SKKN một số kinh nghiệm rèn kĩ năng tính, giải toán cho học sinh lớp 1 - Pdf 35

Một số kinh nghiệm rèn kĩ năng tính, giải toán cho học sinh lớp 1

MỤC LỤC
Tên mục

Trang

Ghi chu

I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÍ do chọn đề tài.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài.
3.Đối tượng nghiên cứu.

2

4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu.
5. Phương pháp nghiên cứu.
II. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận.
2. Thực trạng.

3

2.1. Thuận lợi – khó khăn.
2.2. Thành công – hạn chế.
2.3. Mặt mạnh – mặt yếu.
2.4. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động.
2.5. Phân tích, đánh giá các vấn đề và thực trạng mà đề
tài đã đặt ra.


1


Một số kinh nghiệm rèn kĩ năng tính, giải toán cho học sinh lớp 1

I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Mỗi môn học đều có vai trò quan trọng góp phần vào việc hình thành
nhân cách học sinh, trong đó có môn toán. Những con số trong môn toán được
hoà mình vào hết thảy ở hầu hết các môn học từ mầm non cho đến trung học phổ
thông và cho đến cao học. Từ trường học cho đến trong cuộc sống. Nói như vậy
ý khẳng định rằng môn toán vô cùng quan trọng từ trong trường học cho đến
cuộc sống đời thường. Ở trường học môn toán lớp 1 cung cấp cho các em kiến
thức ban đầu, là cơ sở cho việc phát triển kĩ năng tính toán và tư duy, là nền tảng
cho những năm học tiếp theo.
Các kiến thức, kỹ năng của môn toán có nhiều ứng dụng trong đời sống,
giúp học sinh nhận biết mối quan hệ về số lượng và hình dạng không gian của
thế giới hiện thực. Một trong những nội dung toán đáp ứng được mục đích trên
đó là đơn vị đo lường. Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật
và công nghệ thông tin đã làm cho khả năng nhận thức của trẻ cũng vượt trội.
Điều đó đã đòi hỏi những nhà nghiên cứu giáo dục luôn luôn phải điều chỉnh nội
dung, phương pháp giảng dạy phù hợp với nhận thức của từng đối tượng học
sinh nhằm không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện góp phần đào
tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho quê hương, đất nước.
Chính vì nhận thức được ý nghĩa, vai trò và tầm quan trọng của môn học
này. Qua nhiều năm dạy lớp 1, qua trải nghiệm trong thực tế giảng dạy, qua tìm
hiểu, nắm bắt tâm sinh lý của học sinh lớp 1 nên tôi viết: “ Một số kinh nghiệm
rèn kĩ năng giúp học sinh tính toán đúng, nhanh. Giải toán nhanh, chính xác"
cho học sinh lớp 1.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài

giúp các em hoàn thiện những gì vốn có trong các em. Cho các em ghi lại kiến
thức toán học bằng ngôn ngữ và các kí hiệu toán học.
Đối với học sinh lớp 1, tâm lý lứa tuổi của các em còn rất hồn nhiên và
trong sáng. Các em rất bỡ ngỡ khi bước vào môi trường tiểu học, với các em
mọi cái đều mới lạ. việc tiếp thu kiến thức cũng như kĩ năng tính, giải toán cũng
bắt đầu từ đây. Đối với lớp 1, các em được học phép cộng trừ không nhớ trong
phạm vi 100 gồm ( tính; đặt tính rồi tính) tính kết quả của dãy tính. Sau đó các
em sẽ được học giải toán có lời văn; tính toán có kèm tên đơn vị (đo đại lượng).
2. Thực trạng.
- - Học sinh lớp 1 đa số các em dễ nhớ nhưng lại mau quên nên việc ghi nhớ lời
thầy cô dạy là chưa bền vững.
- Các em thường máy móc tính toán trên đồ dùng trực quan khi tính, hoặc
viết thiếu lời giải khi giải toán. Chưa biết hoặc lúng túng khi viết phép tính giải,
viết thiếu hoặc viết sai tên đơn vị.
2.1 Thuận lợi – khó khăn
+ Thuận lợi: - Vì các em mới bước vào ngưỡng cửa của bậc học mới nên
việc hướng dẫn, giúp các em phát triển từ kĩ năng tính, giải toán chưa bền vững
tới kĩ năng tính, giải toán có bền vững nhanh hơn.
+ Khó khăn: - Trong quá trình dạy vì đa số các em là học sinh dân tộc
thiểu số tại chỗ nhiều, các em chủ yếu chỉ học những gì trên lớp do thầy cô
giảng dạy, còn hầu như về nhà cha mẹ ít quan tâm, không đôn đốc các em tự học
hoặc không giúp đỡ được nhiều khi hướng dẫn cho các em. Còn có những
trường hợp một vài em chưa nói, nghe thông thạo Tiếng Việt nên kết quả học
tập của các em chưa thật cao đặc biệt là môn toán.
2.2. Thành công – hạn chế
+ Thành công: Hầu hết các em được học qua do tôi chủ nhiệm, các em
đều
có kĩ năng tính toán đúng, nhanh, trình bày tương đối khoa học, sạch đẹp.
+ Hạn chế:
* Đối với giáo viên: Còn có giáo viên

- Do các em rất hiếu động, dễ nhớ nhưng lại mau quên nên việc ghi nhớ lời
thầy cô dạy là chưa bền vững.
- Do các em thường máy móc tính toán trên đồ dùng trực quan khi tính, do
chưa thuộc lòng các phép tinh cộng, trừ không nhớ trong phạm vi 10. Viết thiếu
lời giải khi giải toán do chưa hiểu kĩ đề. Chưa biết hoặc lúng túng khi viết phép
tính giải, viết thiếu hoặc viết sai tên đơn vị do chưa hiểu thuật ngữ trong toán
học. Tóm lại chưa có điểm tựa để giúp các em dễ nhớ và nhớ lâu.
3. Giải pháp, biện pháp:
- Biện pháp, giải pháp làm thay đổi kĩ năng.
+ Mục tiêu: - Giúp các em hiểu và tính đúng, có kĩ năng tính toán nhanh,
có mẹo tính toán đặc biệt vận dụng vào việc giải toán có lời văn
+ Cách thức thực hiện:
- Ví dụ: - Khi dạy bài phép cộng trong phạm vi 4, tôi sử dụng đồ dùng
trực quan để thành lập các phép tính cộng, sau khi thành lập đầy đủ các phép
Phạm Thị Hòe - Tiểu học Hoàng Văn Thụ

4


Một số kinh nghiệm rèn kĩ năng tính, giải toán cho học sinh lớp 1

tính cộng gồm: 3 + 1 = 4; 1 + 3 = 4; 2 + 2 = 4. Tôi cho các em đọc thuộc, sau
đó xóa dần kết quả và hướng dẫn trả lời kết quả nhanh bằng cách hỏi lộn xộn.
VD: 1 + 3 bằng mấy. Yêu cầu các em phải nhắc lại phép tính và kết quả thật
nhanh thông qua trò chơi “ Ai đúng và nhanh”. Một em hỏi, em khác trả lời, sau
khi bạn trả lời xong, em ra đố nhận xét.Nếu trả lời chậm nghĩa là các em còn
phải nhẩm tính lại là chưa đạt – coi như thua cuộc. Đây là bài học thứ hai sau bài
phép cộng trong phạm vi 3, tính đúng, nhanh rất quan trọng ở giai đoạn này. Sẽ
giúp các em việc hình thành kĩ năng tính toán nhanh, đúng sẽ giúp các em trong
những bài học sau. Vì những bài sau nhiều phép tính hơn, tính toán nhiều số,

cũng như thực hành tính, người giáo viên không thể ra đề xuôi y như bài mới
được mà phải đảo vị trí các phép tính. Trong thực tế cuộc sống hằng ngày cũng
Phạm Thị Hòe - Tiểu học Hoàng Văn Thụ

5


Một số kinh nghiệm rèn kĩ năng tính, giải toán cho học sinh lớp 1

vậy, nếu không rèn ngay từ đầu tính nhanh nhạy thì các em sẽ bị lệ thuộc vào đồ
dùng rất nhiều ví dụ các em dùng ngón tay để đếm kết quả, hay hoặc nhẩm tính
lại từ đầu các phép tính có trong bảng cộng, trừ đã học. Nếu như vậy thì sẽ
không thể đảm bảo được thời gian cho một tiết học toán. Ngoài ra còn giúp các
em tính tổng, hiệu các số có nhiều chữ số ở các lớp học trên.
b: Đối với phần thực hành của bài mới và bài luyện tập – luyện tập
chung.
Từ việc vận dụng kĩ năng tính đúng, nhanh của phần bài mới, tôi đã
hướng dẫn các em vận dụng linh hoạt vào thực hành tính thông qua phần thực
hành, tiết luyện tập, luyện tập chung. Vì tất cả các phép tính đều được hình
thành từ phần bài mới mà ra. Nếu tính theo hàng ngang cần đảm bảo tính từ trái
sang phải. Nếu gặp bài tính nhẩm thì tôi yêu cầu theo dõi bài trong sách giáo
khoa và lần lượt nối tiếp nêu nhanh phép tính có trong sách và kết quả của phép
tính đó, em nào chậm thì em khác trả lời, nếu trả lời chưa đúng, tôi cho cứu trợ
bằng phép tính khác tùy vào lực học của em đó. Khi tôi hỏi, tôi đã yêu cầu tất cả
các em trong lớp đều làm việc (làm ban giám khảo). Như vậy sẽ củng cố được
kiến thực và vừa tránh lãng phí thời gian, vừa làm cho lớp học thêm sôi động,
giúp các em tự lĩnh hội được kiến thức thông qua câu trả lời của bạn.
c. Đối với dạng bài tính theo dãy tính.
Tôi đã hướng dẫn các em bắt buộc tính từ trái sang phải các số chỉ có một
chữ số thì tương đối dễ, nhưng đối với số có hai chữ số ( cộng, trừ không nhớ

em hiểu các số có một chữ số đều thuộc hàng đơn vị, nên khi đặt tính tới đây đối
với mấy phép tính đầu tôi thường hỏi để nhắc nhở các em cần đặt tính đúng
thông qua câu hỏi giúp các em tự định hướng cho bài làm của mình ví dụ: số thứ
nhất có mấy chữ số?, số thứ hai có mấy chữ số?, sau khi viết các số xong cần
làm gì? vì chỉ có đặt tính đúng, thực hiện tính đúng mới cho kết quả đúng.
+

34
42
76

36
- 6
30

Thường thì học sinh hay đặt tính sai ở số thứ hai, vì các em chưa biết phân biệt
và chưa có kĩ năng đặt tính khi viết số thứ hai cần phụ thuộc vào số thứ nhất.
VD:
+

30
6
90

+

30
6
36


đ. Đối với dạng viết phép tính thích hợp thông qua kênh hình.
Qua thực tế giảng dạy lớp 1 nhiều năm tôi thấy:
- Phần lớn học sinh biết làm bài toán có lời văn.
- Học sinh ham học, có hứng thú học tập môn toán nói chung và “Giải bài
toán có lời văn” nói riêng.
- Học sinh bước đầu biết vận dụng bài toán có lời văn vào thực tế.
Song bên cạnh đó, qua quá trình giảng dạy tôi thấy còn không ít học sinh
còn lúng túng khi giải bài toán có lời văn. Đó là:
+ Đọc được đề bài nhưng chưa hiểu đề bài, chưa biết thế nào là tìm hiểu
bài toán có lời văn như: Bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì ?
+ Không hiểu các thuật ngữ toán học như: thêm, bớt, cho đi, mua về, bay
đi, chạy đến,. . . và câu hỏi: Có tất cả bao nhiêu? Còn lại bao nhiêu? . . . .
+ Không biết tóm tắt bài toán, lúng túng khi nêu câu lời giải, có khi học
sinh nêu (viết lại) câu hỏi của bài toán. Không hiểu thuật ngữ toán học nên
không biết nên cộng hay trừ dẫn đến nói sai, viết sai phép tính, sai đơn vị, viết
sai đáp số.
Bài toán giải có lời văn được hình thành từ kiểu bài toán đơn qua tranh vẽ
là viết phép tính thích hợp.
VD: Ngay từ bài đầu tiên: Bài phép trừ trong phạm vi 3
Ta gọi hình vẽ đó là quả trứng. Nhìn vào hình vẽ, có em sẽ đọc bài toán như
sau: Có 2 quả trứng và 1 quả trứng bị gạch bỏ. Hoặc có 3 quả trứng, gạch 1 quả
trứng 2 quả trứng. Ta đều nhận ra rằng cả hai cách đọc đề của học sinh chưa
đúng. Tôi vẽ lại hình và gợi ý giúp các em hiểu lúc đầu có mấy quả trứng? ( 3 ),
sau đó tôi gạch bớt đi 1 quả trứng, kết hợp hỏi: Bỏ bớt đi mấy quả trứng? ( 1 ).
Và đề bài toán hoàn thiện là: Lúc đầu có 3 quả trứng, bớt đi 1 quả trứng. Hỏi
còn lại mấy quả trứng? Tôi đã hướng dẫn và yêu cầu các em nhắc lại nhiều lần
đề bài toán sau khi đã hoàn thiện.
Vừa làm vừa hướng dẫn các em viết phép tính thích hợp vào ô trống như sau:
Có 3 quả trứng được viết số liệu là số 3 vào ô trống thứ nhất, bớt đi ta làm tính
trừ.

toán 1 ta thấy ở bài tập số 3 ( phần thực hành của bài mới), đề yêu cầu viết phép
tính thích hợp. Nhìn vào tranh vẽ tôi đã gợi ý để các em nói được: lúc đầu trên
cành cây có 3 con chim, sau đó 2 con chim bay đi. Hỏi trên cành cây còn lại
mấy con chim. Và hướng dẫn các em hiểu thuật ngữ “ bay đi” ta làm tính trừ.
Đến đây tôi chốt lại. Như vậy nếu nhìn vào tranh vẽ mà các em đọc đúng đề là
bay đi, cho đi, rụng đi, hái đi, nhảy đi, gạch bỏ đi, chạy đi. Ta làm tính trừ.
Tương tự với phép cộng:
Các mũi tên theo chiều ngang ( thêm ), các thuật ngữ bay đến, chạy đến ( chỉ
hướng con vật đến), trong cùng một hình nhưng được chia 2 phần ( gộp). Ta
làm tính cộng.
e. Với dạng: Viết phép tính thích hợp
Kiểu viết đề theo tóm tắt bằng lời.
Xét 2 ví dụ:
VD1:

VD2:

Có: 10 quả trứng

Có:

5 kẹo

Cho: 3 quả trứng

Thêm:

3 kẹo

Còn: ....quả trứng?

thích hợp chỉ nhìn tranh vẽ mà không cho học sinh đọc đề theo tranh vẽ, nên khi
gặp bài toán này, các em thường lúng túng khó định hướng được phải làm tính
gì?
Tôi ghi đề theo tóm tắt và hướng dẫn các em đọc đề hoàn chỉnh như sau: Có 10
quả bóng, cho đi 3 quả bóng. Hỏi còn lại mấy quả bóng? Vừa đọc đề theo tóm
tắt đồng thời tôi hướng dẫn giúp các em hiểu đề bài toán. Tôi lấy phấn gach
chân số liệu; các từ thông qua câu hỏi gợi mở như: Có mấy quả bóng? (10 ), cho
đi mấy quả bóng? ( 3), tôi gạch chân từ cho đi và số 3.
Cho học sinh nhắc lại các thuật ngữ như: cho đi, bay đi, rụng đi, hái đi, nhảy đi,
gạch bỏ đi, chạy đi, cắt đi.
Ta làm tính gì? ( tính trừ). Và giúp các em hiểu câu hỏi của bài toán gắn liền với
thuật ngữ của đề bài đã cho đó là: Nếu ở đề bài có các từ như: cho đi, bay đi,
rụng đi, hái đi, nhảy đi, gạch bỏ đi, chạy đi, rời bến ( ô tô, tàu), cắt đi …thì câu
hỏi bao giờ cũng gắn liền với từ để hỏi là: còn lại. Các thuật ngữ ở đề bài đã cho
liên quan mật thiết với câu hỏi và phép tính, do đó khi đọc đến đây, tôi gạch
chân từ: ( còn), từ đó sẽ giúp các em nhớ lại kiến thức đã học và lập đúng được
phép tính.
10 – 3 = 7
Vận dụng từ cách học của các phép tính cộng, trừ trong phạm vi 10, như
trên tôi đã nêu. Đến đây tôi chỉ hướng dẫn các em cách đọc đề hoàn chỉnh theo
tóm tắt và thiết lập phép tính đúng theo đề chứ tôi không nhắc lại kết quả của
phép tính nữa mà tôi yêu cầu các em trả lời nhanh kết quả ( vì đã học toán đơn),
Ở bài này, tôi chốt ý qua câu hỏi: Vậy các thuật ngữ như: cho đi, bay đi, rụng đi,
hái đi, nhảy đi, gạch bỏ đi, chạy đi, đã bán, đã ăn, căt đi, … ( không còn nữa).
Mà câu hỏi là: “ còn lại”, ta làm phép tính gì? ( tính trừ ).
Kiểu bài thực hiện tính cộng.
Tôi cũng thực hiện cách làm như trên nhưng thay các thuật ngữ “ thêm,
chạy tới, đi tới, sẽ gắn liền với câu hỏi: có tất cả – ta thực hiện phép tính cộng”
VD: Đề bài tập số 5 / a – trang 89



10

Chốt ý: Có hai số liệu đã cho cụ thể, mà câu hỏi là cả hai, ta phải viết và thực
hiện phép tính cộng.
B. Dạy “Giải toán có lời văn”
Một bài toán giải có lời văn bao giờ cũng có hai phần chính.
- Dữ kiện (cái đã cho) – gồm số liệu và tên đơn vị.
- Cái phải tìm ( kết quả) – kèm tên đơn vị.
1 Một số dạng toán có lời văn ở lớp 1:
a) Điền phép tính thích hợp: Học sinh chỉ việc nhìn tranh và trả lời câu
hỏi rồi điền phép tính.
Ví dụ như tranh minh họa bài tập 4/b (sách giáo khoa trang 69) – Phần
này tôi đã viết ở trên
b) Viết số thích hợp vào chỗ chấm để có bài toán:
Bài toán: Có … bạn, có thêm … bạn đang đi tới. Hỏi tất cả có bao nhiêu bạn?
Với bài này, học sinh chỉ việc nhìn tranh trả lời câu hỏi của giáo viên rồi
điền vào số vào đề bài thành bài toán có lời văn

Phạm Thị Hòe - Tiểu học Hoàng Văn Thụ

11


Một số kinh nghiệm rèn kĩ năng tính, giải toán cho học sinh lớp 1

c) Yêu cầu học sinh điền số vào tóm tắt và tìm lời giải, phép tính rồi
điền vào đáp số.
Ví dụ: Lúc đầu tổ em có 6 bạn, sau đó có thêm 3 bạn nữa. Hỏi tổ em có tất cả
mấy bạn?

Bài này giáo viên cần giúp học sinh tìm hiểu đề thông qua câu hỏi gợi mở
như: Bài toán cho biết gì?, bài toán hỏi gì? để từ đó các em hiểu đề và giải dễ
dàng hơn.
Nhìn chung những dạng toán trên cũng phù hợp với học sinh những cũng
có phần
gây khó khăn cho một số học sinh trung bình, học sinh chưa hoàn thành môn.
Đây cũng là yêu cầu đối với giáo viên làm sao cho học sinh hiểu được bài toán
và giải được thông qua bước phân tích đề bài sau đây.
2. Nhận biết cấu tạo bài toán có lời văn:
Tiết 84: Bài toán có lời văn. Học sinh được học với đề toán chưa hoàn thiện.
Tiếp tục sử dụng kĩ năng quan sát tranh, học sinh đã rất thành thạo ở giai đoạn 2
vậy nên hoàn thiện nốt đề bài toán là điều không khó đối với học sinh lớp tôi.
Tiếp tục tôi giảng để học sinh nắm chắc một bài toán có lời văn ở lớp 1 gồm 2
phần: phần cho biết, phần hỏi.
Gồm 4 bài toán có yêu cầu khác nhau:
* Viết số thích hợp vào chỗ chấm để có bài toán:
Bài toán 1: Có …bạn, có thêm… bạn đang đi tới. Hỏi có tất cả bao nhiêu bạn ?
Bài toán 2: Có … con, có thêm … con thỏ đang chạy tới. Hỏi có tất cả bao
nhiêu con thỏ ?

Phạm Thị Hòe - Tiểu học Hoàng Văn Thụ

12


Một số kinh nghiệm rèn kĩ năng tính, giải toán cho học sinh lớp 1

* Bài toán còn thiếu câu hỏi (cái cần tìm):
Bài toán 3: Viết tiếp câu hỏi để có bài toán.
Có 1 gà mẹ và có 7 gà con.

- Đặt câu hỏi tìm hiểu bài: Bài toán giải có lời văn bao giờ cũng có hai phần
Phần đầu ( đã cho biết) và phần sau hỏi (cái phải tìm)

Phạm Thị Hòe - Tiểu học Hoàng Văn Thụ

13


Một số kinh nghiệm rèn kĩ năng tính, giải toán cho học sinh lớp 1

+ Bài toán cho biết gì? (Lúc đầu tổ em có 6 bạn, sau đó có thêm 3 bạn nữa). Tôi
gạch chân dữ kiện thường ở lớp 1 ra đề theo chiều xuôi từ đầu bài cho đến trước
chữ hỏi. (Phần đã cho biết của bài toán)
Đề bài: Lúc đầu tổ em có 6 bạn, sau đó có thêm 3 bạn nữa. Hỏi tổ em có mấy
bạn?
+ Bài toán hỏi gì? (Hỏi tổ em có tất cả mấy bạn?), tôi gạch chân từ chữ hỏi đến
hết và nhấn mạnh tạo điểm tựa cho các em dễ nhớ. Các số 6; 3 là số liệu đã cho.
Vậy thêm ta làm tính gì? (tính cộng) và câu hỏi (có tất cả) bao giờ cũng logic
với thuật ngữ đã cho (thêm) để các em thiết lập đúng phép tính.
Bước 2: Tìm đường lối (cách) giải bài toán
+ Trước khi làm bài toán giải, bao giờ cũng phải ghi từ: ”Bài giải”(thường
được đặt ở giữa dòng), nhưng cũng tùy vào cách trình bày của mỗi giáo viên đê
ghi. Tôi vừa hướng dẫn, vừa làm mẫu.
a) Hướng dẫn học sinh viết lời giải:
Tôi hỏi học sinh: Dựa vào đâu ta viết được lời giải của bài toán ?
Học sinh: Dựa vào câu hỏi của bài toán
Tôi nhấn mạnh cho học sinh: Bài toán hỏi cái gì thì trả lời ngay cái đó.
Tôi có thể hướng dẫn các em viết câu lời giải theo một số cách sau:
Cách 1: Hướng dẫn cho HS chọn cách viết câu lời giải gần với câu hỏi nhất đó
là:

tính giải phụ thuộc vào tên đơn vị ở lời giải.
c) Hướng dẫn học sinh viết đáp số:
Tôi cho học sinh biết: Viết từ đáp số viết kết quả của phép tính, tên đơn vị
không viết trong ngoặc đơn
Bước 3: Trình bày hoàn chỉnh bài giải :
Bài giải
Tổ em có tất cả số bạn là:
6 + 3 = 9 (bạn)
Đáp số: 9 bạn
Bước 4: Kiểm tra lại bài giải
Sau khi học sinh làm bài xong yêu cầu các em kiểm tra lại bài xem đã
đúng chưa (có thể quan sát tranh lại để kiểm tra)
- Đối với giải bài toán theo tóm tắt:
Tôi cho học sinh đọc tóm tắt đề toán, nhìn tóm tắt nêu đề toán, phân tích
đề và giải bài toán như trên.
- Ngoài ra còn có dạng đề ít gặp nhưng vẫn có trong chương trình SGK
toán 1. VD bài tập số 2/ 151. Khi gặp đề này, nhiều học sinh lúng túng không
biết phải làm tính gì, có em làm tính cộng, có em làm tính trừ là do (may mắn
làm đúng ), vì không có điểm tựa, các em không định hướng ngay sau khi đọc
đề mà phải mất một thời gian để suy nghĩ tính toán.
Đề bài: Tổ em có 9 bạn, trong đó có 5 bạn nữ. Hỏi tổ em có mấy bạn nam?
- Tôi cho thực tế 5 em nữ lên xếp hàng và gọi thêm 1 số em nam lên cùng đứng
vào hàng đó, sao cho có đủ 9 em. Tôi vừa giảng giải, lại vừa hướng dẫn các em
thực hành. Tổ em có 9 bạn, trong đó có 5 bạn nam, tôi tách 5 em nam ra và tôi
yêu cầu các em đếm xem có mấy bạn nữ. Vì đây là số liệu nhỏ, tên đơn vị lại là
học sinh nên dễ thực hành.
Tôi định hướng giúp các em hiểu đề. Đề cho có hai số liệu cụ thể bao giờ cũng
có số liệu có giá trị nhiều cho trước, số liệu bé cho sau. Có thuật ngữ trong đó,
tôi lấy phấn gạch chân từ ( trong đó) để giúp các em chú ý hơn về thuật ngữ này.
Và tên đơn vị cần tìm sẽ khác tên vị đã cho. Khi viết lời giải và tên đơn vị ở lời

+ Luyện tập Toán trong vở .
+ Làm trong phiếu học tập.
b.3. Phương pháp gợi mở vấn đáp: là phương pháp sử dụng một hệ thống
các câu hỏi để hướng dẫn học sinh suy nghĩ, lần lượt trả lời từng câu hỏi, từng
bước dần đến cách trình bày bài toán có lời văn.
b.4. Phương pháp giảng giải minh hoạ: Phương pháp này dùng lời nói để giải
thích, kết hợp với các phương tiện trực quan để hỗ trợ cho việc giải thích.
* Tuyên dương, động viên, nhắc nhở kịp thời
Đây chính là động lực lớn góp phần vào sự hứng thú, say mê, tự giác học tập
của các em. Tôi làm rất tốt công tác nêu gương (được thông qua hình thức tuyên
dương sau mỗi câu trả lời đúng của các em) và cho học sinh bình chọn bông hoa
học tốt để ghi vào bảng thi đua của lớp vào cuối mỗi tuần (tiết sinh hoạt lớp).
* Công tác phối kết hợp với cha (mẹ) học sinh
- Tôi làm rất tốt công tác tuyên truyền. Ngay buổi họp cha mẹ học sinh đầu năm
về cách học của các em và cách kiểm tra của phụ huynh khi ở nhà. Đây là động
lực nòng cốt không thể thiếu mỗi khi các em đến trường. Tôi thường làm ví dụ
minh họa cho cách dạy kèm các em khi ở nhà để phụ huynh hiểu và cùng làm
theo cũng như kết hợp nhắc nhở, đôn đốc các em trong học tập khi ở nhà để
Phạm Thị Hòe - Tiểu học Hoàng Văn Thụ

16


Một số kinh nghiệm rèn kĩ năng tính, giải toán cho học sinh lớp 1

cùng giáo viên giúp đỡ học sin. Muốn học sinh thực hiện tốt các yêu cầu trước
hết mỗi bậc cha mẹ, thầy cô phải trở thành tấm gương về nghị lực trong mắt trẻ.
* Sử dụng hợp lý, có hiệu quả đồ dùng dạy học, đặc biệt là đồ dùng
trực quan:
- Dạy giải toán có lời văn giáo viên cho học sinh quan sát đồ dùng trực

3.3. Điều kiện để thực hiện giải pháp, biện pháp.
Giáo viên cần nắm vững và hiểu rõ vai trò của môn toán 1. Cần có sự hỗ
trợ đồng bộ của giáo viên bộ môn và giáo viên dạy thay cũng như kinh nghiệm
của giáo viên trong toàn khối 1
Phạm Thị Hòe - Tiểu học Hoàng Văn Thụ

17


Một số kinh nghiệm rèn kĩ năng tính, giải toán cho học sinh lớp 1

- Muốn giúp các em hiểu bài và hiểu chắc chắn hơn, bao giờ tôi cũng tìm
và chỉ ra được điểm tựa để giúp các em có cơ sở dễ nhớ, giúp tiếp thu bài nhanh
hơn, các em chủ động tham gia tích cực phát biểu hơn làm cho không khí lớp
học sôi động. Ngoài ra cần:
+ Xây dựng kế hoạch bài dạy theo kiểu chiến lược đó là: xây dựng theo
năm, kì, tháng, tuần, từng bài. Và xem kiến thức trong chương trình toán 1 thì
đâu là những kiến thức cơ bản, trọng tâm.Trong môn toán ở tất cả các khối đều
có sự liên quan giữa kiến thức của bài cũ với bài mới nên tôi đã dạy những bà
học trước kĩ giúp các em học – tập được tốt, học đến đâu hiểu chắc đến đó; học
đến đâu hành “ thực hành” đúng đến đó. Vì còn có sự liên quan chặt chẽ đến các
bài tập sau này
+ Tìm hiểu đối tượng học sinh thông qua cha mẹ học sinh
+ Kết hợp các anh chị đội viên khi sinh hoạt sao.
+ Phối kết hợp với giáo viên dạy thay và dạy bộ môn.
+ Thông qua kế hoạch hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
+ Thu thập thông tin, điều tra khảo sát chất lượng theo đợt.
3.4. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp.
Các giải pháp, biện pháp như tôi vừa trình bày nó có quan hệ mật thiết và
lôgic xuyên suốt trong quá trình dạy học của cả năm học.


28

14

56

4

16

Phạm Thị Hòe - Tiểu học Hoàng Văn Thụ

Chưa đạt

18


Một số kinh nghiệm rèn kĩ năng tính, giải toán cho học sinh lớp 1

- Giải toán có lời văn:
Năm học: Tổng số HS
2014 - 2015

25 em

Năng khiếu

Đạt yêu cầu


Tính đến
giữa học kì 2
Năm học:
2015 - 2016

Tổng số HS
16 em

Năng khiếu

Đạt yêu cầu

Chưa đạt

SL

%

SL

%

SL

%

13

81,3



SL

%

12

75

3

18,8

1

6, 2

III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHI
1. Kết luận
Muốn có chất lượng trong giờ dạy tốt thì việc đầu tiên người giáo viên
phải xây dựng được kế hoạch bài dạy dài hạn và theo từng chủ đề, từng bài theo
hướng đổi mới. Vậy muốn cho học sinh làm đúng, trước hết người giáo viên
phải nắm được vai trò của việc rèn kĩ năng tính, giải toán. Người giáo viên chủ
nhiệm phải biết xây dựng kế hoạch lâu dài và ngắn hạn phù hợp với điều kiện
hoàn cảnh của học sinh địa phương.
Cần phối hợp đồng bộ giữa giáo viên chủ nhiệm với giáo viên bộ môn,
giáo viên dạy thay; với cha mẹ học sinh; với giáo viên trong toàn khối 1 trong
trường được tốt.
2. Kiến nghị
Đối với lãnh đạo trường cần mở chuyên đề (một tiết dạy) cụ thê cho học


Một số kinh nghiệm rèn kĩ năng tính, giải toán cho học sinh lớp 1

TÀI LIỆU THAM KHẢO

TT

Tên tài liệu

Tên tác giả

Nhà xuất
bản

1

- Tâm lí lứa tuổi học
sinh

2

Một số biện pháp - Xem tài liệu qua
nâng cao hiệu quả mạng internet
dạy – học môn toán
cho HS lớp 1

3

Tham khảo tài liệu
trên mạng internet


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status