skkn một số biện pháp rèn kỹ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 4,5 - Pdf 50

1 MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài
Từ xa xưa, nhân dân ta đã có câu “Nét chữ, nết người” có nghĩa là nét
chữ thể hiện tính cách con người. Thông qua nét chữ trên trang giấy người ta có
thể đoán biết tính cách của con người đó là thế nào. Những dòng chữ đẹp, đúng
chính tả có một sức hút kì lạ ai ai cũng muốn ngắm nhìn và không tiếc lời ngợi
khen. Nét chữ đều, đẹp thể hiện con người đó có tính cẩn thận; nét chữ đúng thể
hiện người đó có trí nhớ tốt ghi nhớ đúng các mặt chữ. Cho nên, một bài viết
đúng chính tả, viết đều đẹp thể hiện được con người vừa hồng vừa chuyên về
đức, trí, thể, mĩ. Cho đến nay, câu nói trên vẫn được coi là đúng. Tuy nhiên
chúng ta cần phải hiểu “nét chữ” không phải đơn thuần là nét thanh, nét đậm mà
nó bao hàm cả việc viết đúng, viết đẹp chính tả, viết hoa, viết đúng các từ ngữ
vay mượn từ tiếng nước ngoài…
Kĩ năng chính tả thực sự cần thiết đối với mọi người, không chỉ đối với
học sinh Tiểu học. Đọc một văn bản được viết đúng chính tả, người đọc có cơ sở
để hiểu đúng nội dung văn bản đó. Trái lại, đọc một văn bản mắc nhiều sai sót
về mặt chính tả người đọc khó nắm bắt nội dung và có thể hiểu sai hoặc không
hiểu được đầy đủ văn bản. Muốn rèn luyện được kĩ năng viết đúng cho HS, GV
cần có một số hiểu biết về chữ Quốc ngữ, về nguyên tắc chính tả của tiếng Việt,
về những lỗi sai do phát âm địa phương. Từ đó tiến hành rèn luyện và nâng cao
kĩ năng viết đúng chính tả theo một số quy tắc nhất định, cần nhớ, cần rèn luyện.
Những vấn đề về chữ viết và chính tả thường tỉ mỉ và khô khan. Giáo viên cần
rèn luyện cho học sinh cả thái độ học tập và rèn luyện cần mẫn, thận trọng, chú
ý đến từng chi tiết nhỏ, chú ý sửa cái sai để luyện cái đúng.
Xuất phát từ nhận thức trên, ở bậc Tiểu học, phân môn Chính tả có vị trí
quan trọng trong cơ cấu chương trình môn Tiếng Việt nói riêng, các môn học ở
trường nói chung. Nó giúp học sinh hình thành năng lực và thói quen viết đúng
chính tả, nói rộng hơn là năng lực và thói quen viết đúng tiếng Việt văn hóa,
tiếng Việt chuẩn mực. Ngoài ra, phân môn Chính tả còn rèn cho học sinh một số
phẩm chất như tính cẩn thận, óc thẩm mỹ, trí tưởng tượng, bồi dưỡng cho học
sinh lòng yêu quý tiếng Việt và chữ viết của tiếng Việt. Đúng như bác Phạm Văn

Xuất phát từ thực tế trên mà tôi chọn đề tài để nghiên cứu “Một số biện
pháp rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 4; 5”.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Qua đề tài này tôi muốn mình thực sự nghiên cứu nội dung chương trình
môn Tiếng Việt ở tiểu học, cụ thể là:
- Phát hiện, tìm nguyên nhân và biện pháp sửa lỗi chính tả cho học sinh
lớp 4; 5.
- Rèn kĩ năng viết đúng chính tả qua việc nắm chắc mẹo luật chính tả và
các quy tắc chính tả để nâng cao chất lượng chữ viết đúng cho học sinh.
- Tích luỹ kinh nghiệm cho bản thân, phục vụ việc giảng dạy tiếng Việt
nói chung và phân môn Chính tả nói riêng ở Tiểu học.
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
Các nguyên tắc, mẹo luật chính tả và cách khắc phục để viết đúng chính tả
cho học sinh lớp 4; 5.
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu đề tài tôi đã sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu quyết định về mẫu chữ viết
trong trường Tiểu học và quy định về cách viết đúng chính tả
- Nghiên cứu thực tiễn:
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu: tìm đọc các tài liệu có liên quan đến
cách sửa sai khi viết chính tả
+ Phương pháp điều tra thông tin: khảo sát học sinh, tổng hợp số lỗi học
sinh mắc phải trong mỗi bài kiểm tra
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến
Mọi sự vật, hiện tượng luôn luôn vận động và phát triển theo những quy
luật nhất định. Các quy luật này được phát hiện, được ý thức và trở thành các
nguyên tắc. Hiện tượng chính tả, trong quá trình vận động và phát triển cũng có
2


Vấn đề chính tả trong nhà trường Tiểu học, đặc biệt là môn Tiếng Việt nói
chung và phân môn Chính tả nói riêng là rèn luyện cho học sinh kĩ năng nghe
nói đọc viết thông qua hệ thống các bài tập: bài tập Chính tả đoạn bài (nhớ viết
hoặc nghe viết) bài tập Chính tả âm vần (kĩ năng phân biệt Chính tả). Cả hai loại
bài tập này đều nhằm rèn luyện cho học sinh kĩ năng viết đúng chính tả, đồng
thời phát triển tư duy logic (bài tập âm vần) cho học sinh hiểu biết thêm về sự
phong phú, đa dạng của tiếng Việt trong cuộc sống muôn màu xung quanh
chúng ta.
Ở Tiểu học không có các tiết dạy riêng về nguyên tắc chính tả mà học sinh
được hình thành dần qua các bài học cụ thể. Vấn đề quan trọng là với mỗi một
nguyên tắc giáo viên cần tập trung vào các vấn đề học sinh dễ mắc lỗi.
Từ lâu, chính tả đã là một môn học chính thức trong nhà trường, yêu cầu về
chính tả trong nhà trường đòi hỏi phải thực hiện nghiêm khắc, cấp bách và triệt
để hơn, tuyệt đối không được tuỳ tiện. Học chính tả, học sinh phải nắm được
3


các quy tắc, rèn luyện để có kỹ năng và thói quen viết đúng chính tả. Mỗi giáo
viên phải có kỹ năng viết đúng, viết đẹp, viết nhanh và có thể viết ra các mẫu
chữ sáng tạo nhưng vẫn giữ được nét chữ, thế chữ mà chữ vẫn đũng, vẫn đẹp.
Kĩ năng viết chính tả được luyện suốt cấp Tiểu học, chủ yếu qua các tiết
chính tả. Điều cần quan tâm là các bài chính tả cần có đủ độ khó thích hợp để
sớm nâng cao và hoàn thiện trình độ viết chính tả của học sinh.[7]
Để dạy tốt phân môn Chính tả, mỗi giáo viên cần nắm vững được nội dung
chương trình. Xác định và thực hiện cách viết hoa đúng với từ ngữ; xác định và
thực hiện những nguyên tắc khác của chính tả như viết hoa, viết tắt, dùng dấu,
phiên âm...
Ở Tiểu học hiện nay có thể dạy chính tả bằng hai phương pháp: tích cực và
tiêu cực. Theo phương pháp tích cực, giáo viên cho học sinh nhìn cách viết
đúng, nghe cách nói đúng để bản thân sẽ viết đúng và nói đúng. Theo phương

4


+ Phụ âm “k” lúc ghi “c”, lúc ghi “k”, lúc ghi “q”. Khi nghe cô giáo phát âm
các tiếng đánh vần với “ c” học sinh lúng túng. Tuy đối với học sinh lớp 4 đây
không phải là loại lỗi phổ biến nhưng một số em vẫn bị mắc lỗi khi viết chính tả.
+ Hiện tượng bị đầy lưỡi, ngắn lưỡi… dẫn đến trường hợp học sinh phát
âm không chuẩn và viết sai chính tả. Ví dụ: Nói ngọng “bảo” thành “bạo”,
“nghĩ ngợi” thành “nghí ngợi”, “mải mê” thành “mãi mê”… đến khi viết các
em viết như mình phát âm.
- Lỗi do chính giáo viên: Một số giáo viên chưa nhận thức đầy đủ về
nguyên nhân viết sai chính tả trong học sinh. Đó là do giáo viên còn dành ít thời
gian cho phân môn Chính tả, chưa coi trọng và chưa xác định được chính tả là
một môn có động lực thúc đẩy cho các môn học khác. Đồng thời với hệ thống
bài tập âm vần nhằm giúp học sinh khắc phục lỗi sai do ảnh hưởng của phương
ngữ nhưng giáo viên vẫn chưa coi trọng đến hiệu quả của việc lựa chọn bài tập.
Giáo viên chưa giúp học sinh nắm vững các mẹo, luật chính tả để viết đúng.
Trên đây là những điều tra mà tôi thu thập được trong giảng dạy. Qua
phần điều tra tôi thấy rằng việc sửa lỗi chính tả cho học sinh của giáo viên chưa
được quan tâm đúng mức. Trong thực tế học sinh còn nhiều em mắc lỗi chính tả.
Thông qua bài Chính tả nghe viết Mười năm cõng bạn đi học (lớp 4 - tuần
2) và bài Chính tả: Nghe viết Lương Ngọc Quyến (lớp 5 - tuần 2), chất lượng
viết chính tả đầu năm của học sinh lớp năm học 2017-2018, như sau:
Lớp

Số
HS

4A
5A

31,2
8
25,1

2.3. Những giải pháp sửa lỗi chính tả cho học sinh lớp 4; 5.
2.3.1. Rèn kĩ năng ghi nhớ mặt chữ của từng từ
Đây là một hình thức rèn luyện và học tập thường xuyên được sử dụng và
có những hiệu quả. Đối với biện pháp này nên sử dụng ngay từ lớp 1 trong việc
dạy học sinh phát âm, dạy tỉ mỉ tên gọi và cách viết các nét cơ bản. Dựa vào các
nét cơ bản này mà học sinh phân biệt được chữ cái, kể cả những chữ cái có hình
dáng cấu tạo giống nhau. Việc ghi nhớ mặt chữ của từng từ đòi hỏi công sức và
thời gian bền bỉ, mà số lượng từ ngữ lại nhiều cho nên không thể chỉ bằng lòng
với cách ghi nhớ máy móc này.
2.3.2. Luyện phát âm cho đúng chuẩn trên cơ sở đó viết đúng chính tả.
Do đặc điểm phát âm của vùng miền làm cho người ta dễ nói sao viết vậy.
Đây là nguyên nhân lớn dẫn đến viết sai chính tả nằm ở yếu tố này. Vì thế điều
quan trọng để sửa sai chính tả trước hết phải rèn luyện cho học sinh kĩ năng đọc
đúng, phát âm đúng.[3]
Nguyên tắc ngữ âm học trong chính tả dẫn đến hệ quả là: muốn viết đúng
chính tả thì cần phát âm đúng ,cần khắc phục và sửa chữa những cách phát âm
5


cá nhân hay do ảnh hưởng của cách phát âm địa phương (khác với chuẩn ngữ
âm) đây là biện pháp có cơ sở lí thuyết, có sự hợp lí, nhưng thực hiện trong thực
tế thì gặp nhiều khó khăn. Vì con người luôn luôn sống ở môi trường ngôn ngữ
xung quanh, không dễ gì không chịu ảnh hưởng khi nói năng, khi giao tiếp. Hơn
nữa, thay đổi một giọng nói chung của một vùng miền là cả một vấn đề không
phải chỉ liên quan đến thói quen, ý chí, mà có liên quan đến cả lĩnh vực tình
cảm, đạo đức.

ngữ còn một số hạn chế: không đảm bảo đúng nguyên tắc ngữ âm học. Nghĩa là
nguyên tắc ghi âm vị chỉ bằng một kí hiệu chữ viết và ngược lại, mỗi kí hiệu chữ
viết chỉ để ghi một âm vị. Nhưng chỗ hạn chế đó được khắc phục bằng những
quy định bổ sung. Nếu viết không đúng những quy định này là mắc lỗi chính tả.
Đó là những trường hợp sau :
* Âm /k/:
6


- Viết bằng chữ k khi đứng trước các nguyên âm hẹp e, ê, i. VD: kiến, kềnh,
kẻng… Nếu đứng trước các nguyên âm khác (a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư, ươ, uô, ưa, ua)
mà viết là k thì sai. Ngoại lệ: Mê-kông, ka-ki.
- Viết bằng chữ c khi đứng trước các nguyên âm a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư, ươ, uô,
ưa, ua. VD: con, cá, cẳng, cân, cổng, cụt, cứ… Nếu trước các nguyên âm e, ê, i
mà viết c là sai.
- Viết bằng q khi đi trước âm đệm u. VD: quan, quyên, quăng… khi không
có âm đệm thì trước đó không được viết q.
+ GV cần lưu ý học sinh về sự biến thể của chữ Quốc ngữ: các vần có âm
đệm là o (oa, oan, oang, oat, oac, oe, oet, oăn, oăng,... ) khi đứng sau q thì
viết o thành u (quả, quét, quãng, quăn,...)
+ Trường hợp đặc biệt: Tổ quốc.
* Âm g, ng và âm gh, ngh:
- Viết là g và ng khi đi trước các âm a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư, ươ, uô, ưa, ua. VD:
gà, gỗ, gò, gắng, gân, gù, gừ, nga, ngu, ngư, ngô, ngơ.
- Viết là gh và ngh khi đứng trứng các nguyên âm i, e, ê, iê, ia. VD: ghi,
ghế, nghe, nghê, nghĩa,nghiên…
Nếu viết lẫn lộn giữa hai nhóm trên thì đều sai.
* Âm đệm /u/:
- Viết bằng chữ u khi phụ âm đầu là q: quốc, quân, quen, quyền, quê..
- Viết bằng chữ u khi đi trước các nguyên âm â, ê, ya, yê. VD: huân, huê,

bành, … ), ch – L (cheo leo, chói lọi, …), L - ch (lau chau, lã chã,…), ch – m
(chào mào, chéch mếch, …), ch – r (chộn rộn, chàng ràng, …), ch – v (choáng
váng, chênh vênh, …).
- Các từ Hán Việt mang dấu nặng hoặc dấu huyền đều viết với TR: trịnh
trọng, truyền thống, vũ trụ, trần thế, triệu phú, …
- Về nghĩa các từ chỉ người trong gia đình viết với ch: cha, chú, chị, cháu,
chắt, chồng.
- Các từ chỉ đồ dùng trong nhà cũng được viết với ch: chổi, chum, chén,
chiếu, chăn, chảo, chậu, chai, chày, …(trừ cái tráp).
- Các từ đồng nghĩa với các mở đầu bằng GI thì đều viết bắt đầu bằng tr:
tranh – giành, tranh – gianh, trầu – giầu, thăng – giăng, tro – gio, trồng – giồng,
trời – giời, trữ - giữ, trả - giả, trở - giở, trùn – giun, …
* s và x
Trong từ láy vần, chỉ có âm đầu x, không có s: lòa xòa, loăn xoăn, bờm
xờm, liêu xiêu, lì xì, lao xao, lộn xộn, xích mích, xo ro, …(ngoại lệ: lụp xụp có
thể viết thành lụp sụp).
- Đi với các vần oa, oe, uê là âm đầu x chứ không phải là s: xuề xòa, xoen
xoét, xoay xở, xoắn xuýt, xòe tay, …
- Tên các thức ăn, đồ dùng nấu nướng thường viết với x: xôi, xáo, xúc xích,
lạp xường, phở xào, cái xanh, xiễn nướng thịt, …
* r, d, và gi
- Chỉ có d mới đi trước các vần có âm đệm (oa, oă, uê, uy) còn r và gi thì
không: dọa, doanh, duyên, duệ, doãn, duyệt, duy,… (trừ từ gốc Pháp: dây curoa).
- Các tiếng Hán Việt viết với r, tiếng nào mang thanh ngã, hoặc nặng thì viết
với d (duyệt, dũng, giả, ..), tiếng nào mang thanh hỏi, hoặc thanh sắc thì viết với
gi (giáo, giảo, giả,…).
- Về nghĩa có nhiều từ tượng thanh bắt đầu bằng r: rào rào, rì rầm, rúc rích,
răng rắc, ra rả, réo rắt, rủng rẻng, ... Và có nhiều từ mô tả trạng thái rung động
cũng bắt đầu bằng r: run rẩy, rung rinh, rập rình, rón rén, rạo rực, rộn ràng,...
- Có những cặp đồng nghĩa có các âm đầu phối hợp thành cặp l - r: lấp –

vào vào hai quy tắc sau đây:
* Ở các từ láy âm, thanh của hai tiếng phải cùng nhóm: nhóm bổng (hỏi, sắc,
không) hoặc nhóm trầm (huyền, ngã, nặng). Vì vậy, khi một tiếng trong từ láy
âm đã rõ ràng mang thanh sắc hoặc thanh không, thì tiếng kia cần viết với thanh
hỏi.
- Sau khi đã cung cấp cho học sinh và giúp các em hiểu những điều trên,
giáo viên cung cấp cho học sinh một số mẹo.
Ví dụ: “ không hỏi sắc, huyền ngã nặng”
Mẹo này có nghĩa là gặp một chữ mà ta không biết nó là dấu hỏi hay dấu
ngã thì hãy tạo một từ láy âm. Nếu chữ láy âm với nó là dấu sắc, dấu không hay
dấu hỏi thì nó sẽ là dấu hỏi. Trái lại, nếu chữ kia là dấu huyền, dấu nặng hay
dấu ngã thì nó sẽ là dấu ngã.
* Trong các từ Hán Việt, các tiếng bắt đầu bằng một trong các phụ âm M, N,
NH, V, L, D, NG (cách nhớ: Mình Nên NHớ Viết Là Dấu NGã) đều mang dấu
ngã chứ không mang dấu hỏi. Ví dụ:
- Dấu không đi với dấu hỏi: mê mẩn, ngơ ngẩn, khẳng khiu, bảnh bao, trong
trẻo, quanh quẩn,….
- Dấu hỏi đi với dấu hỏi: đủng đỉnh, lỉnh kỉnh, bủn rủn, lẩn thẩn,…..
- Dấu sắc đi với dấu hỏi: sáng sủa, rẻ rúng, nhảm nhí, hối hả, gắt gỏng,
bướng bỉnh, đắt đỏ,….
- Dấu huyền đi với dấu ngã: nhỡ nhàng, mỡ màng, não nùng, dễ dàng, bão
bùng, hãi hùng,…
- Dấu ngã đi với dấu ngã: lõa xõa, lõm bõm, lẵng nhẵng,…
9


- Dấu nặng đi với dấu ngã: nũng nịu, thõng thẹo, rộng rãi,….
2.3.6. Sửa lỗi viết sai chính tả khi gặp danh từ riêng - chính tả viết hoa
2.3.6.1. Sửa lỗi sai chính tả khi viết tên người tên địa lí Việt Nam
Trong các loại lỗi chính tả mà học sinh thường mắc phải, lỗi viết hoa

các chữ cái đầu của mỗi tiếng (giống tên người, tên địa lí Việt Nam)..[4]
Ví dụ: Lý Bạch, Đỗ Phủ, ...Trung Quốc, Triều Tiên, Hàn Quốc, Mĩ.......
2.3.6.3. Sửa lỗi sai chính tả khi viết huân, huy chương, danh hiệu, giải
thưởng các tổ chức, đơn vị, cơ quan
Tên gọi các cụm từ chỉ huân, huy chương, danh hiệu, giải thưởng, các tổ
chức, đơn vị, cơ quan là một đơn vị định danh, tức là một tên riêng nhưng chúng
lại không phải là danh từ riêng. Phần lớn tên gọi này là một chuỗi từ bao gồm
các danh từ riêng là danh từ chung (hoặc toàn danh từ chung). Chẳng hạn: Công
ty Cổ phần Đầu tư Tư vấn và Thiết kế xây dựng Thanh Hóa, đây là tên riêng
10


nhưng rõ ràng không thể coi là danh từ riêng để viết hoa tất cả các thành tố kết
hợp nên tên gọi.
Tình trạng nhiều học sinh không viết hoa tên các cụm từ chỉ huân, huy
chương, danh hiệu, giải thưởng các tổ chức, đơn vị, cơ quan... là do hầu hết học
sinh không nắm được quy tắc, không nhận diện được đâu là chữ đầu tiên của
mỗi bộ phận, không nhận diện được tên riêng trong các tổ hợp tên. Học sinh lẫn
lộn giữa tên riêng với tên chung. Loại lỗi này thường 2 kiểu: Không viết hoa chữ
nào (thường gặp hơn), hoặc viết hoa tất cả các chữ. Hệ thống ngữ liệu và thực
hành cho học sinh khi học bài “Danh từ riêng” ở lớp 4 chỉ đề cập đến tên người,
tên địa lí; đến lớp 5 có thêm một số bài tập chính tả về cách viết hoa tên danh
hiệu, giải thưởng, cơ quan...
Để sửa được lỗi này, giáo viên thông qua tất cả các môn học phải luôn
nhắc nhở học sinh ghi nhớ từ (nếu gặp). Dấu hiệu cơ bản cần lưu ý học sinh
nhận diện và phân biệt tên riêng và tên chung là: tên riêng là tên gọi riêng một
người, một vật cụ thể xác định; còn tên chung dùng cho cả chủng loại, không cụ
thể, không xác định nhưng lại mang tính chất riêng của tên riêng đó. Do đó giáo
viên cần hướng dẫn ghi nhớ quy tắc sau:
Quy tắc viết hoa cụm từ chỉ huân, huy chương, danh hiệu, giải thưởng

xưng, đứng độc lập và thể hiện sự tôn trọng.
Ví dụ: Bác, Người (chỉ Chủ tịch Hồ Chí Minh), Đảng (chỉ Đảng Cộng sản Việt
Nam)
- Đối với tên các chức vị, học vị, danh hiệu: giáo viên hướng dẫn học sinh
cần viết hoa tên các chức vị, học vị, danh hiệu nếu đi liền với tên người cụ thể.
Ví dụ: Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc...
- Đối với tên các ngày lễ, ngày kỉ niệm giáo viên hướng dẫn học sinh cần
viết hoa chữ các đầu của âm tiết tạo thành tên gọi ngày lễ, ngày kỉ niệm.
Ví dụ: ngày Quốc khánh 2/9, ngày Nhà giáo Việt Nam...
- Đối với tên các sự kiện lịch sử và các triều đại: giáo viên hướng dẫn học
sinh cần viết hoa chữ cái đầu của các âm tiết tạo thành sự kiện và tên sự kiện,
trong trường hợp có các con số chỉ mốc thời gian phải ghi bằng chữ và viết hoa
chữ cái đầu tiên của chữ chỉ số.
Ví dụ: cuộc Cách mạng tháng Tám, Phong trào Phụ nữ Ba đảm đang..., Triều Lý,
Nhà Nguyễn....
- Đối với tên các loại văn bản: giáo viên hướng dẫn học sinh cần viết hoa
chữ cái đầu của tên văn bản và chữ cái đầu của âm tiết thứ nhất tạo thành tên
riêng của văn bản trong trường hợp nói
đến một văn bản cụ thể.
Ví dụ: tôn trọng Luật Giao thông....
- Đối với tên các tác phẩm, sách, báo, tạp chí: giáo viên hướng dẫn học
sinh cần viết hoa chữ cái đầu của âm tiết thứ nhất tạo thành tên riêng của văn
bản, tác phẩm trong trường hợp nói đến một văn bản cụ thể.
Ví dụ: tác phẩm hội họa Thiếu nữ bên hoa huệ, tạp chí Dạy và học môn Tiếng
Việt....
- Đối với tên các năm âm lịch, ngày tết, ngày tiết, ngày và tháng trong
năm giáo viên cần hướng dẫn học sinh như sau:
+ Viết hoa chữ cái đầu của tất cả các âm tiết tạo thành tên gọi các năm âm
lịch (Mậu Ngọ, Bính Tuất...)
+ Viết hoa chữ cái đầu của âm tiết thứ nhất tạo thành tên gọi ngày tết,

xác, đúng tính chất mẫu mực. Giáo viên đọc mẫu cho học sinh phải chuẩn xác,
đúng chính âm. Giáo viên đọc thong thả, rõ ràng, ngắt hơi hợp lý. Tốc độ đọc
phải phù hợp, tương ứng với tốc độ viết của học sinh. Giáo viên có sự gợi ý,
hướng dẫn và nhắc nhở thích hợp để học sinh viết chính xác, viết đẹp, không tẩy
xóa và đảm bảo đúng tốc độ viết đã được quy định cho từng bài ở từng tiết.
Trong các tiết Chính tả, giáo viên phải nhắc nhở học sinh ngồi đúng tư thế, cách
để vở (nghiêng so với thân người 15độ), cách cầm bút (thường đuôi bút trỏ về
phía vai phải, không trỏ lên trời như kiểu cầm bút viết chữ nho, không trỏ sang
trái).
Một số học sinh có thói quen chưa nghe hết câu giáo viên đọc đã viết. Do
đó nghe được tiếng đầu thì quên tiếng sau hoặc nghe không đầy đủ từ dẫn đến
viết thiếu nét, thiếu từ. Giáo viên cần quy định cho học sinh khi nghe hết câu
mới bắt đầu viết. Khi viết xong thì dò lại xem có thừa, thiếu nét, chữ nào không?
Khi gặp chữ khó thì cứ bình tĩnh để chừa ra và viết tiếp các chữ sau. Khi giáo
viên đọc lại, chữ chưa viết kịp sẽ được viết bổ sung. Viết xong giơ bút để giáo
viên biết. Với những bài viết chính tả là bài thơ, để tránh tình trạng có học sinh
viết nhanh quá, có học sinh viết chậm quá… thì trước khi viết giáo viên gõ một
tiếng thước nhỏ và ước lượng khoảng thời gian để viết xong dòng thơ theo tốc
độ yêu cầu đối với học sinh lớp 4; 5. Giáo viên gõ hai tiếng thước nhỏ thì học
sinh dừng bút viết và giơ bút. Luyện cho học sinh nhiều lần như vậy các em sẽ
có thói quen viết cẩn thận mà không vội vã, đồng thời còn rèn tốc độ viết cho
những học sinh viết chậm
2.3.9. Giúp học sinh ghi nhớ chữ viết gắn liền với nghĩa từ - từ có vấn
đề chính tả
Trong thực tế còn rất nhiều học sinh viết sai chính tả do không hiểu hoặc
hiểu sai nghĩa của từ. Với những trường hợp này, giáo viên cần giúp các em ghi
13


nhớ chữ viết gắn liền với nghĩa của “từ có vấn đề chính tả”. Trên cơ sở học sinh

chặt vào trí nhớ, chắc chắn lỗi sẽ giảm. Có thể đưa một biểu bảng giáo viên làm
mẫu một từ, còn lại học sinh làm tiếp.
Đối với học sinh hoàn thành ở mức độ trung bình, giáo viên làm mẫu cho
các em từ 1- 2 từ. Với học sinh chưa hoàn thành nhất thiết giáo viên phải làm
mẫu “tay đôi” cho các em làm theo. Có như vậy, các em dựa vào bài mẫu của
giáo viên và sẽ tiếp tục phân tích các từ khác với sự trợ giúp của cô giáo. Bài
tập về nhà cũng yêu cầu học sinh làm kiểu này với các từ “lo lắng, lở loét, niềm
nở, nức nở, nắng nôi, nể nang, lanh lợi, lành lặn, nông nổi,….và yêu cầu học
sinh tìm thêm một số từ khác để phân tích cho thành thạo.
2.3.11. Hướng dẫn học sinh thực hành luyện tập nhằm hình thành các kỹ
xảo chính tả
Yêu cầu luyện tập nhằm củng cố, trau dồi kỹ năng viết đúng chính tả tiếng
14


Việt nói chung cho học sinh một cách có hệ thống ( qua các bài tập giúp học
sinh ghi nhớ về quy tắc chính tả, phân biệt cách viết các cặp phụ âm đầu, vần,
thanh dễ lẫn do đặc điểm phát âm địa phương). Đây cũng là bước vừa rèn kỹ
năng vừa củng cố hoặc ôn tập kiến thức chính tả theo chương trình của mỗi lớp.
ở phần này, để khẳng định cho học sinh trong việc làm các bài tập, giáo viên có
thể làm mẫu và tăng cường gợi ý, hướng dẫn học sinh về cách làm, tránh “ thả
nổi” hoặc “ làm thay” học sinh. Giáo viên lưu ý học sinh gắn từ ấy với phần bài
tập đọc đã học và ngữ cảnh. Nhìn chung qua các kiểu bài tập về chính tả, mỗi
bài phải đáp ứng nhiệm vụ chữa một vài lỗi chính tả cụ thể, theo một mức độ cụ
thể:
- Viết chính tả
- Đưa ra những câu trong đó có hai hay nhiều chữ viết khác nhau mà các em
hay lẫn lộn và yêu cầu học sinh điền những chữ đúng vào những chỗ trống.
- Chỉ ra những chữ viết sai chính tả và viết lại cho đúng.
- Giáo viên đưa ra những chữ viết sai lỗi chính tả theo cách viết thường gặp


Việc tổ chức trò chơi trong lớp học là một trong những phương pháp đổi
mới các hình thức dạy học hiện nay. Trò chơi học tập nhằm giải quyết những
nhiệm vụ giáo dục và giáo dưỡng của nhà trường Mầm non và Tiểu học dưới
hình thức vui chơi hấp dẫn. Nếu những trò chơi này được tổ chức tốt, các em sẽ
hứng thú và vui thích tham gia vào trò chơi, quá trình học tập của các em trở nên
nhẹ nhàng, thoải mái. Trò chơi học tập sẽ tạo điều kiện để trẻ sử dụng và củng
cố những kiến thức mà các em tiếp thu được trong học tập cũng như trong cuộc
sống hàng ngày, đồng thời mở rộng những khái niệm mà trẻ đã biết.
Những trò chơi hấp dẫn sẽ tạo điều kiện để hình thành ở trẻ những phẩm
chất cần thiết cho việc lĩnh hội các kiến thức mới như tính linh hoạt, sự nhanh
trí, óc thôngminh sáng tạo và khả năng quan sát. Nếu được hướng dẫn một cách
cụ thể và đúng đắn, có hệ thống, trò chơi học tập sẽ giúp cho quá trình nhận thức
và ngôn ngữ của trẻ được phát triển thuận lợi.
Với phân môn chính tả, giáo viên có thể tổ chức cho học sinh chơi dưới
dạng các bài tập và hình thức thi đua giữa các tổ, đội , cá nhân,…. Trong các giờ
sinh hoạt lớp hay hoạt động tập thể, giáo viên có thể tổ chức các buổi sinh hoạt
với chủ đề: “Tiếng Việt em yêu” hay “nét chữ , nết người”; qua kĩ thuật dạy học
trình bày một phút cho học sinh thi đọc diễn cảm, trình bày về nội dung một văn
bản đọc trong sách giáo khoa. Điều này giúp các em nói lưu loát rồi sẽ có tác
dụng viết đúng chính tả (nói sao viết vậy).
Quan trọng nữa là hoạt động đánh giá, nhận xét bài của học sinh giáo viên
phải nhận xét thật chính xác, thật cụ thể, học sinh viết sai phải viết lại cho đúng.
Phải có những lời nhận xét đối với những học sinh viết chữ chưa đúng, chưa
đẹp, có thể kể cho học sinh nghe chuyện “Thần siêu luyện chữ”, “Văn hay chữ
tốt” hoặc các câu chuyện có liên quan đến tính kiên trì nhẫn nại để từ đó các em
có sự tự tin hơn. Giáo viên theo dõi, khích lệ các em cho dù chỉ có chút ít tiến
bộ.
* Đố vui về các động từ bắt đầu với “ hiện tượng chính tả”
VD: Bốn anh cùng viết “lờ - lờ”

một giải pháp quan trọng thúc đẩy các em nỗ lực phấn đấu viết đúng, viết đẹp
chính tả.
- Phát động phong trào thi đua giữ vở sạch, rèn chữ đẹp không mắc lỗi
chính tả trong lớp nhân dịp các ngày lễ lớn trong năm học. Tặng quà cho những
em đạt giải bằng những món quà nhỏ để khích lệ tinh thần học tập của các em.
- Giáo viên kể cho các em nghe những gương rèn chữ của những người đi
trước được viết trong sách, báo, câu chuyện. Ví dụ: Câu chuyện: Quyển sổ liên
lạc, Cao Bá Quát, Thần Siêu luyện chữ,... Những gương rèn chữ của học sinh
năm trước để các em học hỏi, rút kinh nghiệm.
2.3.15. Phối kết hợp với phụ huynh học sinh trong việc rèn chữ viết đúng,
viết đẹp
Tăng cường công tác tuyên truyền, tác động làm thay đổi nhận thức của
cộng đồng bằng nhiều hình thức. Phối kết hợp với phụ huynh trong việc chia sẻ
kinh nghiệm, trách nhiệm hỗ trợ cùng nhau làm tốt vai trò của giáo dục về vấn
đề viết chữ đúng, đẹp cho học sinh. Vào những buổi họp phụ huynh hay qua trao
đổi trực tiếp giáo viên hướng dẫn cho phụ huynh biết các mẹo luật chính tả đơn
giản để phụ huynh trực tiếp hướng dẫn con em mình viết đúng. Rèn luyện nói
đúng, viết đúng trong môi trường gia đình. Một khi công tác phối hợp với phụ
huynh được làm tốt thì việc viết đúng viết đẹp bài chính tả mới đạt được kết quả
như mong muốn. Giáo viên chia sẻ phương pháp dạy kèm cho học sinh ở nhà
với các phụ huynh và ngược lại phụ huynh có thể cho giáo viên biết những
chuyển biến trong chữ viết của học sinh tốt hơn.
Cần thông tin hai chiều cho phụ huynh phối kết hợp việc luyện viết sao
cho đúng chính tả. Nhắc nhở thường xuyên các lỗi sai phổ biến của học sinh để
phụ huynh nắm được. Từ đó có ý thức kiểm tra, theo dõi sự tiến bộ của con em
mình.
2.4. Hiệu quả đạt được của sáng kiến kinh nghiệm
Trên đây là một số biện pháp sửa lỗi chính tả tôi đã sử dụng trong thời. Do
thời gian có hạn nên các biện pháp sửa lỗi còn hạn chế. Tuy vậy, kết quả thu
được cũng thật đáng khích lệ, số lỗi chính tả của học sinh giảm nhiều so với

rất hào hứng khi tham gia trò chơi và vận dụng tối đa những kiến thức đã học
vào các trò chơi. Các em luôn có tâm thế sẵn sàng chờ đón tiết học. Cụ thể:
Lớp

Số
HS

4A
5A

35
32

Số lỗi chính tả học sinh viết sai/bài chính tả
0-1 lỗi
02 lỗi
03 lỗi
Trên 03 lỗi
SL
TL
SL
TL
SL
TL
SL
TL
13
37,1
10
28,5

bài viết của HS, giúp HS viết đúng rồi viết đẹp.
3.2.2. Kiến nghị
Để khắc phục tình trạng viết chưa đúng, chưa đẹp các bài chính tả đoạn
bài cũng như bài tập chính tả âm vần, góp phần vào việc nâng cao chất lượng
chữ viết đúng đẹp trong mỗi học sinh tôi đề nghị:
* Đối với giáo viên: Sau khi nắm được chất lượng chữ viết đầu năm của
mỗi học sinh, giáo viên cần chú ý phân rõ đối tượng những học sinh dễ bị mắc
các lỗi sai chính tả ở điểm nào để từ đó giáo viên tiến hành từng bước hướng
dẫn học sinh thực hiện các biện pháp chữa đúng các lỗi chính tả mà học sinh đã
mắc phải; lựa chọn nội dung giảng dạy cho thích hợp; trong tiết dạy Chính tả
không bỏ bớt các bước. Giáo viên cần tăng cường sự linh hoạt, sáng tạo trong
giảng dạy, cụ thể trong việc xây dựng nội dung bài sao cho sát và hợp với đối
tượng học sinh lớp mình phụ trách. Từ đó HS viết đúng, viết đẹp hơn bài chính
tả.
Giáo viên cần sử dụng phối hợp các phương pháp dạy chính tả và các biện
pháp chính tả cho học sinh. Giáo viên cần sử dụng, khai thác tối đa các phương
pháp một cách có ý thức. Giáo viên cần không ngừng trang bị những kiến thức
về ngữ âm học, từ vựng… có liên quan đến chính tả. Giáo viên phải phân loại
lỗi chính tả, phát hiện đặc điểm của từng loại lỗi. Nhất là việc xây dựng các quy
tắc chính tả, các mẹo chính tả, giúp học sinh ghi nhớ cách viết một cách khái
quát, có hệ thống. Mỗi giáo viên cần có ý thức rèn chính tả cho học sinh ngay từ
đầu cấp hoặc từ đầu năm học.
Quan trọng nữa là hoạt động đánh giá, nhận xét bài của học sinh. Giáo
viên phải nhận xét thật chính xác, thật cụ thể, học sinh viết sai phải viết lại cho
đúng. Phải có những lời nhận xét động viên đối với học sinh viết chữ chưa đúng,
chưa đẹp. Giáo viên có thể kể cho học sinh nghe chuyện “Thần siêu luyện chữ”,
“Văn hay chữ tốt” hoặc các câu chuyện có liên quan đến tính kiên trì nhẫn nại để
từ đó các em có sự tự tin hơn. Giáo viên theo dõi, khích lệ các em cho dù chỉ có
chút ít tiến bộ.
* Đối với nhà trường: Thường xuyên tổ chức các chuyên đề, cuộc thảo

20




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status