skkn một số kinh nghiệm rèn kĩ năng đọc cho HS lớp 2 - Pdf 50

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài.
Mục tiêu của giáo dục Tiểu học là “Hình thành và phát triển ở HS các kĩ
năng sử dụng Tiếng Việt( nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các
môi trường hoạt động của lứa tuổi”, môn Tiếng Việt bậc Tiểu học lấy nguyên tắc
dạy học giao tiếp làm định hướng cơ bản. [2]
Trong giáo dục phổ thông nói chung và trường Tiểu học nói riêng, môn
Tiếng Việt là một môn quan trọng chiếm vị trí chủ yếu trong trương trình. Môn
này có đặc trưng cơ bản vừa là môn học cung cấp cho học sinh một khối lượng
kiến thức cơ bản nhằm đáp ứng được những mục tiêu, nhiệm vụ của từng môn
học vừa là công cụ để học tập các môn học khác. [6]
Phân môn Tập đọc rèn cho HS các kĩ năng đọc( đọc thành tiếng, đọc thầm,
đọc hiểu, đọc diễn cảm), nghe và nói. Bên cạnh đó, thông qua hệ thống bài đọc
theo chủ điểm và những câu hỏi, những bài tập khai thác nội dung bài đọc, phân
môn Tập đọc cung cấp cho HS những hiểu biết về thiên nhiên, xã hội và con
người, cung cấp vốn từ, vốn diễn đạt, những hiểu biết về tác phẩm văn học( như
đề tài, cốt truyện, nhân vật,…) và góp phần rèn luyện nhân cách cho HS. [2]
Môn Tập đọc là một phân môn có tầm quan trọng to lớn với bậc Tiểu học,
nó hình thành khả năng giao tiếp, là cơ sở để phát triển tư duy cho trẻ để tiếp thu
các môn học khác. Trong năng lực hoạt động ngôn ngữ ở con người thể hiện ở kĩ
năng: Nghe, nói, đọc, viết. Như vậy kĩ năng đọc là một trong bốn kĩ năng hoạt
động của ngôn ngữ. Đặc biệt ở Tiểu học nói chung và ở lớp 2 nói riêng, kĩ năng
đọc có ý nghĩa rất sâu sắc, đọc để nắm được ý chính của đoạn văn, biết đặt đầu
đề cho đoạn văn, biết nhận xét về một số hình ảnh, nhân vật hoặc chi tiết trong
bài học. Môn này giúp học sinh trau dồi vốn tiếng Việt, vốn văn học, phát triển
tư duy, mở rộng sự hiểu biết của học sinh về cuộc sống. Muốn học giỏi thì trước
hết phải đọc thông, viết thạo thì các em mới nắm được nội dung bài. Từ đó các
em mới cảm thụ được cái hay, cái đẹp, suy luận, tìm tòi để làm bài được tốt. [4]
Môn Tập đọc ở Tiểu học nói chung và ở lớp 2 nói riêng đặt ra một nhiệm
vụ quan trọng, trong các giờ tập đọc, học thuộc lòng học sinh biết đọc trôi chảy
một đoạn văn, đoạn đối thoại,bài văn ngắn, bài thơ. Bước đầu biết đọc thầm bài

đặc thù của địa phương. Cần đọc bài tập đọc như thế nào, làm thế nào để chữa
lỗi phát âm cho học sinh, làm thế nào để các em đọc đúng, đọc nhanh hơn, diễn
cảm hơn. Làm sao để phối hợp đọc thành tiếng và đọc hiểu,… Đó là những trăn
trở của giáo viên trong mỗi giờ Tập đọc. Từ thực trạng đó nên dẫn đến giờ dạy hiệu
quả chưa cao mà trong chương trình chưa có hướng dẫn cụ thể, chưa đúc rút kinh
nghiệm trong giảng dạy. Vì thế tôi băn khoăn, trăn trở và mạnh dạn chọn nghiên
cứu viết SKKN " Một số kinh nghiệm rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 2".
1.2. Mục đích nghiên cứu.
Tôi nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích:
- Tìm hiểu yêu cầu nhiệm vụ và thực trạng dạy học của phân môn Tập đọc
lớp 2.
- Đưa ra một số kinh nghiệm giúp học sinh rèn kĩ năng đọc tốt hơn, qua đó
nâng cao năng lực đọc đúng, đọc hay, đọc diễn cảm của mỗi học sinh.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
- Đề tài được nghiên cứu ứng dụng trực tiếp đối với 32 học sinh lớp 2C
trường Tiểu học Quảng Lộc, Quảng Xương, trong năm học 2017 - 2018 (lớp tôi
chủ nhiệm) và 33 học sinh lớp 2B (lớp đối chứng).
- Nghiên cứu về các giải pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 2.
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
Để đạt được mục đích nghiên cứu, tôi đã sử dụng một số phương pháp.
- Phương pháp nghiên cứu, lí luận.
Tìm đọc, phân tích, thu thập các vấn đề về lí luận dạy học liên quan đến vấn
đề nghiên cứu.
- Phương pháp điều tra quan sát, khảo sát thực tế, thu thập thông tin.
Tôi tiến hành điều tra ở hai lớp: lớp thực nghiệm và lớp đối chứng để nắm
được kĩ năng đọc của HS trước và sau khi thực hiện các giải pháp.
- Phương pháp thực nghiệm và đối chứng kết quả.

2


dung văn bản. Ngược lại nếu không hiểu điều đang đọc thì không thể đọc nhanh
và diễn cảm được. Nhiều khi, khó mà nói được rạch ròi kỹ năng nào làm cơ sở
cho kỹ năng nào, nhờ đọc đúng mà hiểu đúng, hay chính nhờ hiểu đúng mới đọc
đúng. Vì vậy trong dạy đọc không thể xem nhẹ yếu tố nào.
- Thông qua việc dạy đọc, làm cho học sinh thích đọc và thấy đó là một trong
những con đường đặc biệt để tạo cho mình một cuộc sống trí tuệ đầy đủ và phát
triển.
- Đọc không thể tách rời khỏi những nội dung được đọc nên bên cạnh
nhiệm vụ rèn kỹ năng đọc, phân môn Tập đọc còn có nhiệm vụ:
+ Làm giàu và tích cực hóa vốn kiến thức ngôn ngữ, đời sống và kiến thức
văn học cho học sinh.
+Bồi dưỡng vốn văn học ban đầu, mở rộng hiểu biết về cuộc sống, hình
thành một số kĩ năng phục vụ cho đời sống và việc học tập của bản thân.
+ Phát triển một số thao tác tư duy cơ bản.

3


+ Giáo dục tư tưởng, đạo đức, tình cảm, thị hiếu thẩm mĩ cho học sinh.
Quá trình dạy học gồm hai mặt có quan hệ mật thiết với nhau: Hoạt động
dạy học của giáo viên và hoạt động học của học sinh. Người giáo viên là chủ thể
của hoạt động dạy với hai chức năng truyền đạt và chủ đạo tổ chức. Học sinh là
đối tượng (khách thể) của hoạt động dạy nhưng lại là chủ thể của hoạt động học
tập với hai chức năng tiếp thu và tự chỉ đạo, tự tổ chức.
Hoạt động học tập của học sinh chỉ có thể đạt hiệu quả nếu học sinh tiến
hành các hoạt động học tập một cách tích cực, chủ động, tự giác với một động
cơ nhận thức sâu sắc. Bằng hoạt động học tập, mỗi học sinh tự hình thành và
phát triển nhân cách của mình mà không ai có thể làm thay được.
Dạy học là con đường thuận lợi nhất, giúp học sinh trong khoảng thời gian
ngắn nhất, có thể nắm được một khối lượng kiến thức cần thiết. Nó được tiến

nhiều phụ huynh rất quan tâm đến việc học của con em mình.

4


-Khó khăn: Bên cạnh những thuận lợi trên, không thể không nói đến những
khó khăn:
+Địa phương nơi tôi công tác là một xã thuần nông, nền kinh tế người dân
còn gặp nhiều khó khăn. Vì vậy trong xã có rất nhiều người dân phải đi làm ăn
xa nên cũng ảnh hưởng không nhỏ tới việc học tập của các em. Nhiều gia đình
không quan tâm đến việc học tập của con em mình, giao phó cho ông bà hoặc có
tư tưởng khoán trắng cho nhà trường.
* Nhà trường, học sinh.
-Thuận lợi: BGH nhà trường thường xuyên quản lý sát sao và có kế hoạch
hoạt động phù hợp, luôn tạo điều kiện thuận lợi cho việc Dạy - Học của giáo
viên và học sinh. Trường có số lượng hơn 500 em, số HS ở các lớp không quá
đông nên thuận lợi cho GV quan tâm các em nhiều hơn.
-Khó khăn:+Nhà trường: Điều kiện cơ sở vật chất của trường còn nhiều
thiếu thốn: chưa có các phòng chức năng cho học sinh, bàn ghế ngồi học còn
chưa đúng quy cách, một số GV chuyển từ cấp hai xuống nên việc tiếp cận
phương pháp dạy học Tiếng Việt còn hạn chế.
+Về HS: Việc học Tiếng Việt của các em còn hạn chế, nhất là nhiều học
sinh còn đọc sai, phát âm không đúng và còn sai lỗi phát âm địa phương. Các
em còn tiếp thu bài một cách thụ động. Các em ngại đọc nhiều lần.
2.2.2. Thực trạng dạy học Tập đọc của các trường Tiểu học.
* Về phía giáo viên.
- Một số giáo viên chưa thực sự chú ý đến vai trò của đọc mẫu, đọc diễn
cảm trong quá trình dạy Tập đọc.
- Việc lựa chọn từ và giải nghĩa từ của giáo viên còn rập khuôn (bám sát từ
ở phần chú giải trong SGK).

HS đọc
Học sinh
HS đọc đúng
HS đọc ngắc
đúng, trôi chảy, đọc đúng, trôi
nhưng còn chậm, ngứ, phát âm
biết ngắt nghỉ chảy, ngắt nghỉ
ngắt nghỉ chưa
còn sai
hợp lí
chưa hợp lí
hợp lí
SL
TL
SL
TL
SL
TL
SL
TL
2C
6
18,75
12
37,51
7
21,87
7
21,87
2B

Qua khảo sát thực trạng đầu năm và từ những nguyên nhân chủ quan, khách
quan nêu trên, tôi đã mạnh dạn đưa ra một số giải pháp về rèn kĩ năng đọc nhằm
năng cao chất lượng đọc cho học sinh lớp 2.
Giải pháp 1: Xác định mục tiêu nội dung dạy học bài Tập đọc:

6


- Xác định mục tiêu giờ học tức là xác định nội dung để viết mục I “Mục
tiêu” trong kế hoạch bài dạy. Chúng ta biết rằng mục tiêu của phân môn Tập đọc
là các kỹ năng đọc đúng, đọc nhanh, đọc hiểu và đọc diễn cảm.
Vì vậy, khi xác định mục tiêu giờ Tập đọc ta phải chỉ ra được tốc độ,
những nội dung luyện đọc đúng, đọc diễn cảm, đọc hiểu như thế nào?.
- Xác định nội dung dạy đọc càng cụ thể chi tiết bao nhiêu thì việc tiến
hành giờ dạy càng có hiệu quả bấy nhiêu. Để xác định mục tiêu, nội dung dạy
học chúng ta phải trả lời được: Sau giờ học học sinh đạt được những gì? Cụ thể
đó là trả lời các câu hỏi:
+ Học sinh cần đọc bài tập đọc trong thời gian bao lâu? (để xác định tốc
độ đọc, luyện kỹ năng đọc nhanh). [7]
+ Những từ ngữ, câu nào học sinh luyện đọc thành tiếng, chúng cần được
đọc lên như thế nào và vì sao lại chọn những từ ngữ, câu đó để luyện đọc?.
+ Toàn bài cần đọc với giọng điệu như thế nào, tốc độ, cường độ, cao độ,
trường độ ra sao?.
+ Những từ ngữ, câu nào cần giải nghĩa và giải nghĩa chúng ra sao?
Những tình tiết nào của câu chuyện cần tìm hiểu và tìm hiểu chúng như thế nào?
+ Nội dung chính của bài tập đọc là gì, ý nghĩa của bài văn, bài thơ, câu
chuyện là gì? Học sinh được giáo dục điều gì sau khi đọc bài tập đọc?.
Giải pháp 2: Rèn các kỹ năng đọc:
*Đọc mẫu:
- Giáo viên đọc mẫu thật diễn cảm, phù hợp với từng văn bản. Biết hướng

điệu nên tôi thường dùng cử chỉ, nét mặt, để làm tăng thêm tính gợi cảm của câu
thơ. Vì vậy khi học sinh luyện đọc giáo viên phải tạo được không khí trong lớp
học thoải mái để học sinh có tâm trạng chờ đợi và chú ý nghe giáo viên đọc và
cũng từ đó các em học tập và bắt chước thầy.
- Giáo viên phải có kỹ năng “đọc” thành thục.
Như ta đã biết chất lượng đọc của học sinh phụ thuộc vào nhiều yếu tố
trong đó vai trò hướng dẫn của giáo viên rất quan trọng.
Kỹ năng đọc là mục đích cuối cùng chúng ta muốn có ở học sinh sau mỗi
giờ học Tập đọc. Giáo viên phải tạo được cho mình kỹ năng đọc thành thục.
Giáo viên phải biết cách xác định từ, câu quan trọng đến việc hiểu được nghĩa,
ý, tình của văn bản. Giáo viên không thể hình thành ở học sinh kỹ năng gì mà
bản thân mình không có, không thể gặt hái được những gì mà ta không có khả
năng gieo trồng. Vì vậy, trong dạy học chúng ta không có quyền đòi hỏi học sinh
làm những gì mà bản thân mình chưa làm được. Giáo viên không thể luyện cho
học sinh đọc hay, đọc diễn cảm mà bản thân mình chưa xác định được bài văn
cần đọc với giọng điệu như thế nào?. Khi dạy học không có hiệu quả, nhiều giáo
viên đổ lỗi cho phương pháp mà không biết rằng “Phương pháp chỉ là hình thức
của sự tự vận động bên trong của chính nội dung”.
Một trong các phương pháp dạy học quan trọng nhất ở Tiểu học là
phương pháp luyện theo mẫu [5]. Vì vậy, không biết làm mẫu thì không thể tiến
hành giờ dạy. Do đó, khi soạn bài, giáo viên phải xác định được những kỹ năng
đọc cần có và luyện tập cho mình thành thục những kỹ năng này. Khi soạn bài,
giáo viên phải tự làm trước những gì mà học sinh phải làm trên lớp: Đọc thành
tiếng, giải nghĩa từ, trả lời những câu hỏi về nội dung bài.
- Giáo viên có sự hiểu biết về chương trình SGK và các tài liệu dạy học.
- Giáo viên phải tìm hiểu vốn “đọc” của học sinh, đặc điểm, trình độ của
học sinh. Việc tìm hiểu học sinh là một quá trình lâu dài đã được tiến hành
trước đó. Để tiến hành dạy học Tập đọc, chúng ta phải hiểu rõ học sinh của
mình, đặc điểm, trình độ của học sinh, các em đã có những kiến thức kỹ năng
đọc gì, cụ thể chúng ta phải biết rõ học sinh của mình có hứng thú với những

em đọc to chừng nào bạn ở xa nhất trong lớp nghe thấy mới thôi. Giáo viên nên
cho học sinh đứng lên bảng để đối diện với những người nghe, tư thế đứng đọc
phải vừa đàng hoàng, vừa thoải mái, 2 vai phải được mở rộng và cân bằng hai
tay.
* Luyện đọc đúng:
- Đọc đúng là sự tái hiện mặt âm thanh của bài đọc một cách chính xác,
không có lỗi. Đọc đúng là không đọc thừa, không sót từng âm, vần, tiếng. Đọc
đúng phải thể hiện đúng hệ thống ngữ âm chuẩn, tức là đọc đúng chính âm. Nói
cách khác là không đọc theo cách phát âm địa phương lệch chuẩn. Đọc đúng bao
gồm việc đọc đúng các âm thanh (đúng các âm vị), ngắt nghỉ hơi đúng chỗ (đọc
đúng ngữ điệu). [7]
- Luyện đọc đúng phải rèn cho học sinh thể hiện chính xác các âm vị
Tiếng Việt.
+ Đọc đúng các phụ âm đầu s/x, tr/ch
+ Đọc đúng các chính âm: Có ý thức phân biệt để không đọc “bưởi” thành
“bửi”, “hạt muối” thành “hạt múi”...
+ Đọc đúng các âm cuối: “tiếc”, “tiết”,...
+ Đọc đúng các thanh có các lỗi phát âm địa phương như lẫn thanh (~) và
thanh sắc (?) VD: Không đọc “cũng” thành “củng”, “võng” thành “vỏng”,....
+ Đọc đúng bao gồm cả đúng tiết tấu, ngắt hơi, ngữ điệu câu, cần phải
dựa vào nghĩa, vào quan hệ ngữ pháp giữa các tiếng từ để ngắt hơi cho đúng.
Khi đọc không được tách một từ làm hai. VD: không đọc:” Ông già bẻ gẫy từng
chiếc một/cách dễ dàng.//”
+ Không tách từ chỉ hoạt động với từ chỉ đặc điểm mà nó đi kèm:
VD: không đọc: “Cúc tỏa / hương ngào ngạt an ủi chim.//”

9


Ví dụ không đọc: - Tuổi nhỏ làm / việc nhỏ

nói.
+ Biện pháp luyện đọc nhanh: Giáo viên hướng dẫn cho học sinh làm chủ
tốc độ đọc bằng cách đọc mẫu để học sinh đọc theo tốc độ đã định. Đơn vị để
đọc nhanh là cụm từ, câu, đoạn, bài. Giáo viên điều chỉnh tốc độ đọc bằng cách
giữ nhịp đọc. Ngoài ra còn có biện pháp đọc nối tiếp trên lớp, đọc thầm có sự
kiểm tra của giáo viên, của bạn để điều chỉnh tốc độ đọc bằng cách chọn sẵn bài
có tiếng cho trước và dự tính sẽ đọc trong bao nhiêu phút. Định tốc độ đọc như
thế nào còn phụ thuộc vào độ khó của bài đọc.
* Luyện cho học sinh làm chủ tia mắt khi đọc:
Trước hết phải luyện cho học sinh không bỏ sót tiếng, không thêm tiếng,
không lạc giọng.

10


Học sinh lớp 2 khi đọc có em còn bỏ sót tiếng hoặc lạc giọng. Vì các em
này chưa làm chủ được tia mắt. Với những học sinh này giáo viên phải quay lại
với việc sử dụng que trỏ hoặc thước đặt dưới từng dòng kẻ để HS đọc.
* Dạy cho học sinh đọc đúng ngữ điệu, ngắt giọng đúng:
Trong giờ dạy Tập đọc giáo viên phải hướng dẫn đến giáo dục cho học
sinh yêu tiếng Việt bằng cách nêu bật sức mạnh biểu đạt của tiếng Việt, sự giàu
đẹp của âm thanh, sự phong phú của ngữ điệu trong việc biểu đạt nội dung. Thế
nhưng hiện nay ở trường Tiểu học, mặt âm thanh của ngôn ngữ, đặc biệt là ngữ
điệu chưa được chú ý đúng mức. Đó là một trong những lý do khiến cho học
sinh của chúng ta đọc và nói chưa lưu loát. Vì các em không hiểu đúng văn bản
được đọc.
Dạy đọc đúng ngữ điệu là dạy học sinh biết làm chủ những yếu tố này.
Khi đọc các bài văn xuôi, chỗ ngắt giọng phải trùng hợp với ranh giới ngữ
đoạn. Khi đọc một bài thơ, chỗ ngắt nhịp phải tương ứng với chỗ kết thúc một
tiết đoạn.


Dòng nào dưới đây nêu đúng ý của câu thơ:“Mẹ là ngọn gió của con
suốt đời”
A, Mẹ ngồi quạt cho con suốt đời
B, Mẹ suốt đời lo lắng, chăm sóc cho con.
C, Mẹ như ngọn gió làm cho con được mát mẻ. [8]
* Đọc thầm: [4]
Cũng như khi đọc thành tiếng, tư thế ngồi đọc thầm (vì ít khi đứng đọc)
phải ngay ngắn, khoảng cách giữa mắt và sách 30-35cm.
- Kỹ năng đọc thầm phải được chuyển dần từ ngoài vào trong, từ đọc to →
đọc nhỏ → đọc mấp máy môi (không thành tiếng) → đọc hoàn toàn bằng mắt,
không mấp máy môi (đọc thầm) giai đoạn cuối lại gồm 2 bước: Di chuyển mắt
theo que trỏ hoặc ngón tay rồi đến chỉ có mắt di chuyển. Giáo viên phải tổ chức
quá trình chuyển từ ngoài vào trong này.
Cần kiểm soát quá trình đọc thầm của học sinh bằng cách quy định thời
gian đọc thầm cho từng đoạn và bài.
- Hiệu quả của đọc thầm được đo bằng khả năng thông hiểu nội dung văn
bản đọc. Do đó dạy đọc thầm chính là dạy đọc có ý thức đọc hiểu. Kết quả của
đọc thầm phải giúp học sinh hiểu nghĩa của từ, cụm từ, câu, đoạn, bài. Tức là
toàn bộ những gì được đọc. Như tâm lý ngôn ngữ học đã chỉ ra để hiểu và nhớ
những gì được đọc, người đọc không phải xem tất cả các chữ đều quan trọng
như nhau mà có thể và cần sàng lọc để giữ lại những từ “chìa khóa”, những
nhóm từ mang ý nghĩa cơ bản. Đó là những từ để giúp ta hiểu được nội dung của
bài. Trong những bài văn đó là những từ dùng “đắt” tạo nên giá trị nghệ thuật
của từ có tín hiệu nghệ thuật. Đó là những từ giàu màu sắc biểu cảm như các từ
láy, những từ đa nghĩa, những từ mang nghĩa bóng, có sự chuyển nghĩa văn
chương.
Tiếp đó cần hướng dẫn học sinh đến việc phát hiện ra những câu quan
trọng của bài. Những câu nêu ý nghĩa chung của bài.
Giải pháp 3: Tổ chức tốt các hoạt động trong giờ học Tập đọc. [4]

định trật tư, tạo cho học sinh tâm thế hứng thú nghe đọc và yêu cầu học sinh
đọc thầm theo để theo dõi bài đọc. Khi đọc, giáo viên đứng ở vị trí bao quát
được cả lớp.
Trong khi đọc, giáo viên cần thỉnh thoảng nhìn lên học sinh để tạo được
sự giao cảm, thu hút học sinh. Mặc dù vậy, việc hướng vào người nghe trong khi
đọc không được làm bài đọc bị gián đoạn. Muốn thế, ở nhà giáo viên phải đọc
kỹ bài nhiều lần.
b) Giáo viên hướng dẫn học sinh luyện đọc, kết hợp giải nghĩa từ
b1/ Đọc từng câu: ( 2 đến 3 lượt)
- Học sinh tiếp nối nhau đọc từng câu đến hết bài (có thể đọc khoảng 2
lượt bài).
- Kết hợp sửa lỗi phát âm cho HS
- GV ghi bảng một số tiếng, từ khó, dễ lẫn để HDHD luyện đọc: GV đọc
mẫu, HS luyện đọc cá nhân, lớp đọc ĐT.
-HS tiếp tục đọc nối tiếp từng câu( lượt 2)
b2/ Đọc từng đoạn trước lớp:
- GV chia đoạn
- Gọi HS nối tiếp nhau đọc trước lớp ( mỗi em 1 đoạn), kết hợp HD đọc
các câu khó (HD ngắt nghỉ) và HD thể hiện tình cảm qua giọng đọc (phần này
có thể xử lý qua 1 – 2 lượt HS đọc). HS và GV nhận xét, tuyên dương.
- HS đọc nối tiếp đoạn( lượt 2), kết hợp giải nghĩa từ mới, từ khó bằng các
hình thức: Tìm từ mới, giải thích từ mới, tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa, đặt câu
với từ mới,...)
b3/ Đọc từng đoạn trong nhóm:
- HS luyện đọc cặp đôi theo bàn, bạn này đọc, bạn khác lắng nghe sau đó
đổi lại.
- GV nên có quy ước với HS để tiện theo dõi.
-Một số nhóm đại diện nhận xét việc luyện đọc trong nhóm của nhóm
mình.


hoặc của toàn bộ đoạn văn, bài văn.
+ Tổ chức cho HS thi đọc CN, đọc phân vai và uốn nắn cách đọc cho HS.
+ Lớp và GV nhận xét, bình chọn CN và nhóm đọc tốt, đọc hay.
+ GV hướng dẫn HS học thuộc lòng (nếu SGK yêu cầu): GVHDHS luyện
HTL bằng cách xóa dần.
5- Củng cố, dặn dò:
- Lưu ý HS về nội dung bài, về cách đọc.
- Nhận xét về giờ học.
- Dặn HS những việc cần làm ở nhà.
Giải pháp 4: Thực nghiệm
1/ Mục đích thực nghiệm:
Tôi tổ chức thực nghiệm bằng cách đưa ra một số ý kiến đề xuất của mình
về một bài học cụ thể và tổ chức dạy ở trường nhằm đánh giá tính khả thi của
các giải pháp đã được đề xuất ở trong sáng kiến này.
2/ Đối tượng, địa bàn, thời gian thực nghiệm:

14


Thực nghiệm vào tuần 26, bài "Sông Hương" [1]. Lớp 2C Trường Tiểu học
Quảng Lộc.
3/ Nội dung thực nghiệm:
- Soạn giáo án.Tiến hành dạy thực nghiệm
- Bài dạy: Sông Hương [1]
4/ Kết quả thực nghiệm:
Sau khi kiểm tra kết quả học tập của học sinh ở lớp thực nghiệm và lớp
đối chứng ở trên tôi nhận thấy:
+ Ở lớp thực nghiệm: Mức độ hoạt động tích cực của học sinh trong giờ
học được biểu hiện khá rõ ràng. Bằng việc sử dụng các phương pháp và hình
thức tổ chức lớp học linh hoạt, lấy học sinh làm trung tâm, trong giờ học hầu hết

chính xác
cảm.
SL
TL
SL
TL
SL
TL
SL
TL
2C
15
46,9
12
37,5
5
15,6
0
0
2B
10
30,3
14
42,5
7
21,2
2
6
* So sánh với kết quả khảo sát đầu năm tôi nhận thấy:
- Học sinh hứng thú hơn trong việc đọc và cảm thấy yêu thích phân môn

tốt mà còn giúp các em tiếp thu môn Tiếng Việt đạt hiệu quả cao, không
những thế chất lượng các môn học khác cũng được nâng lên rõ rệt.
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận:
Thông qua các giải pháp tôi đã áp dụng giảng dạy tại lớp 2C và kết quả đạt
được như trên, tôi rút ra cho bản thân những bài học kinh nghiệm trong quá trình
rèn luyện kĩ năng đọc cho học sinh lớp 2 nói riêng và học sinh các khối khác nói
chung:
- Giáo viên đọc mẫu phải thật hấp dẫn để lôi cuốn học sinh. Giáo viên đọc
chuẩn xác, phù hợp với từng văn bản để học sinh học tập.
- Phải rèn cho học sinh luyện phát âm đúng, chú ý các từ ngữ, luyện đọc
những từ ngữ học sinh phát âm sai ngay lúc đó nhiều lần.
- Cho học sinh luyện đọc: đọc rành mạnh, đọc lưu loát cả văn xuôi, văn
vần. Đọc đúng nhịp thơ, thể hiện ngắt nghỉ đúng chỗ, nhấn giọng các từ ngữ,
biết thay đổi giọng đọc theo đúng ngữ cảnh và tình cảm của câu.
- Cho học sinh luyện đọc diễn cảm theo hình thức phân vai, đọc biết kết
hợp giảng giải của giáo viên, kết hợp việc tóm tắt ý của từng đoạn và nội dung
cả bài. Giáo viên phải giàu lòng yêu nghề, mến trẻ, nhiệt tình, gương mẫu trong

16


dạy học. Giáo viên phải kiên trì, uốn nắn, sửa chữa cách phát âm sai cho học
sinh thật tận tình, chu đáo tránh giảng triền miên, nói nhiều, viết nhiều trong khi
học sinh đọc còn yếu.
Phối hợp nhịp nhàng về chương trình môn Tập đọc với các môn học khác
như : Tập làm văn, Kể chuyện, Chính tả,...
Trên đây là một số giải pháp của tôi đưa ra để áp dụng vào giảng dạy phân
môn Tập đọc lớp 2 để nâng cao chất lượng đọc cho học sinh mà tôi cho là hữu
ích nhất.Trong thực tế giảng dạy mỗi người đều có suy nghĩ, kinh nghiệm, bí

[3] Luyện tập về cảm thụ văn học ở Tiểu học - NXB Giáo dục, 2001.

17


MỤC LỤC
Nội dung
1. Mở đầu.
1.1. Lí do chọn đề tài.

Trang
1
1

1.2. Mục đích nghiên cứu.

2

1.3. Đối tượng nghiên cứu.

2

1.4. Phương pháp nghiên cứu.

2

2. Nội dung sáng kiến.

3




[1] Sách giáo khoa Tiếng Việt 2- NXB Giáo dục.
[2]. Sách giáo viên Tiếng Việt 2- NXB Giáo dục.
[3] Luyện tập về cảm thụ văn học ở Tiểu học - NXB Giáo dục.
[4] Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học - NXB Giáo dục.
[5] Phương pháp dạy Tập đọc - Lê Phương Nga.
[6] Chương trình Tiểu học - NXB Giáo dục.
[7] Dạy học đọc ở Tiểu học - NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, H, 2002.
[8] Luyện đọc và phát triển từ ngữ Tiếng Việt 2 – NXBGD Việt Nam.

DANH MỤC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN
KHOA HỌC NGÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN, TỈNH

19


VÀ CÁC CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN

_______________________________
Tác giả; Lê Thị Hương
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Quảng Lộc

Tên đề tài SKKN

Dạy học Tiếng Việt lớp
1 phù hợp với đối
tượng học sinh dân tộc
H’mông z.


Huyện

C

2011 - 2012

Huyện

A

2013 - 2014

20




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status