Một số biện pháp chỉ đạo xây dựng hệ thống bài tập chính tả lớp 4 nhằm giúp học sinh hạn chế lỗi - Pdf 50

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO XÂY HỆ THỐNG BÀI TẬP
CHÍNH TẢ LỚP 4 NHẰM GIÚP HỌC SINH HẠN CHẾ LỖI
CHÍNH TẢ DO PHƯƠNG NGỮ

Người thực hiện: Lê Bá Việt
Chức vụ: Phó Hiệu trưởng
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Quảng Đông
SKKN thuộc lĩnh mực (môn): Tiếng Việt

THANH HOÁ NĂM 2018


MỤC LỤC
1.MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài.........................................................................................1
1.2. Mục đích nghiên cứu...........:......................................................................1
1.3. Đối tượng nghiên cứu…………………….................................................2
1.4. Phương pháp nghiên cứu............... ……………………….......................2
1.4.1. Phương pháp quan sát trực quan:............................................................2
1.4.2. Phương pháp điều
tra:..............................................................................2
1.4.3. Phương pháp nghiên cứu lí luận:.............................................................2
1.4.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm:.......................................................2
1.4.5. Phương pháp tổng kết kinh
nghiệm:........................................................2

còn mang nặng tính làng xã. Trong đó có hoạt động giao tiếp còn chứa đựng
nhiều tính phương ngữ không theo chuẩn ngôn ngữ phổ thông. Điều này ảnh
hưởng rất lớn trong công tác nâng cao chất lượng dạy và học.
Với sự quan tâm đặc biệt của địa phương đối với ngành giáo dục thành phố
Thanh Hóa, Thành ủy đã ban hành Nghị quyết “ Viết chuẩn – nói chuẩn” làm
cơ sở lí luận cho ngành giáo dục xây dựng mục tiêu và tầm nhìn chiến lược.
Từ đó Nghị quyết “ Viết chuẩn – nói chuẩn” ra đời sẽ là cơ sở cho các trường
học xây dựng kế hoạch hoạt động chuyên môn nhằm nâng cao chất lượng
giáo duc toàn diện.(7)
Ở bậc Tiểu học, Chính tả là một phân môn có tầm quan trọng trong việc
dạy học tiếng Việt cho học sinh Tiểu học. Chính tả còn là phân môn có tính
chất công cụ, nó có vị trí quan trọng trong giai đoạn học tập đầu tiên của trẻ.
Nó cũng có ý nghĩa quan trọng đối với việc học môn Tiếng việt và các môn
học khác. Chính tả là hệ thống chữ viết được xem là chuẩn mực của một ngôn
ngữ. Vì vậy, muốn viết đúng Chính tả, ta phải tuân theo những quy định, quy
tắc đã được xác lập. Trong thực tế, học sinh mắc lỗi Chính tả rất nhiều. Điều
này ảnh hưởng tới kết quả học tập của các em ở môn Tiếng việt cũng như các
môn học khác, hạn chế khả năng giao tiếp, làm các em mất tự tin, trở nên rụt
rè, nhút nhát. (1)
Xuất phát từ những lí do trên tôi đã mạnh dạn nghiên cứu và áp dụng
sáng kiến kinh nghiệm : « Một số biện pháp chỉ đạo xây dựng hệ thống bài
tập chính tả lớp 4 nhằm giúp học sinh hạn chế lỗi chính tả do phương ngữ »
vào việc dạy học tại trường Tiểu học Quảng Đông chúng tôi.
Với đề tài này, tôi đã cố gắng phân loại lỗi chính tả do phương ngữ mà học
sinh lớp 4 trường tôi thường mắc phải, giúp các em ghi nhớ các hiện tượng
chính tả này. Đồng thời xây dựng một số bài tập chính tả phương ngữ phù hợp
với học sinh Tiểu học (lớp 4) để thay thế cho một số bài tập chính tả không
phải là dùng để rèn luyện lỗi phổ biến của học sinh lớp 4 mà tôi đang chỉ đạo
chuyên môn. Bên cạnh bổ sung thêm bài tập cho học sinh, cung cấp thêm cho
các em một số mẹo, luật chính tả nhằm giúp các em khắc phục lỗi chính tả do

1.4.3. Phương pháp nghiên cứu lí luận
Nghiên cứu các tài liệu về đổi mới phương pháp dạy học, tạp chí giáo dục,
tài liệu về phương pháp giảng dạy phân môn chính tả, sách giáo khoa, sách
giáo viên Tiếng Việt 4, sách bồi dưỡng nâng cao và một số tài liệu tham khảo
khác.
1.4.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành dạy thực nghiệm, áp dụng kinh nghiệm qua một năm học của
học sinh khối 4 Trường tiểu học Quảng Đông, năm học 2017 – 2018.
1.4.5. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Tích hợp nội dung, kết quả nghiên cứu thông qua các phương pháp nghiên
cứu nói trên để đúc rút, tổng kết kinh nghiệm.

2. NỘI DUNG
2


2.1. Cơ sở lí luận
Nước ta có 54 dân tộc anh em cùng chung sống trong cộng đồng các dân
tộc Việt Nam. Mỗi dân tộc có một ngôn ngữ riêng gắn liền với đặc trưng ngôn
ngữ và văn hóa của dân tộc mình được sử dụng làm phương tiện giao tiếp
trong cộng đồng dân tộc đó. Nhưng Tiếng Việt là tiếng nói phổ thông là ngôn
ngữ chung thống nhất của toàn thể dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, cũng như
các ngôn ngữ khác trên thế giới, theo chiều dài lịch sử, dù là mặt bảo thủ nhất,
ngữ âm Tiếng Việt, cụ thể là cách phát âm của người Việt có sự thay đổi và
không phải hoàn toàn thống nhất trên mọi miền đất nước. Căn cứ vào cách
phát âm cụ thể của từng vùng, dựa vào những điểm tương đồng và khác biệt
về ngữ âm, Tiếng Việt được chia ra thành ba vùng ngôn ngữ đó là phương ngữ
Bắc bộ, phương ngữ Trung bộ và phương ngữ Nam bộ. Những đặc điểm
chính về ngữ âm của phương ngữ Trung bộ là:(5,6)
- Về thanh điệu: không đủ 6 thanh, thanh ngã phát âm như thanh hỏi.


Trong thực tế giảng dạy chương trình môn Tiếng Việt, phân môn chính tả
có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh các quy tắc viết đúng và rèn luyện để các
em có kĩ năng, thói quen viết đúng chính tả, rèn luyện để các em có kĩ năng
viết đúng quy trình con chữ, rèn luyện cho học sinh một số phẩm chất: Tính kỉ
luật, tính cẩn thận (vì phải viết thẳng hàng, ngay ngắn, đẹp đẽ). Đồng thời bồi
dưỡng cho các em lòng yêu quý Tiếng Việt.(1)
Trường Tiểu học Quảng Đông (nơi tôi trực tiếp chỉ đạo chuyên môn), trong
quá trình dạy học nói chung dạy chính tả cho học sinh lớp 4 nói riêng, giáo
viên không những đóng vai trò là người truyền thụ kiến thức có sẵn mà là
người tổ chức quá trình dạy học. Mọi học sinh đều được làm việc, đều được
huy động vốn hiểu biết và kinh nghiệm bản thân để tự học, tự giải quyết vấn
đề; đều được rèn luyện phẩm chất tự chủ độc lập trên tinh thần hợp tác một
cách tích cực, sáng tạo.
Kết quả việc dạy của người giáo viên không phải là dạy được kiến thức gì
mà là hình thành kiến thức đó bằng cách nào?
Kết quả học tập của học sinh không chỉ là những tri thức, kĩ năng cơ bản
cần thiết mà còn là phương pháp học tập, phương pháp suy nghĩ giải quyết
vấn đề. Chính vì vậy kết quả giáo dục, chất lượng học tập ngày được nâng
cao.
Mặc dù vậy, trong quá trình dạy học tôi nhận thấy chính mình và các đồng
chí giáo viên khối 4 gặp không ít khó khăn trong việc khắc phục lỗi chính tả
cho học sinh. Điều này do nhiều nguyên nhân nhưng có thể nói do ảnh hưởng
của phương ngữ là phổ biến hơn cả.
Về phía học sinh: Trong giờ chính tả các em được làm các bài tập chính tả
đôi lúc chưa phải là thiết thực nên có thể hoàn thành bài tập rất nhanh (vì lỗi
ấy các em không hoặc ít khi mắc phải) mà các dạng lỗi chính tả các em
thường mắc phải thì chưa được rèn luyện đúng mức.
Vấn đề đặt ra trên đây dẫn đến hậu quả là học sinh có học mà vẫn còn sai.
Qua quá trình giảng dạy và theo dõi chất lượng bộ môn, tôi thấy học sinh lớp

+ iu/iêu: dịu kì, diệu dàng,...
* Nguyên nhân mắc lỗi
+ Về thanh điệu
Theo các nhà ngữ âm học, người Việt ở Thanh Hóa không phân biệt được 2
thanh hỏi, ngã. Người ta đã phát âm thanh ngã như thanh hỏi. Mặt khác, số
lượng tiếng mang 2 thanh này khá lớn. Do đó lỗi về dấu thanh rất phổ biến.
+ Về âm đầu
Trong phương ngữ Thanh Hóa có sự lẫn lộn giữa các chữ ghi âm đầu ch/tr,
s/x. d/gi. Mặt khác, người Miền Nam còn lẫn lộn v và d. Ngoài ra, trong quy
ước về chữ quốc ngữ, một âm ghi bằng 2 hoặc 3 dạng (ví dụ: /k/ ghi bằng
c /k /qu...) dĩ nhiên là có những quy định riêng cho mỗi dạng, nhưng đối với
học sinh tiểu học thì rất dễ lẫn lộn.
+ Về âm chính
Có hai nguyên nhân gây ra sự lẫn lộn về âm chính trong các vần này:
- Nguyên nhân thứ nhất là do sự phức tạp của chữ quốc ngữ: Nguyên âm
/ă/ lại được ghi bằng chữ a trong các vần ay, au, các nguyên âm đôi / ie, ươ,
uô/ lại được ghi bằng các dạng iê, yê, ia, ya; ươ, ưa; uô, ua (kia - khuya, biên tuyến, lửa - chương, mua - muôn); âm đệm lại được ghi bằng 2 con chữ u và o
(ví dụ: tuệ, khoa).
- Nguyên nhân thứ hai là do cách phát âm lẫn lộn trong phương ngữ Nam
đối với các âm chính trong hầu hết các vần như: tiền tuyến
tiền tiến,
tuệ
tệ
+ Về âm cuối
Người Miền Bắc phát âm hoàn toàn không phân biệt các vần có âm cuối
n/ng và t/c mà số từ mang các vần này không nhỏ. Mặt khác hai bán âm cuối/
i, u / lại được ghi bằng 4 con chữ i /y (trong: lai/ lây), u/ o (trong: sau/sao) do
đó lỗi về âm cuối là lỗi khó khắc phục đối với học sinh khu vực ven biển.
2.3.Các biện pháp thực hiện để giúp học sinh lớp 4 khắc phục lỗi chính tả
do phương ngữ.

b, ......ao giấy tờ
c,.....in mời
d, lát.........au
e,......em xét
g, .........âu sắc
Tuần 3
Chính tả: (Nghe -viết) Cháu nghe câu chuyện của bà
Cho học sinh đọc bài tập 2a để nắm nội dung (vì hiện tượng sai chính tả về
ch/ tr ít xảy ra), kết hợp cho học sinh tự luyện thêm bài tập sau:
Khoanh vào chữ cái trước từ viết sai chính tả:
a, khuyên bảo
b, bảo bùng
c, dầu mở
d, họa sĩ
e, mở mang
g, lỗi lầm
h, trổi dậy
i, nổi buồn
k, nỡ nang

6


* Giáo viên chuẩn bị bài tập này trên bảng phụ, hình thức thi đua giữa các
nhóm đôi rèn luyện cách viết thanh hỏi/ thanh ngã.
Tuần 5
Chính tả: (Nghe-viết) Những hạt thóc giống
Bài 2a rèn viết đúng l/ n học sinh tôi không sai lỗi này nên tôi cho học sinh
đọc nội dung bài để giáo dục tính trung thực trong học tập, sau đó thay bằng
bài sau:

7


Cuống nó to và ngắn, quanh cuống có bốn hoặc năm cái tai tròn úp thìa vào
nhau.
Bài làm thêm: Thi tìm các từ chứa tiếng có vần:
a, an:.................
c, ang:.........................
b, ươn:..............
d, ương:......................
Tuần 17
Chính tả:(Nghe -viết) Mùa đông trên rẻo cao
Tôi chọn bài 2b, 3 trang 165 -166 cho HS làm tại lớp. Thay bài 2a bằng bài
sau:
* Chọn một trong hai từ ở ngoặc đơn điền vào chỗ trống:
- Anh ấy... cho tôi một con...nhíp.(dao, giao)
- Trong... lát, anh ấy đã buộc xong sợi ....thép.(dây, giây)
Tuần 18
Ôn tập cuối kì I
Bài ôn tập cho HS làm thêm trong tuần này (ở nhà)
- Điền dấu hỏi hoặc dấu ngã vào chữ in đậm trong đoạn văn sau cho phù
hợp:
- Nước lu như một con trăn không lồ hung hăng ào đến phóng ầm ầm trong
thung lung. Những tang đá to bằng cái chum cung bị nước cuốn. Những cây
chuối rừng nga bập bềnh. Nhưng cây gô lớn vùn vụt lao trên dòng. Một cây
gô dài bị hút vào xoáy chông ngược thân lên khoi mặt nước rồi như bị ai kéo
tụt xuống chìm nghim.
Tuần 23
Chính tả: (Nhớ- viết) Chợ Tết
Bài làm thêm

động có những vườn cây mới trồng nhưng bạc ngàn là những vườn cây cổ
thụ. Những rãnh nước được dẫn từ...ông vào tưới tắm cho gốc cây bốn mùa
ẩm ướt mảng cầu, chôm chôm, vú ...ữa, ...oài tượng, ...oài cát mọc chen nhau.
Tuần 29
Chính tả:(Nghe -viết) Ai đã nghĩ ra các chữ số 1, 2, 3, 4 ...?
Bài làm thêm dùng làm kiểm tra bài cũ, (được viết trên bảng phụ) s hay x?
Hoa mai cũng có năm cánh như hoa đào, nhưng cánh hoa mai to hơn cánh
hoa đào một chút. Những nụ mai không phô hồng mà ngời ...anh màu ngọc
bích. ...ắp nở, nụ mai mới phô vàng. Khi nở, cánh hoa ...òe ra mịn màng như
lụa, những cánh mai ánh lên một ...ắc vàng muốt, mượt mà. Một mùi thơm
lựng như nếp hương phảng phất bay ra.
Tuần 31
Chính tả:( Nghe - viết): Nghe lời chim nói
Học sinh vẫn đọc bài 3a để biết thêm thông tin về Núi Băng. Thay bài 3a
bằng bài sau:
Điền tiếng phù hợp vào chỗ trống để tạo nên các từ láy:
a, giỏi ......
b, mỏng ..... c, sửa .....
d, rủ .........
e, rõ ........... g, kĩ .......
* Vì xét thấy học sinh tôi không viết lẫn lộn thanh ?/~ ở các từ mà bài Sa
mạc đen đưa ra nên tôi thay bài 3b bằng bài:
Chọn các tiếng cho trong ngoặc đơn để hoàn chỉnh đoạn văn:
Hoa mai (trổ, trỗ) từng chùm thưa thớt chứ không đơm đặc như hoa đào.
Nhưng cành mai (uyển, uyễn) (chuyển, chuyễn) hơn cành đào. Vì thế, khi
cành mai rung rinh cười với gió xuân, ta liên (tưởng, tưỡng) đến hình ảnh một
đàn bướm vàng chập chờn bay lượn.
Tuần 34
Chính tả:( Nghe - viết) Nói ngược
Bài làm thêm

4. Viết 3 từ có vần « ắt », 3 từ có vần « ắc ». Đặt câu với mỗi từ đó.
2.3.2. Luyện phát âm
- Để học sinh viết đúng chính tả, tôi phải chú ý luyện phát âm cho học
sinh.Việc rèn phát âm không chỉ được thực hiện trong tiết Tập đọc mà được
thực hiện thường xuyên, liên tục, lâu dài trong tất cả các tiết học như Chính
tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn để phân biệt các thanh, các âm đầu, âm
chính, âm cuối vì chữ quốc ngữ là chữ ghi âm - âm thế nào, chữ ghi lại thế ấy.
- Với những học sinh có vấn đề về mặt phát âm ( nói ngọng, nói lắp…) tôi
lưu ý học sinh chú ý nghe cô phát âm để viết cho đúng. Vì vậy, giáo viên phải
cố gắng phát âm rõ ràng, tốc độ vừa phải để giúp học sinh viết đúng.
2.3.3. Phân tích, so sánh
- Với những tiếng khó, tôi áp dụng biện pháp phân tích cấu tạo tiếng, so
sánh với những tiếng dễ lẫn lộn, nhấn mạnh những điểm khác nhau để học
sinh ghi nhớ.
Ví dụ: Khi viết tiếng “tuyến” học sinh dễ lẫn lộn với tiếng “tiến”, giáo viên
yêu cầu học sinh phân tích cấu tạo hai tiếng này:
- tuyến = t + uyên + thanh sắc
- tiến = t + iên+ thanh sắc
So sánh để thấy sự khác nhau: Tiếng “tuyến” có vần là “uyên”, tiếng “tiến”
có vần là “iên”. Học sinh ghi nhớ điều này, khi viết, các em sẽ không viết sai.
2.3.4. Giải nghĩa từ
10


Việc giải nghĩa từ thường được thực hiện trong tiết Luyện từ và câu, Tập
đọc, Tập làm văn… nhưng nó cũng là việc làm rất cần thiết trong tiết Chính
tả, khi mà học sinh không thể phân biệt từ khó dựa vào phát âm hay phân tích
cấu tạo tiếng.
- Có nhiều cách để giải nghĩa từ cho học sinh: Giáo viên có thể cho học
sinh đọc chú giải, đặt câu (nếu học sinh đặt câu đúng tức là học sinh đã hiểu

Lảnh lót, mê mẩn, lơ lửng, sáng sủa.
+ Nếu gặp một từ láy đôi ta băn khoăn không biết viết dấu hỏi hay dấu ngã,
ta yên tâm viết dấu ngã nếu tiếng đi với nó mang thanh huyền hay thanh nặng.
VD: bão bùng, sạch sẽ, bầu bĩnh
Mẹo này được rút ra dựa vào quy luật phân bố của thanh điệu trong từ láy
đôi, đó là quy luật bằng/ trắc trên cơ sở cùng một âm vực: các thanh trong
cùng một âm vực cao (ngang, hỏi, sắc) và các thanh trong cùng một âm vực
11


thấp (huyền, ngã, nặng) thường chuyển đổi cho nhau trong đó thanh bằng
thường chuyển đổi cho trắc.
Mẹo thanh điệu có thể áp dụng với từ đồng nghĩa
- Gặp một từ ta không biết dấu hỏi hay dấu ngã, ta yên tâm viết dấu ngã
nếu từ ấy đồng nghĩa hay gần với nghĩa một từ khác có dấu huyền hay dấu
nặng.(4)
Vì: chìa ra, chĩa ra, tiền lời, tiền lãi, giẫm, giậm,...
- Gặp một từ ta không biết viết dấu hỏi hay dấu ngã, ta yên tâm viết dấu hỏi
nếu từ ấy đồng nghĩa hay gần nghĩa với một từ khác có dấu ngang hay dấu
sắc.
Ví dụ: lẻn/ lén, chửa/ chăng, hả/ há,...
- Cung cấp mẹo thanh điệu đối với từ Hán Việt cho học sinh.
+ Gặp một từ Hán Việt, không biết viết hỏi hay ngã ta yên tâm viết thanh
ngã nếu tiếng ấy có phụ âm đầu là m, n, nh, v, l, d, ng, ngh.
Ví dụ:

Mãn khóa
Mĩ mãn
Truy nã
Nỗ lực

Giáo viên nên cho học sinh thực hiện các dạng bài tập chính tả khác nhau
để giúp học sinh tập vận dụng các kiến thức đã học, làm quen với việc sử
dụng từ trong văn cảnh cụ thể. Sau mỗi bài tập, giáo viên giúp học sinh rút ra
các quy tắc chính tả để các em ghi nhớ.
12


Ngoài ra, việc kiểm tra “viết đúng chính tả” của giáo viên đối với học sinh
không chỉ ở môn Chính tả mà cũng cần lưu ý nhắc nhở học sinh ở tất cả
các môn học khác trong chương trình, đặc biệt là môn Tập làm văn. Việc
này phải được tiến hành kiên trì và liên tục để giúp học sinh dần có ý thức rèn
kỹ năng “viết đúng” trong mọi tình huống.
2.4. Kết quả đạt được sau khi vận dụng sáng kiến“Một số chỉ đạo xây
dựng hệ thống bài tập chính tả lớp 4 giúp học sinh hạn chế lỗi chính tả do
phương ngữ „
2.4.1. Nội dung
Áp dụng đề tài đã nghiên cứu để dạy học chính tả lớp 4 trong cả năm học
2017-2018.
2.4.2. Tổ chức thực hiện
Trong năm học 2017- 2018 vừa qua tôi đã chỉ đạo cho giáo viên khối 4 vận
dụng kinh nghiệm này vào việc giảng dạy phân môn chính tả cho học sinh.
Sau một năm học kết quả được nâng lên rõ rệt. Học sinh đã hạn chế được lỗi
chính tả do phương ngữ rất lớn. Điều đáng mừng hơn là khi học phân môn tập
làm văn và các môn học khác các em có thói quen viết đúng chính tả, trình
bày sạch đẹp.
Bản thân tôi là một quản lí có được kết quả như vậy tôi rất phấn khởi và tự
tin với những thành công khi vận dụng kinh nghiệm này.
Cụ thể kết quả đạt được sau các lần kiểm tra trong năm học 2017-2018 như
sau:
Tổng số học sinh được tham gia kiểm tra là: 78em, với 78 bài kiểm tra.


51,3

30

38,5

2

Cuối kì I

20

25,6

38

48,8

20

25,6

3

Giữa kì II

35

45

Qua sáng kiến trên tôi tự rút ra một số bài học kinh nghiệm cho bản thân:
1. Điều tra đối tượng, tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến tình trạng viết sai
chính tả ở học sinh…
2. Nắm rõ nguyên nhân, tìm hiểu kĩ các lỗi chính tả phương ngữ thường
mắc của học sinh, từ đó soạn ra bài tập chính tả phương ngữ phù hợp với từng
đối tượng học sinh.
3. Đặc biệt quan tâm tới mẹo, luật chính tả để giúp học sinh viết đúng.
4. Đặc biệt lưu tâm đến việc nhận xét, chữa lỗi chính tả trong bài viết cũng
như bài tập chính tả của học sinh.
3.2.Kiến nghị
Để sáng kiến kinh nghiệm có thể triển khai và áp dụng một cách có hiệu
quả trong công tác giảng dạy, bản thân tôi xin có một số đề xuất với các cấp,
các nghành một số nội dung sau đây:
1. Đối với nhà trường.
- Tổ chức hiệu quả các chuyền đề, sinh hoạt chuyên môn đến cán bộ giáo
viên thực hiện Viết chuẩn – nói chuẩn tiếng phổ thông.
- Tổ chức cho cán bộ, giáo viên nghiên cứu chuyên đề dạy đối chứng.
2. Đối với giáo viên.
- Nghiên cứu tình trạng học sinh nói tiếng địa phương của lớp mình phụ
trách nói riêng và nhà trường nói chung.
- Nghiên cứu các biện pháp dạy học tích cực để giúp học sinh hạn chế lỗi
viết chính tả do phương ngữ tác động.
- Thực hiện nghiêm túc, hiệu quả sáng kiến chỉ đạo của chuyên môn đề ra.
Mặc dù rất cố gắng, xong đề tài chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu
sót trong quá trình nghiên cứu và xây dựng sáng kiến, rất mong những ý kiến
đóng góp, bổ sung của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để sáng kiến
kinh nghiệm được hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn!

14


- Sổ tay chính tả TiếngViệt
Tiểu học
5
- Dạy và học chính tả ở
Tiểu học
6
- Chữa lỗi chính tả cho
học sinh
- Nghị Quyết Chuyên đề
“Viết chuẩn- nói chuẩn”
7

Tên tác giả

Năm xuất bản

- Nguyến Minh Thuyết

- 2011

- Nguyến Minh Thuyết

- 2010

- Lê Phương Nga

- 2007

- Hoàng Văn Thung



2012

2

Một số biện pháp chỉ đạo về công tác
chủ nhiệm lớp.

B

Phòng GD&ĐT

2013

3

Giải bài toán tìm số trung bình cộng
bằng phương pháp vẽ sơ đồ đoạn
thẳng.

A

Phòng GD&ĐT

2015

4

Giải bài toán tìm số trung bình cộng
bằng phương pháp vẽ sơ đồ đoạn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status