SKKN sử dụng phương pháp “bàn tay nặn bột” trong dạy học có làm tăng kết quả học tập môn vật lý của học sinh lớp 8 - Pdf 34

MỤC LỤC
Trang
I. TÓM TẮT ĐỀ TÀI....................................................................................... 2
II. GIỚI THIỆU............................................................................................... 4
1. Hiện trạng ................................................................................................ 4
2. Giải pháp thay thế .................................................................................... 5
3. Vấn đề nghiên cứu ................................................................................... 6
4. Giả thuyết nghiên cứu ............................................................................. 6
III. PHƯƠNG PHÁP .......................................................................................7
1. Khách thể nghiên cứu .............................................................................. 7
2. Thiết kế nghiên cứu.................................................................................. 7
3. Quy trình nghiên cứu................................................................................ 8
4. Đo lường và thu thập dữ liệu ................................................................. 11
IV. PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ ............................................... 13
V. BÀN LUẬN ............................................................................................... 14
VI. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ........................................................ 15
1. Kết luận .................................................................................................. 15
2. Khuyến nghị........................................................................................... 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................... 17
PHỤ LỤC ................................................................................................. 18
Phụ lục 1: Kế hoạch bài học................................................................. 18
Phụ lục 2: Đề kiểm tra trước và sau tác động ..................................... 25
Phụ lục 3: Bảng tính độ tin cậy ........................................................... 27
Phụ lục 4: Bảng điểm ........................................................................... 31
Phụ lục 5: Bảng so sánh dữ liệu .......................................................... 33

1


I. TÓM TẮT ĐỀ TÀI:
Việc giảng dạy Vật lý ở nhà trường không chỉ dừng lại ở việc làm cho học sinh

trung bình thang đo kết quả của lớp thực nghiệm là 8,0; của lớp đối chứng là 6,5. Kết
quả kiểm chứng T-test độc lập cho thấy p = 0,0012 < 0,05 nghĩa là có sự khác biệt lớn
giữa điểm trung bình của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng. Độ chênh lệch giá trị
2


trung bình chuẩn SMD = 0,826 > 0,8 thêm một lần nữa khẳng định mức độ ảnh hưởng
của tác động trong nghiên cứu là lớn, giải pháp mới có hiệu quả.
Vậy, việc sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học có làm tăng kết
quả học tập Vật lý của học sinh.

3


II. GIỚI THIỆU:
1. Hiện trạng:
Trong những năm gần đây, Ngành Giáo dục và Đà tạo đã tập trung chỉ đạo việc
thực hiện đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Kết quả
đạt được rất khả quan nhưng không đồng đều. Chất lượng giáo dục ở một số địa
phương vùng nông thôn, vùng xa,... chưa cao, chất lượng giảng dạy một số môn Toán,
Vật lý,... còn hạn chế, vẫn còn nhiều học sinh bỏ học vì học yếu và không ham học.
Thế nên, ngày 05/9/2014, phát biểu chỉ đạo của Tiến sĩ Nguyễn Vinh Hiển - Thứ
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo - khi đến dự Lễ Khai Giảng ở một trường Trung học,
một lần nữa kêu gọi: Trong năm học này, mỗi giáo viên phải không ngừng tích cực đổi
mới hình thức tổ chức và phương pháp dạy học; chú trọng phương pháp hướng dẫn
học sinh học tập tiếp thu kiến thức dựa trên các hoạt động trải nghiệm tìm tòi, nghiên
cứu khoa học nhằm khơi dậy tính tích cực, phát huy tính sáng tạo, tạo điều kiện thuận
lợi cho học sinh phát triển kỹ năng, năng lực bản thân, góp phần đẩy mạnh chất lượng
giáo dục... Thứ trưởng còn nói: Những đổi mới này chính là tiền đề cho việc đổi mới
căn bản nền Giáo dục Việt Nam hiện đại những năm học sau - phát biểu còn được đưa

nay chưa được thấy nghiên cứu áp dụng. Tuy nhiên tôi đã mạnh dạn nghiên cứu và sử
dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” vào quá trình dạy học Vật lý lớp 8a2, đối với
những bài học thích hợp.
Phương pháp “Bàn tay nặn bột” là phương pháp dạy học hiện đại dựa trên cơ sở
của sự tìm tòi - nghiên cứu khoa học. Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, chính học
sinh là người tìm ra câu trả lời cho các vấn đề đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến
hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra để từ đó hình thành kiến
thức cho mình.
Phương pháp này tạo nên tính tò mò, ham muốn khám phá và say mê học tập cho
học sinh. Đứng trước một sự vật hiện tượng, học sinh có thể đặt ra các câu hỏi, các giả
thuyết từ những hiểu biết ban đầu, tiến hành thực hiện nghiên cứu để kiểm chứng và
đưa ra những kết luận phù hợp thông qua thảo luận, phân tích, tổng hợp kiến thức, nhờ
đó kiến thức được học sinh nắm vững, hiểu sâu, nhớ lâu hơn.
Chương trình Vật lý 8 chia làm hai chủ đề lớn:
1. Chuyển động – Lực – Quán tính và Áp suất (học kỳ I).
2. Công – Công suất – Cấu tạo chất và Nhiệt lượng (học kỳ II).
Trong mỗi chủ đề đều có nhiều bài học đòi hỏi giáo viên phải áp dụng các
phương pháp dạy học tích cực để học sinh nắm chắc kiến thức của bài thông qua việc
khơi dậy các kỹ năng, năng lực, sáng tạo của học sinh. Nếu học sinh không nắm vững
kiến thức của một hoặc hai chủ đề thì đồng nghĩa với việc kết quả học tập của một học
kỳ không cao. Do đó tôi đã khắc phục kết quả học kỳ I trong học kỳ II bằng việc tích
cực đổi mới phương pháp dạy học - sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột”- trong
các bài tìm hiểu kiến thức mới.
Các bước thực hiện trong tiến trình hoạt động dạy học của phương pháp “Bàn tay
nặn bột” như sau:
- Bước 1 (Pha 1): Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề.
- Bước 2 (Pha 2): Bộc lộ quan niệm ban đầu của học sinh.
- Bước 3 (Pha 3): Đề xuất câu hỏi (hay giả thuyết) và thiết kế phương án thực
nghiệm nghiên cứu.
5

thể như sau:
Bảng 1: Giới tính, dân tộc của học sinh hai lớp 8 trường THCS Chà Là:
Lớp

Giới tính

Số học sinh

Dân tộc

Nam

Nữ

Kinh

Khác

8a1

26

14

12

26

0



26

7

8

10

1

0

8a2

26

8

8

9

1

0

+ Giáo viên: Dạy cả hai lớp thực nghiệm và đối chứng.

2. Thiết kế nghiên cứu:


Kiểm tra sau

trước tác

Tác động

tác động

động
Thực nghiệm

Dạy học có sử dụng phương

6,31

(8a2)
Đối chứng

pháp Bàn tay nặn bột
Dạy học không sử dụng phương

6,46

(8a1)

pháp Bàn tay nặn bột

8,0
6,5

Bài 19: Các chất được cấu tạo như thế nào?

Tuần 27

26

Bài 21: Nhiệt năng

• Cách thực hiện:
Bước 1 (Pha 1): Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề:
Để thực hiện bước này, giáo viên chủ động đưa ra một tình huống ngắn
gọn, dễ hiểu đối với học sinh (như một cách dẫn nhập vào bài học) rồi đặt câu hỏi nêu
vấn đề.
Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi lớn của bài học nên phải gây mâu thuẫn
nhận thức, kích thích tính tò mò, thích tìm tòi, nghiên cứu của học sinh nhằm chuẩn bị
8


tâm thế cho học sinh trước khi khám phá, lĩnh hội kiến thức. Vì vậy, giáo viên nên
dùng câu hỏi mở, không dùng câu hỏi đóng (có hoặc không).
Bước 2 (Pha 2): Bộc lộ quan niệm ban đầu của học sinh:
Đây là pha quan trọng, đặc trưng của phương pháp “Bàn tay nặn bột”.
Trong bước này, giáo viên khuyến khích học sinh nêu những suy nghĩ, nhận thức ban
đầu của mình trước câu hỏi nêu vấn đề (tức trước khi học kiến thức mới). Tiến hành
thảo luận nhóm (4 - 6 học sinh) để trao đổi ý kiến. Cuối cùng, học sinh ghi vở thực
hành quan niệm của mình và phát biểu trước lớp.
Quan niệm ban đầu này phải phong phú và có thể đúng hoặc sai.
Bước 3 (Pha 3): Đề xuất câu hỏi (hay giả thuyết) và thiết kế phương án
thực nghiệm nghiên cứu:
 Đề xuất câu hỏi: Từ những khác biệt và phong phú về quan niệm ban

nghệm đổ nước vào rượu xem thể tích hỗn hợp có giảm so với tổng thể tích của chúng
không, nếu có thì thí nghiệm chứng tỏ quan niệm được chọn là đúng, ngược lại là sai.
(2) Quan sát ảnh chụp của nước qua kính hiển vi hiện đại.
10


Bước 4: Giáo viên tổ chức học sinh làm thí nghiệm nghiên cứu, quan sát
tranh,... theo phương án đề xuất.
Sau thí nghiệm, học sinh thu được kết luận: Nước được cấu tạo
từ những hạt vô cùng nhỏ bé và giữa những hạt nước có khoảng cách.
Bước 5: Học sinh phát biểu kết luận. Giáo viên giới thiệu: Những hạt vô
cùng nhỏ bé đó là nguyên tử, phân tử và khái quát kết luận trên cho nhiều chất.
Học sinh rút ra kết luận chung: “Các chất được cấu tạo từ các
hạt riêng biệt vô cùng nhỏ bé gọi là nguyên tử, phân tử. Giữa các nguyên tử, phân tử
có khoảng cách”, học sinh ghi vào vở học (vở thực hành).
Giáo viên dành thời gian 1 phút cho học sinh đối chiếu lại quan
niệm ban đầu cá nhân đã bộc lộ, nghiệm lại kiến thức bài học.
Tiếp theo, giáo viên giới thiệu về sự nhỏ bé của nguyên tử, phân tử rồi tiến
hành thí nghiệm mô hình “Trộn cát với ngô” để hướng dẫn học sinh giải thích các hiện
tượng thực tế liên quan về nguyên tử, phân tử: C2 trang 69; C3, C4, C5 trang 70 SGK.

4. Đo lường và thu thập dữ liệu:
Bài kiểm tra trước tác động là bài kiểm tra 15 phút do người nghiên cứu ra đề,
được tiến hành sau khi học xong bài 6: LỰC MA SÁT, dạng đề tự luận với 4 câu hỏi
(Xem phần phụ lục 2 trang 25).
Bài kiểm tra sau tác động là bài kiểm tra 15 phút do người nghiên cứu ra đề, được
tiến hành sau khi học xong bài 21: NHIỆT NĂNG, dạng đề tự luận với 4 câu hỏi
(Xem phần phụ lục 2 trang 25, 26).
Hai bài kiểm tra được áp dụng cho cả nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng.
Tôi tiến hành kiểm chứng độ tin cậy của dữ liệu bằng cách chia đôi dữ liệu: 4 câu

0,596

0,553

0,561

0,579

0.747

0,712

0,718

0,733

Đáng tin cậy

Đáng tin cậy

Đáng tin cậy

Đáng tin cậy

11


Độ giá trị của dữ liệu được kiểm chứng bằng giá trị nội dung, những câu hỏi tôi
đưa ra khái quát được nội dung môn học, phản ánh đầy đủ, rõ ràng quá trình nghiên
cứu.

8,5

Điểm trung bình

6,5

8,0

Độ lệch chuẩn

1,82

1,55

Giá trị p của T-test

0,0012

SMD

0,826

Như bảng 3 (trang 7) ở trên đã chứng minh kết quả hai nhóm trước tác động là
tương đương nhau: p = 0,359 > 0,05. Sau tác động kiểm chứng chênh lệch điểm trung
bình bằng T-test độc lập cho kết quả p = 0,0012 < 0,05 cho thấy sự chênh lệch điểm
trung bình giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng là có ý nghĩa, có giá trị, tức là
chênh lệch kết quả điểm trung bình nhóm thực nghiệm cao hơn điểm trung bình nhóm
đối chứng là không ngẫu nhiên mà do kết quả của tác động.
Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn SMD =


chứng tỏ mức độ ảnh hưởng của tác động là lớn.
Qua kết quả thu nhận được trong quá trình nghiên cứu và ứng dụng, tôi nhận thấy
rằng việc sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học đã làm nâng cao
năng lực tư duy, khả năng tiếp thu kiến thức cho học sinh; học sinh học tập nhờ hành
động và cuốn hút mình trong hành động nên các em tích cực, hứng thú hơn trong học
tập, mạnh dạn, tự tin hơn trước tập thể... tất cả góp phần rất lớn vào việc nâng cao chất
lượng dạy và học môn Vật lý ở đơn vị.

14


VI. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Tổ chức dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột” là tạo điều kiện thuận lợi để
học sinh phát huy sự tự chủ động xây dựng kiến thức, đồng thời phát huy được vai trò
tương tác của tập thể học sinh đối với quá trình nhận thức của mỗi cá nhân học sinh.
Như vậy kiến thức học sinh thu nhận được xây dựng một cách hệ thống và vững chắc,
năng lực sáng tạo của học sinh từng bước được phát triển.
Qua quá trình áp dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột”, có thể nhận thấy sự ham
thích của học sinh, các em hứng thú với những hoạt động tìm hiểu kiến thức mới. Nhờ
đó, giờ học trở nên chất lượng, hiệu quả, số học sinh học tập tiến bộ nhiều hơn.
Như vậy, việc sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học đã nâng cao
kết quả học tập Vật lý của học sinh.
Khi sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học, giáo viên cần chú ý:


Phải lựa chọn chủ đề, bài học, đơn vị kiến thức thích hợp, gần gũi với đời

sống mà học sinh cảm nhận và có ít nhiều quan niệm ban đầu về chúng.



Với những học sinh còn lúng túng trong cách ghi vở thực hành thì giáo viên

phải có sự hướng dẫn cụ thể (ghi theo ba phần: P1- Phần ghi chú cá nhân: Ghi các
quan niệm ban đầu, các suy nghĩ, các câu hỏi cá nhân đặt ra trong quá trình học và
thảo luận. P2 -Phần ghi chú tổng kết của nhóm sau thảo luận. P3- Phần ghi chú tổng
kết sau khi thảo luận cả lớp, tức nội dung kiến thức bài học).
15




Với phương án thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu là tiến hành thí nghiệm thì

giáo viên (hoặc giáo viên cùng với học sinh) phải chuẩn bị, dự trù nhiều dụng cụ để
học sinh làm thí nghiệm vì sẽ có nhiều phương án được học sinh đề xuất, thiết kế.
Để tổ chức dạy học bằng phương pháp “Bàn tay nặn bột” người dạy phải đầu tư
nhiều cho việc soạn giảng và mất thời gian nhiều cho việc chuẩn bị. Nhưng với lòng
nhiệt tình với trẻ và sự tâm huyết với nghề, tôi nghĩ sẽ không có gì làm trở ngại quyết
tâm nâng cao chất lượng, mong muốn đổi mới phương pháp dạy học cho phù hợp với
yêu cầu mới của giáo dục hiện nay trong mỗi chúng ta.

2. Khuyến nghị:
Đối với cấp trên: Thường xuyên mở các đợt tập huấn liên quan đến đổi mới
phương pháp dạy học, tổ chức các chuyên đề bồi dưỡng việc dạy học hiệu quả cho
giáo viên. Nên chọn Vật lý là một trong số các môn thi tuyển vào lớp 10 nhằm tránh
tình trạng học sinh học lệch ngay từ lớp dưới.
Đối với giáo viên: Không ngừng tự học, tự rèn để nâng cao trình độ chuyên môn
nghiệp vụ và năng lực sư phạm, tích cực đầu tư, sáng tạo đổi mới phương pháp dạy
học bộ môn.

Ngày dạy: 25/02/2014
Tuần: 27 (08 HKII)
Tiết: 26

Baøi 21 : NHIEÄT NAÊNG

1. Mục tiêu:
1.1 Kiến thức:
+ Học sinh biết và phát biểu được định nghĩa nhiệt năng. Nêu được nhiệt độ của
vật càng cao thì nhiệt năng của nó càng lớn.
+ Học sinh hiểu và nêu được tên hai cách làm biến đổi nhiệt năng và tìm được ví
dụ minh họa cho mỗi cách.
+ Học sinh biết phát biểu định nghĩa nhiệt lượng và nêu được đơn vị đo nhiệt
lượng là gì.
1.2 Kỹ năng:
+ Quan sát các hiện tượng liên quan đến sự thay đổi nhiệt năng và nhận biết được
nguyên nhân làm thay đổi nhiệt năng của vật.
+ Phân biệt được hai khái niệm nhiệt năng và nhiệt lượng.
1.3 Thái độ:
Ý thức học tập, tích cực tư duy.
2. Trọng tâm:
Các cách làm thay đổi nhiệt năng.
3. Chuẩn bị:
3.1 Giáo viên:
Dụng cụ cho cả lớp:  Quả bóng.
 Nước nóng, cốc thủy tinh.
 Giấy nhám hoặc vải khô.
3.2 Học sinh:
+ Học bài, làm bài tập về nhà, nghiên cứu bài mới, SGK.
+ Dụng cụ: 1 đồng tiền kim loại / 4HS.

+ Bài tập 20.4: Vì phân tử nước hoa
chuyển động không ngừng, một số phân tử
nước hoa bức ra khỏi lọ chuyển động tới các
vị trí khác nhau trong lớp. (4đ)
+ Tổng động năng của các phân tử cấu tạo
nên vật gọi là nhiệt năng của vật.
(2đ)

4.3 Bài mới:
Hoạt động của thầy và trò

Nội dung bài học

Hoạt động 1: Tạo tình huống học tập:
+ GV: Làm thí nghiệm thả quả bóng rơi như
hình 21.1, yêu cầu HS quan sát độ cao của
quả bóng sau mỗi lần nảy lên.
- HS: Theo dõi, nêu hiện tượng.
+ GV: Đặt vấn đề vào bài: Cơ năng của quả
bóng đã biến mất hay được chuyển hóa
thành dạng năng lượng khác?
Hoạt động 2: Tìm hiểu về nhiệt năng:
* Bước 1: Tình huống xuất phát và câu hỏi
nêu vấn đề:
+ GV: Đưa ra một đồng tiền kim loại.
? Làm

thế nào để đồng tiền kim loại này

nóng lên?

đồng tiền kim loại cọ xát vào vải khô nhiều
lần. (2) Lấy đồng tiền kim loại cho vào nước
nóng.
* Bước 4: Tiến hành thí nghiệm tìm tòi –
nghiên cứu:
+ GV: Nêu mục đích/yêu cầu thí nghiệm
chuẩn bị tiến hành, phát dụng cụ thí nghiệm,
giao nhiệm vụ cho các nhóm.
- HS: Làm TN theo phương án đề xuất.
+ GV: Bao quát lớp, quan sát từng nhóm,
hướng dẫn nhóm (nếu có).
* Bước 5: Kết luận và hợp thức hóa kiến
thức:
+ GV: Qua thí nghiệm, ta đã biết cách làm
cho một vật nóng lên.
? Khi vật nóng

lên, các phân tử cấu tạo nên

vật chuyển động như thế nào? (Nhanh hơn)
? Khi đó

động năng của các phân tử cấu tạo
20


nên vật sẽ ra sao? (Động năng của các phân
tử cấu tạo vật càng lớn)
+ GV: Vì vậy, nhiệt năng của vật càng lớn.
? Nhiệt

thay đổi nhiệt năng ta làm thay đổi

đại lượng nào? (Nhiệt độ)
+ GV: Giới thiệu lại các phương án, HS nêu
tên chung cho từng phương án.
+ GV: Kết lại hai cách làm thay đổi nhiệt
năng của một vật.
+ GV: Giới thiệu khái niệm về thực hiện
công.

II. Các cách làm thay đổi nhiệt năng:

- HS: Dựa vào thí nghiệm đã làm (hoặc
nghĩ ra thí nghiệm tương tự) trả lời C1.

1. Thực hiện công:

+ GV: Hướng dẫn HS diễn đạt hoàn chỉnh

C1: Dùng tay cọ xát miếng đồng vào vải

C1.

khô (thực hiện công lên miếng đồng), miếng
đồng nóng lên, nhiệt năng của nó tăng.

+ GV: Nêu khái niệm truyền nhiệt (SGK).

2. Truyền nhiệt:



khi truyền nhiệt, nhiệt năng của

nước nóng thay đổi như thế nào? (Giảm) →
Phần nhiệt năng nước nóng giảm (mất) đi
cũng gọi là nhiệt lượng.
? Nhiệt

lượng là gì?
+ Phần nhiệt năng mà vật nhận thêm

+ GV: Thông báo ký hiệu và đơn vị nhiệt

được hay mất bớt đi trong quá trình truyền

lượng.

nhiệt gọi là nhiệt lượng.

- HS: Giải thích vì sao đơn vị nhiệt lượng là

+ Ký hiệu: Q

J.

+ Đơn vị: J

+ GV: Giới thiệu nhà Vật lý học người Anh
(Jun)


mà đã chuyển hóa thành nhiệt năng của quả
bóng, của không khí ở gần quả bóng và của
mặt sàn.

4.4 Câu hỏi, bài tập củng cố:
1. HS đọc ghi nhớ bài học.

1. “Ghi nhớ” trang 75 SGK.

2. Bài tập 21.1 và 21.2 SBT.

2. Bài 21.1: Câu C - Bài 21.2: Câu B

4.5 Hướng dẫn học sinh tự học ở nhà:

NỘI DUNG GHI VỞ THỰC HÀNH

- Học sinh: + Đối với bài học ở tiết này:
 Học bài, đọc mục “Có thể em chưa biết”
 Bài tập về nhà: 21.3; 21.4 SBT.
+ Đối với bài học ở tiết sau: “Ôn tập”
 Ôn lại kiến thức từ tiết 19 (bài Định luật về công) đến tiết 26 (bài

Nhiệt năng).
 Xem lại công thức tính công, công suất.

- Giáo viên: + Hướng dẫn bài tập 21.3 (Chú ý thuật ngữ: bay, cao và xét xem viên

đạn có nóng lên không để xác định các dạng năng lượng); bài tập 21.4 (Dựa vào định
nghĩa truyền nhiệt và điều kiện có công để xác định khi nào có truyền nhiệt, khi nào có

Câu 4: Nêu một hiện tượng trong thực tế có liên quan đến quán tính? (2,5đ)


Đáp án:
Câu 1: Là chuyển động không đều (1,5đ). Vì tốc độ của bạn ấy thay đổi (có lúc

bạn chạy nhanh, có lúc bạn chạy chậm). (1đ)
Câu 2: + Khi phấn viết lên bảng thì xuất hiện lực ma sát trượt. (1,5đ)
+ Lực ma sát này có lợi. (1đ)
Câu 3: Quả bóng lăn trên sân cỏ. Lực ma sát lăn xuất hiện giữa quả bóng và mặt
sân làm cản trở chuyển động lăn của quả bóng. (2,5đ)
Câu 4: Khi nhổ cỏ, nếu ta bức đột ngột thì cỏ bị đứt ngang vì có quán tính. (2,5đ)
*******
2. KIỂM TRA 15 PHÚT SAU TÁC ĐỘNG (TUẦN 27 – HKII):


Đề bài:
Câu 1: Khi nào vật có động năng? Cho ví dụ? (2,5đ)
Câu 2: Cho một thìa đường cát vào cốc nước rồi khuấy lên, đường tan và nước

có vị ngọt. Tại sao vậy? (2,5đ)
Câu 3: Nêu một ví dụ minh họa cách làm thay đổi nhiệt năng bằng truyền nhiệt?
(2,5đ)
Câu 4: Hãy thiết kế một thí nghiệm chứng tỏ có thể làm thay đổi nhiệt năng của
một vật bằng cách thực hiện công? (2,5đ)


Đáp án:
Câu 1: Khi vật chuyển động thì vật có động năng (1,5đ). Ví dụ: Hòn bi đang lăn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status