “Bàn tay nặn bột” đưa ra một tiến trình ưu tiên cho việc xây dựng tri thức
bằng hoạt động, thí nghiệm và thảo luận.
- Đó là sự thực hành khoa học bằng hành động hỏi đáp, tìm tòi, thực nghiệm, xây dựng
một tập thể tốt và thu được kiến thức cơ bản để hiểu biết thế giới tự nhiên và kĩ thuật.
- Phương pháp này đặt học sinh vào vị trí của một nhà nghiên cứu khoa học. Các em tự
mình tìm tòi, khám phá ra kiến thức của bài học thông qua việc tiến hành các thí nghiệm
khoa học, trao đổi, thảo luận nhóm dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
- Học sinh học tập nhờ hành động. Các em học tập tiến bộ dần bằng cách tự nghi vấn.
Bạn bè trao đổi, quan niệm về một vấn đề khoa học nào đó với nhau và được kiểm tra (sự
đúng sai) bằng cách tiến hành làm các thí nghiệm.
- Trong phương pháp “Bàn tay nặn bột”, học sinh được thoải mái đưa ra quan điểm của
mình về sự vật, hiện tượng. Đó là những hiểu biết ban đầu của học sinh. Những hiểu biết
này có thể đúng, chưa đầy đủ, hoặc có thể sai, đôi khi là ngây thơ, ngờ nghệch nhưng vẫn
được tôn trọng, động viên và khích lệ. Khi học sinh đưa ra biểu tượng ban đầu của mình
về vấn đề đặt ra, giáo viên không đưa ra lời nhận xét đúng, sai mà để các em tự nhận thấy
được trong quá trình kiểm tra giả thuyết.
* Đối với học sinh: Khi tồn tại quan niệm sai hoặc không thích hợp, các em sẽ được tự
mình nhận thức lại, sửa chữa lại ở cuối tiết học hoặc trong quá trình diễn biến của tiết
học. Do có sự khác nhau về quan niệm nên gây ra sự tranh luận, thắc mắc mà muốn được
tháo gỡ thì phải đi tìm câu trả lời chính xác (tìm ra chân lý khoa học). Vậy muốn có câu
trả lời thì buộc phải suy nghĩ, mày mò để tìm một hướng đi hiệu quả và tiến hành hành

câu hỏi của thầy giáo và hoạt động trong khuôn khổ một đề tài đã được xây dựng chứ
không phải chỉ lựa chọn theo các “cơ hội”. Trong quá trình nghiên cứu, học sinh phải sử
dụng tất cả các giác quan để tìm ra tri thức mới. Các em cần có vở ghi chép cá nhân để
ghi lại những ý tưởng của mình, những điều đã được sửa chữa lại, cho phép giữ lại vết
tích của những thử nghiệm liên tiếp, đánh dấu được tiến trình nghiên cứu. Vở ghi chép


được học sinh giữ suốt trong thời gian học Tiểu học và cuối cấp học sẽ hình thành một
tập vở ghi nhớ đặc biệt.
Như vậy bản chất của “ Bàn tay nặn bột” không phải là phương thức mới cho phép các
em hội nhập tốt hơn vào đời sống tự nhiên mà tạo cho các em một cách xử lý độc lập, có
phần nào giống như một nhà nghiên cứu. Khi xử lý độc lập, học sinh sử dụng giác quan
và một số dụng cụ hỗ trợ cho các thao tác trí tuệ.
Dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột” không đòi hỏi phải sử dụng những dụng
cụ thí nghiệm phức tạp, hiện đại, đắt tiền mà các dụng cụ ở đây không quá tốn kém, đa số
là các vật dụng dễ kiếm và dễ sử dụng, không nặng nề. Nó được sử dụng hàng ngày với
vài vật liệu đơn giản là đủ. Các thao tác trên những dụng cụ thí nghiệm cũng hết sức đơn
giản và không cần có hiểu biết kĩ thuật gì đặc biệt. Các em có thể thử nghiệm nhu cầu của
cây trồng bằng cách thay đổi các thông số : đất, nước, ánh sáng, nhiệt độ, không khí,
bằng cách so sánh và phân tích kết quả thực nghiệm. Các em sẽ phát hiện ra rằng: chỉ cần
thay đổi mỗi lần một thông số là có thể có những kết luận khác nhau.Và trong quá trình
ấy, học sinh sẽ đặt ra những câu hỏi thắc mắc: Tại sao có những loại cây sống bám trên
cây khác mà không cần đến yếu tố đất? Tại sao sự nảy mầm không chỉ xảy ra trong đất
mà còn cả trên nhựa, tờ giấy?... Như vậy trong hạt có gì? Cây trồng có ăn đất không? Tại
sao lại bón phân cho cây ?....
5/ Một số lưu ý khi sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học.
- Trong quá trình HS thực hành, GV phải khéo léo theo dõi, quan sát học sinh xem các
em đang nghĩ gì về vấn đề mà mình đặt ra để nắm được tình hình. Nếu có điều gì không
khớp với dự định ban đầu thì cần phải có sự điều chỉnh cho phù hợp.
- Các biểu tượng HS đưa ra có thể đúng, có thể sai nhưng giáo viên không đánh giá và

- Không chia nhóm HS quá đông, mỗi nhóm chỉ từ 2, 4 đến 6 em và từ hai bàn ghép lại.
- Không nên cho HS biết trước kiến thức của bài học một cách tiêu cực mà phải để cho
các em tự khám phá ra chúng. Không để các em sử dụng sách giáo khoa để trả lời câu hỏi
mà giáo viên đưa ra vì như vậy sẽ làm cho HS có thói quen ỷ lại không chịu suy nghĩ, tìm
tòi trong học tập. Sách giáo khoa có thể chỉ được sử dụng làm tài liệu quy chiếu với các
kết quả nghiên cứu của HS ở cuối tiết học.
- Không nêu tên bài học trước khi học (với những bài thể hiện nội dung bài học ở đề bài).
- Lựa chọn hoạt động phù hợp với phương pháp Bàn tay nặn bột để áp dụng, không nhất
thiết hoạt động nào cũng áp dụng phương pháp này.
Đó là những lưu ý đối với Gv khi sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột vào giảng
dạy môn Khoa học ở Tiểu học nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy môn học này đạt hiệu
quả hơn.
6/ Ứng dụng “Bàn tay nặn bột” trong dạy học.
6.1.Quy trình chung khi sử dụng phương pháp“ Bàn tay nặn bột” trong dạy - học
Khoa học ở Tiểu học.


Sơ đồ: Quy trình sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột trong dạy học
môn Khoa học ở Tiểu học.
GIÁO VIÊN

Xác định mục tiêu bài h

Chuẩn bị đồ dùng dạy h
Lập kế hoạch dạy học

Nêu ra tình huống có vấn

Tổ chức HS TLN để đưa
GT



6.2. Đề xuất quy trình cụ thể trong dạy học môn Khoa học ở Tiểu học.
Bước 1 : Giao nhiệm vụ.
+ Chia lớp thành các nhóm, thường thì mỗi nhóm có 2; 4 hoặc 6 học sinh.
+ Giao nhiệm vụ cho các nhóm.
+ Phát cho từng nhóm những phương tiện cần thiết để làm thí nghiệm.
+ Làm thực nghiệm khoa học theo yêu cầu .( thường làm ra một kết quả cụ thể ).
+ Quan sát hiện tượng xảy ra rồi ghi chép lại.( Mỗi nhóm có một quyển sổ )
+ Giải thích hiện tượng và rút ra kết luận khoa học .
Bước 2 : Học sinh thực hiện nhiệm vụ.
- Học sinh thảo luận đề xuất các phương án giải quyết.
- Học sinh lần lượt thử các phương án đề xuất.
- Trong trường hợp thành công, các em ghi lại diễn biến của thí nghiệm vào sổ.
- Học sinh tập giải thích hiện tượng và rút ra kết luận khoa học.(Đây chính là tri thức

khoa học mà học sinh tìm ra).
Bước 3 : Trình bày kết quả.
- Một nhóm học sinh trình bày kết quả thí nghiệm trước lớp. Các nhóm khác đặt câu
hỏi mà nhóm mình quan tâm thắc mắc.
- Các nhóm khác có thể tiếp tục làm thí nghiệm nếu có cách giải quyết khác.
Bước 4: Tổng kết, đánh giá.
- Giáo viên kết luận : Khẳng định kết quả thí nghiệm đúng và kết luận khoa học tương
ứng mà học sinh phát hiện.
6.3. Ví dụ minh hoạ khi ứng dụng phương pháp Bàn tay nặn bột vào bài cụ thể .
( Đây chỉ là một trong những cách làm được cho là hiệu quả trong nhiều cách thể hiện
của phương pháp Bàn tay nặn bột mà tôi đã thực hiện trong giảng dạy Khoa học 4 thời
gian qua).
* Ví dụ 1: Trích đoạn bài:


* Kết luận : Nước lan ra khắp mọi phía.
* Lệnh : Làm thế nào để giữ nguyên được vị trí của giọt nước khi ta nghiêng tấm kính ?
(Đó là điều vô lí không thể xảy ra).
* Kết luận : Nước chảy từ cao xuống thấp, lan ra khắp mọi nơi.

* Lệnh : Hãy làm giảm nước trong cốc bằng bông ?


( Nước thấm qua bông ) .
* Kết luận : Nước thấm qua 1 số vật.
* Lệnh : Đổ 1 thìa muối (đường) nhỏ vào cốc , lấy thìa khuấy đều .
- Hãy tìm những hạt muối (đường) có trong cốc ?( Không tìm thấy).
Hoặc : Điều gì sẽ xảy ra với những hạt đường khi ta bỏ chúng vào một côc nước? v.v..
• Kết luận : Muối (đường) tan trong nước.

- Cho 1 ít cát vào cốc nước .
* Lệnh : Hãy giấu những hạt cát vào cốc nước ?( Không dấu được. Cát không tan trong
nước).
* Kết luận : Nước hoà tan 1 số chất , không hoà tan một số chất.
* Ví dụ 2: Bài 35 : Không khí cần cho sự cháy( Trang 70). Yêu cầu học sinh không
được mở sách giáo khoa.
* Lệnh : Có một ngọn nến đang cháy và một cốc thuỷ tinh . Hãy làm tắt ngọn nến bằng
cốc thuỷ tinh mà không được chạm cốc vào ngọn lửa ?
( Học sinh thử các phương án, phát hiện ra cách làm đúng là: Úp cốc vào ngọn nến trong
thời gian nhất định ).
- Học sinh ghi lại quá trình thí nghiệm như cách làm và thời gian cần thiết .
- Học sinh giải thích: Thành phần của không khí gồm có ôxi và nitơ. Khí ôxi duy trì

sự cháy.
* Ví dụ 3: Bài 50 : Nóng , lạnh và nhiệt độ. (Trang 102).

quả.


* Thảo luận đưa ra kết luận chung: Xung quanh mọi vật và mọi chỗ, bên trong vật đều có
không khí.
- Tự điều chỉnh kiến thức khoa học tìm được của mình vào vở thí nghiệm.

Trong khi học bài này, có em học sinh lúc đầu lựa chọn dùng viên gạch để bỏ
xuống chậu nước. Nhưng sau đó em đã gạch bỏ sự lựa chọn này thay vào đó là mẩu đất
khô. Sau giờ học, tôi hỏi vì sao lại có sự thay đổi dó, em nói “miếng đất khô có nhiều chỗ
rỗng hơn nên khi bỏ vào nước thì bong bóng khí bay lên nhiều hơn”... Có nhóm HS khác
đã nghĩ ra một phương án thí nghiệm rất thuyết phục là” Nhấn chìm vỏ chai xuống một
chậu nước, nước sẽ tràn vào trong chai đẩy không khí ra ngoài tạo ra những bong bóng.
Có nhóm lại đưa ra phương án “ Vặn nắp chai thật chặt, sau đó đục một lỗ trên vỏ chai.
Nếu chúng ta đưa lên và hướng lỗ thủng vào mặt và bóp thân chai thì sẽ cảm thấy được
không khí từ trong đó bay ra”......
Như vậy, qua kết quả trên ta thấy, điều đáng lưu ý và ấn tượng ở chỗ HS không
chỉ đơn thuần thực hiện thành thạo với các dụng cụ thí nghiệm mà còn thể hiện sự thông
minh, sáng tạo vận dụng linh hoạt trong việc đưa ra nhiều phương án để kiểm tra cùng
một giả thuyết.
* Ví dụ 2: Bài 27: Một số cách lọc nước.
* Giáo viên đưa chai nước và nói: Đây là chai nước đã bị nhiễm bẩn. Vậy theo em trong
chai nước này có những gì?( HS: Có cát bụi, đất, vi trùng, các chất độc hại…)
* GV: Chúng ta có thể làm sạch chai nước này được không? Bằng cách nào?...
- HS: Làm thí nghiệm.
- Đề xuất phương án thí nghiệm, tiên đoán kết quả, tiến hành thí nghiệm và báo cáo kết
quả.


* Thảo luận đưa ra kết luận chung:……………………………………………………….

thì thấy những giọt nước đọng lại ở dưới nắp.


+Vật liệu chúng tôi cần là: 1 cái bình có nắp, nước nóng.
- Dùng một cốc thủy tinh trong đó đựng những cục nước đá. Để một khoảng thời gian
nhất định ta thấy ngoài cốc xuất hiện những giọt nước li ti. Đó là hiện tượng hơi nước
gặp lạnh tạo thành mây, ngưng tụ dần thành những giọt nước rồi rơi xuống gây ra mưa.
+ Vật liệu chúng tôi cần là: 1 cốc thủy tinh, một ít cục nước đá và một cái bát để đựng
cái cốc.
Với cách làm này, các em đã biết sử dụng vốn hiểu biết trong đời sống hàng ngày
để vận dụng vào bài học một cách hiệu quả. Trong tiết học này, có nhóm học sinh đã viết
ra vở ghi chép của mình phán đoán hiện tượng mưa “ trời mưa khi có nhiều mây đen”, từ
đó em đã đưa ra giả thuyết “ Vì vậy, các hạt mưa được rơi ra từ trong các đám mây”.
Cũng trong bài này, một học sinh đã thắc mắc hỏi” Vì sao có khi trời lại mưa đá?”
Sau một hồi thảo luận, tranh cãi, các em đã giải thích “ chắc vì ở trên đó rất lạnh”…
Điều đó chứng tỏ các em đã có sự suy luận lôgic và rất chính xác cũng nhờ cách
học này mang lại.
* Ví dụ 4: Bài : Thực vật cần gì để sống?
* Vấn đề đặt ra là: “ Cây cần gì để sống”?
* HS có thể đặt câu hỏi xung quanh vấn đề này:
- Cây có ăn đất không?
- Cây lấy những gì ở trong đất?
- Cây có cần không khí và ánh sáng không?
- Cây có thể sống được mà không cần có nước?
- Vì sao người ta lại bón phân, tưới nước?
- Cây có thở không? Nếu chúng thở thì cây cũng cần không khí?
- Vì sao người ta nói, trồng cây trong bóng râm thì cây chậm lớn?
* Sau đó các em có thể đưa ra những hiểu biết ban đầu về nhu cầu của cây như sau:
- Cây không cần đất để sống.
- Theo tôi, cây không cần không khí để sống. Nó chỉ cần đất và nước thôi.

20

Nước có những tính chất gì?

3

21

Ba thể của nước

4

22

Mây được hình thành như thế nào? Mưa từ đâu ra?

5

23

Sơ đồ vòng tuần hoàn của nước trong tự nhiên

6

27

Một số cách làm sạch nước

7


37

Tại sao có gió?

13

41

Âm thanh


14

42

Sự lan truyền âm thanh

15

45

Ánh sáng

16

46

Bóng tối

17


60

Nhu cầu không khí của thực vật

23

61

Trao đổi chất ở thực vật

24

62

Động vật cần gì để sống

25

64

Trao đổi chất ở động vật

Trên đây là một số ứng dụng của tôi về cách sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột
vào dạy học môn Khoa học ở Tiểu học đặc biệt là môn Khoa học 4 mà tôi rất tâm đắc và
đã thu được kết quả cao trong thời gian qua. Với quy trình hợp lý, chặt chẽ như đã đề
xuất ứng với từng hoạt động cụ thể trong tiết dạy với mục tiêu khác nhau. Để một lần nữa
khẳng định tính hiệu quả, khả thi của nó, tôi xin minh chứng bởi thực tế sau :
KẾT QUẢ THỰC HIỆN
Qua việc thực hiện giảng dạy bằng các biện pháp đã trình bày, tôi kiểm tra học sinh


SL

%

Lớp thực
32
nghiệm

10

31,1

12

37,5

10

31,4

0

0

Lớp đối
30
chứng

7

7/ Kết luận:
Phương pháp Bàn tay nặn bột là một trong những phương pháp dạy học tiên tiến.
Phương pháp này giúp trẻ tự phát hiện được vấn đề. Điều đó có nghĩa là nhu cầu học sẽ
có thể xuất phát từ do chính các em. Các em có thể sáng tạo trong hiện tại và trong tương
lai. Phương pháp này phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý và đặc điểm nhận thức của học
sinh Tiểu học.
Từ kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn, dưới góc độ lí luận dạy học, tôi đã đề ra
quy trình sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học môn Khoa học ở Tiểu
học đặc biệt ở lớp 4. Quy trình gồm các bước được tiến hành theo trình tự nhất định. Với
quy trình này sẽ góp phần quan trọng vào việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng
tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh. Các em thực sự hoạt động tích cực và đầy


hứng thú. Nó giúp cho học sinh khả năng phát triển tư duy lôgic, trí tưởng tượng, rèn
luyện kĩ năng, kĩ xảo thực hành và vốn ngôn ngữ khoa học, kèm theo sự vững vàng trong
lập luận. Đó chính là những yếu tố quan trọng để giúp học sinh nắm bắt kiến thức để tìm
tòi khám phá, phát huy tính tích cực của mình.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status