1. MỞ ĐẦU
1.1.Lí do chọn đề tài
Thế giới xung quanh ta luôn biến đổi không ngừng. Sự biến đổi đó đã và
đang tác động mạnh mẽ đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm của con người trong đó
đáng chú ý là trẻ em ở mọi lứa tuổi. Các em đang ở giai đoạn hình thành và phát
triển nhân cách, chưa có đủ kinh nghiệm sống để đứng vững trước những đổi thay
không ngừng của xã hội. Đặc biệt trước những tác động không lành mạnh, các em
dễ dàng bị sa ngã. Vì vậy cần trang bị cho các em những cách sống trong đó có kĩ
năng sống (KNS) để thích ứng với xã hội hiện đại.
Nhằm trang bị cho các em những kiến thức, giá trị, thái độ và kĩ năng phù
hợp, hình thành cho các em những hành vi, thói quen lành mạnh,tích cực; loại bỏ
những hành vi thói quen tiêu cực trong các mối quan hệ, trong các tình huống và
hoạt động hàng ngày, đồng thời tạo cơ hội thuận lợi để các em thực hiện tốt quyền
và bổn phận của mình, năm học 2010 – 2011, Bộ GD&ĐT đưa giáo dục KNS vào
giảng dạy trong trường học. Giáo dục KNS trong nhà trường được thực hiện bằng
nhiều con đường và hình thức khác nhau. Một trong những con đường đó là giáo
dục KNS thông qua dạy và học các môn văn hóa trong đó có môn Ngữ văn. Ngữ
văn là một môn học vừa có tính khoa học vừa có tính nghệ thuật. Với tính chất là
môn học công cụ, môn Ngữ văn giúp HS có năng lực ngôn ngữ để học tập, khả
năng giao tiếp, nhận thức về con người và xã hội. Với tính chất là môn học giáo
dục thẩm mĩ, môn Ngữ văn giúp HS bồi dưỡng năng lực tư duy, làm giàu xúc cảm
thẩm mĩ và định hướng thị hiếu lành mạnh để hoàn thiện nhân cách. Vì thế, Ngữ
văn là một môn học có những khả năng đặc biệt trong việc giáo dục KNS cho HS.
Xuất phát từ tình hình thực tế hiện nay vẫn còn có nhiều em thiếu tự tin,
thiếu tự lập, sống ích kỉ, luôn tỏ ra rụt rè trong giao tiếp hoặc không biết cách xử lí
tình huống khi gặp phải khó khăn, thậm chí có cả nạn bạo lực học đường thường
xảy ra. Đây cũng là nỗi băn khoăn, lo lắng của các bậc phụ huynh trước tình trạng
đó của con em mình. Về GV, vẫn có một số GV coi giáo dục KNS cho HS là thuộc
các môn: GDCD, môn Lịch sử, môn Địa lí…hay một số công tác khác như: công
tác Đoàn – Đội, công tác chủ nhiệm… mà chưa thấy hết vai trò, vị trí của môn
Ngữ văn trong việc giáo dục KNS cho các em. Trong giờ học, GV còn nặng về
nói chung. Thấy hết được tác dụng của môn Ngữ văn với việc hình thành nhân
cách và phát triển toàn diện của học sinh.
Hiện nay, dạy học phải bám sát mục tiêu là phải phát huy tính tích cực của
học sinh, đòi hỏi người học sinh phải tự mình khám phá, chinh phục kiến thức,
không chỉ có thế, qua những kiến thức đó, người giáo viên cần phải hướng các em
học sinh làm sao hình thành được cho các em những kĩ năng cơ bản trong cuộc
sống như kĩ năng tư duy sáng tạo, kĩ năng hợp tác….
Bên cạnh đó giúp học sinh có kĩ năng làm chủ bản thân, có trách nhiệm biết
ứng xử linh hoạt, hiệu quả và tự tin trong các tình huống giao tiếp hằng ngày, có
suy nghĩ và hành động tích cực, có quyết định đúng đắn trong so sánh, có quan hệ
tích cực và hợp tác, biết bảo vệ mình và người khác trước những nguy cơ ảnh
hưởng đến sự an toàn và lành mạnh của cuộc sống.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp nhằm nâng cao kết quả học tập phần truyện ngụ ngôn cũng
như cách tích hợp giáo dục Kĩ năng sống trong một tiết dạy truyện ngụ ngôn Ếch
ngồi đáy giếng sao cho đạt hiệu quả tốt đối với học sinh lớp 6 – trường THCS
Nguyễn Du – Quảng Xương.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết
- Phương pháp điều tra khảo sát, thu thập thông tin
- Phương pháp thống kê, xử lí số liệu
1.5 Những điểm mới của SKKN
2
Từ câu truyện ngụ ngôn Ếch ngồi đáy giếng quen thuộc, các em học sinh
không chỉ thấy được những bài học sâu sắc cho mình mà còn tự rút ra và rèn luyện
được những Kĩ năng sống cho bản thân một cách tốt nhất để các em có thể tự tin
thể hiện mình trước đám đông, biết cách xử lí các tình huống đơn giản hay phức
tạp, thể hiện khả năng tiềm ẩn của mình và phát triển một cách toàn diện trong xã
lành mạnh, giỏi lập trình, giỏi tiếng Anh…
Kĩ năng sống, một vấn đề không mới trong giai đoạn hiện nay đối với giáo
dục, còn Truyện ngụ ngôn cũng là mảng truyện dân gian rất đỗi quen thuộc đối với
văn học nói chung. Nhưng để tích hợp kĩ năng sống trong khi dạy truyện ngụ ngôn
lại là đề tài chưa hề được thực hiện. Tất cả các kĩ năng mà truyện ngụ ngôn có thể
đề cập đến đều là các kĩ năng tối thiểu cho mỗi cá nhân, hơn thế nữa nó còn rất
3
cần thiết cho một con người thời hiện đại. Trong chương trình Ngữ văn lớp 6 có
ba truyện ngụ ngôn, đa phần đều là những câu chuyện rất quen thuộc với các em
học sinh, tuy nhiên việc chỉ ra Kĩ năng sống, hướng dẫn tích hợp, lồng ghép để
giáo dục kĩ năng sống có hiệu quả lại không đơn giản. Vậy tích hợp giáo dục Kĩ
năng sống trong khi dạy phần truyện ngụ ngôn, đặc biệt là truyện Ếch ngồi đáy
giếng ra sao để đạt hiệu quả, đó chính là một trong những lí do để tôi thực hiện đề
tài này.
2.2 Thực trạng vấn đề
2.2.1. Thuận lợi
Trong những năm giảng dạy môn Ngữ văn ở cấp THCS huyện Quảng Xương,
tôi nhận thấy vấn đề tích hợp kĩ năng sống vào bộ môn không phải là điều mới, đa
số giáo viên đã thực hiện. Đặc biệt hơn trong năm học 2017-2018 tất cả các nhà
trường thực hiện Đề án “Xây dựng trường học gắn với thực tiễn và giáo dục kĩ
năng sống” với 09 trường thí điểm, nên vấn đề giáo dục kĩ năng sống cho học sinh
được quan tâm hơn nhiều vì lứa tuổi học sinh là lứa tuổi đang hình thành những
giá trị nhân cách, giàu ước mơ, ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá, song còn
thiếu hiểu biết sâu sắc về xã hội, còn thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo, kích
động. Nếu không được giáo dục KNS các em sẽ bị lôi kéo vào các hành vi tiêu
cực, bạo lực và lối sống ích kỉ, dễ bị phát triển lệch lạc về nhân cách. Chính vì vậy
vấn đề giáo dục kĩ năng sống và tích hợp giáo dục Kĩ năng sống vào các môn học
trong đó có môn Ngữ văn rất được quan tâm.
động giáo dục khác, nội dung giáo dục không chỉ diễn ra trong môn học mà còn
thông qua một số hoạt động khác (hoạt động ngoài giờ lên lớp, câu lạc bộ,...) cho
nên phải tính đến cơ sở vật chất, kinh phí thực hiện, điều này cũng không dễ thực
hiện.
Thói quen chú trọng vào kiến thức mang tính lý thuyết của giáo viên sẽ là
cản trở lớn khi triển khai giáo dục kĩ năng sống, loại hình giáo dục nhằm tạo thói
quen, thái độ, hành vi ứng xử phù hợp với các tình huống của cuộc sống.
Kết quả khảo sát KNS khi chưa áp dụng Sáng kiến kinh nghiệm:
Lớp Tổng
Chưa biết
Nhận biết
Hiểu các
Vận dụng
Hs
KNS
được KNS
KNS
KNS
SL
Tỉ lệ
SL
Tỉ lệ
SL
Tỉ lệ
19.4%
15
41.6%
9
25%
5
14 %
2. 3 Các giải pháp giải quyết đề tài
2.3.1. Nắm vững các KNS cơ bản được giáo dục trong mỗi bài học Ngữ văn
Mỗi bài học Ngữ văn đều có một số KNS cơ bản. GV cần căn cứ vào mục
tiêu cần đạt về kiến thức, kĩ năng và thái độ ở mỗi bài học để xác định.
Mục tiêu KNS cần đạt của bài học Ếch ngồi đáy giếng là: Biết trao đổi, trình bày ý
kiến cá nhân về hiện trạng, về giải pháp để đấu tranh chống cái nhìn phiến diện,
một chiều về sự vật hiện tượng…
2.3.2. Thiết kế câu hỏi đảm bảo tính giáo dục để HS được làm và được trải
nghiệm
Để đảm bảo tính khoa học và tính giáo dục trong một bài học Ngữ văn,
người GV phải thiết kế những câu hỏi phù hợp với yêu cầu đó nhằm nâng cao tư
duy và rèn luyện kĩ năng sống cho các em.Muốn hình thành kĩ năng sống là phải
làm và phải trải nghiệm nên khi tìm hiểu nội dung các bài học, tôi thường thiết kế
những câu hỏi có mục đích giáo dục như vậy.
2.3.3. Thực hiện tốt các hình thức hoạt động dạy học
Trong quá trình dạy học, tôi thường tổ chức một số hình thức hoạt động
kiến. GV tổng kết, ghi nhận những ý kiến của các em về phần thuyết trình.
- Đố vui để học văn: Đố vui là hỏi để thử trí thông minh đồng thời cũng nhằm
khắc sâu lại kiến thức đã học. Với hình thức này, tôi thường tổ chức lồng
ghép vào các tiết học phụ đạo. Các em rất thích thú và tìm tòi ra những câu
đố rất vui và hay để đố bạn.
- Những hình thức ngoại khóa như thế sẽ rèn thêm cho các em về các kĩ năng
như : giao tiếp, lựa chọn tìm tòi, tư duy sáng tạo, lắng nghe tích cực…
2.3.5: Tích hợp với các môn học khác
Một số văn bản trong chương trình Ngữ văn THCS có nội dung liên quan đến
những kiến thức của bộ môn học khác, GV cần nắm vững để liên hệ.
2.3.6. Hướng dẫn học sinh tìm hiểu về nguồn gốc truyện ngụ ngôn
Ngụ ngôn là một trong những thể loại tự sự cổ xưa nhất, ở Văn học dân gian của
mọi dân tộc đều có thơ hoặc truyện ngụ ngôn [1]. Ngụ ngôn xuất hiện trước công
nguyên trong kho tàng văn hóa các dân tộc như Hy Lạp, Ấn Độ, Ai Cập, Trung
Hoa... và xa xưa nhất có thể tính đến là những tác phẩm ngụ ngôn nửa thực nửa
6
truyền thuyết tương truyền do Ezop sáng tác, có tầm ảnh hưởng sâu rộng sang cả
vùng Trung Đông rồi ngược về phương Tây với Panchatantra của Ấn Độ thế kỷ 3
trước công nguyên...).
Ở Trung Quốc, ngụ ngôn cổ đại thâm nhập vào sách triết luận và chính luận của
"chư tử" như Trang Tử, Mạnh Tử, Hàn Phi Tử..., vào các truyện kể trung đại như
Bình thoại, Thoại bản và vào cả tiểu thuyết Đông Chu liệt quốc của Phùng Mộng
Long.
Ở Việt Nam, ngụ ngôn dân gian [3] tồn tại và nhiều truyện đã trở thành điển cố
văn học, như “Đẽo cày giữa đường”, “Thầy bói xem voi” v.v. Ôn Như Nguyễn
Văn Ngọc trong “Truyện cổ nước Nam” có chép một số ngụ ngôn dân gian. Trong
văn học viết có thể kể đến những tác phẩm như “Truyện hai ông Phật cãi nhau”
trong “Thánh Tông di thảo”, các truyện “Lục súc tranh công”, “Trinh thử” …
và có những lời nói, hành vi không đúng mực. Điều đó sẽ làm cho ông bà, bố mẹ
phiền lòng. Vậy Kĩ năng sống rút ra đó là chúng ta cần nhận thức đúng về bản
thân, cần biết vị trí của mình trong gia đình, có cách nói năng, giao tiếp, ững xử
phù hợp để mọi người yêu quý. Đó là kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tự nhân thức.
Kĩ năng sống cũng có thể được tích hợp trong phần Luyện tập, củng cố
cuối bài: Sau khi đã giảng xong nội dung chính của bài, giáo viên có thể gợi mở
để học sinh từ đó rút ra các kĩ năng sống có liên quan.
Tích hợp giáo dục Kĩ năng sống không chỉ sử dụng trong các văn bản
truyện ngụ ngôn ở lớp 6, mà còn có thể áp dụng với rất nhiều văn bản khác trong
chương trình Ngữ văn lớp 6 nói chung.
2.3.9. Một sô kĩ năng sống rút ra qua truyện ngụ ngôn: Ếch ngồi đáy giếng
- Kĩ năng giao tiếp: Con ếch trong câu chuyện có thái độ huênh hoang, nghĩ
mình là chúa tể, coi thường những con vật bé nhỏ sống xung quanh. Chính thái độ
ứng xử này trong giếng đã tạo thành thói quen nên khi ra khỏi giếng, vẫn giữ cách
ứng xử, giao tiếp như vậy mà nó đã bị trâu giẫm bẹp. Bài học Kĩ năng rút ra đó là
cần có thái độ ứng xử đúng mực, biết cảm thông, quan tâm đến người khác sẽ
được mọi người tin tưởng, yêu quý.
- Kĩ năng tự nhận thức bản thân: Con ếch chỉ sống trong giếng, thấy mình
là lớn nhất nên tưởng là chúa tể, nó không biết rằng trong cuộc sống rộng lớn thì
nó chỉ là một con vật bé nhỏ, tầm thường. Vì không biết mình, biết hoàn cảnh nên
nó đã phải trả giá đắt. Bài học Kĩ năng sống rút ra là cần biết mình, hiểu mình, xác
định những cảm xúc, nhu cầu, đặc điểm…của bản thân để có cách ứng xử tích cực
với cuộc sống.
- Kĩ năng xác định giá trị: Con ếch tự đề cao bản thân, có tính huênh
hoang, tự kiêu, nó đã “ phát huy” không đúng lúc tính cách của mình nên phải
chết. Bài học Kĩ năng sống là cần xác định điểm mạnh của bản thân để phát huy
nhưng cũng phải thấy được điểm yếu của mình để sửa chữa. Phát huy điểm mạnh,
hạn chế điểm yếu cần đúng lúc, đúng chỗ, đúng đối tượng.
A. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
1. Mức độ cần đạt
Giúp HS :
- Có hiểu biết bước đầu về truyện ngụ ngôn
- Hiểu và cảm nhận được nội dung, ý nghĩa của truyện “Ếch ngồi đáy giếng”
- Nắm được những nét chính về nghệ thuật của truyện
2. Trọng tâm kiến thức
a. Kiến thức
- Đặc điểm của nhân vật, sự kiện, cốt truyện trong một tác phẩm ngụ ngôn
- Ý nghĩa giáo huấn sâu sắc của truyện ngụ ngôn
- Nghệ thuật đặc sắc của truyện : mượn chuyện loài vật để nói chuyện con người,
ẩn bài học triết lý; tình huống bất ngờ, hài hước, độc đáo
b. Kĩ năng
- Đọc – hiểu văn bản truyện ngụ ngôn
- Liên hệ các sự việc trong truyện với những tình huống, hoàn cảnh thực tế
- Kể lại được truyện
c. Thái độ
- Nhận thức được tác hại của chủ quan kiêu ngạo
- Có thái độ khiêm tốn, học hỏi trong cuộc sống
d. Định hướng hình thành năng lực :
- Nắm được được nội dung, ý nghĩa, đặc điểm nhân vật, sự kiện, cốt truyện và một
số nét đặc sắc nghệ thuật của truyện ngụ ngôn “ Ếch ngồi đáy giếng”.
-Rút ra được kĩ năng tự nhận thức bản thân, tư duy sáng tạo, xác định giá trị….và
liên hệ được các sự việc trong truyện với những tình huống, hoàn cảnh thực tế.
B. CÁC KNS CƠ BẢN ĐƯỢC GIÁO DỤC TRONG BÀI
- KN tự nhận thức
- KN giao tiếp
9
B. Ý thức đánh giặc cứu nước tạo cho người anh hùng những khả năng, hành động
khác thường, thần kỳ
C. Thể hiện người anh hùng phải khổng lồ cả về thể xác, sức mạnh, chiến công
D. Gióng là hình ảnh của nhân dân sẵn sàng đứng lên cứu nước
4. Chi tiết nào sau đây không là chi tiết tưởng tượng, kì ảo?
A. Gióng vươn vai biến thành một tráng sĩ
B. Bà con làng xóm góp gạo nuôi cậu bé
C. Đánh xong giặc, Gióng và ngựa từ từ bay lên trời
D. Tráng sĩ nhổ những cụm tre bên đường quật vào giặc
Tổ chức dạy và học bài mới
1 . KHỞI ĐỘNG
- Mục tiêu : Tạo tâm thế
10
- Thời gian : 2 phút
- Phương pháp : Vấn đáp, thuyết trình
- Kỹ thuật : động não
Những tiết học trước các em đã được làm quen với một thể loại truyện dân
gian đó là truyền thuyết. Bài học hôm nay chúng ta đi vào tìm hiểu một thể loại
truyện dân gian khác qua văn bản “Ếch ngồi đáy giếng” .
(?) Em đã biết những gì về truyện “Ếch ngồi đáy giếng” ?
HS Thảo luận, cá nhân tự do phát biểu ( nhân vật chính, thể loại, phương thức biểu
đạt, tác giả…)
GV Nhận xét, dẫn vào nội dung chính
2. KẾT NỐI
HOẠT ĐỘNG 1 : Tìm hiểu chung
- Mục tiêu : Tìm hiểu chung về tác phẩm
- Thời gian : 10 phút
- Phương pháp : Vấn đáp, thuyết trình
- Hình thức : loại truyện kể bằng
văn xuôi hay văn vần
- Nội dung: Mượn chuyện về loài
vật, đồ vật hoặc chính con người
để nói bóng gió, kín đáo chuyện
con người
- Mục đích : Khuyên nhủ, răn dạy
con người ta bài học nào đó trong
cuộc sống
11
(?) Giải thích từ “nhâng
nháo”? Tìm những từ trái
nghĩa với từ “nhâng
nháo”
b.Chú thích khác
Cá nhân phát biểu
2. Đọc, kể
Hướng dẫn đọc
1 hs đọc
Yêu cầu một học sinh đọc HS khác nhận xét,
đọc lại
Yêu cầu hs quan sát 6 bức
tranh, sắp xếp lại các bức
- Kĩ thuật : Khăn trải bàn
Thầy
Trò
II. Hướng dẫn phân tích II. Đọc – hiểu VB
(?) Ếch sống trong môi
trường như thế nào?
Kiến thức cần đạt
II. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN
1. Ếch ở đáy giếng
- Môi trường:
Nhận xét của em về môi
trường , hoàn cảnh sống
ấy?
+ Sống lâu ngày trong giếng
+ Xung quanh chỉ có vài con vật
bé nhỏ
Nhỏ bé, chật hẹp, tăm tối
- Hành động: cất tiếng kêu ồm ộp
làm các con vật khác hoảng sợ
(?)Môi trường sống ấy đã
khiến Ếch có hành động,
suy nghĩ như thế nào?
- Suy nghĩ:
ảnh hưởng như thế nào
đến tính cách con người ?
Tác giả bày tỏ thái độ gì
đối với những con người
giống như con Ếch trong
giếng kia ?
người ta kiêu ngạo, không biết
thực chất về mình.
Phê phán những kẻ thiếu hiểu biết
nhưng chủ quan, kiêu ngạo.
* Liên hệ, mở rộng KNS :
( ?) Gia đình em có mấy
người ? em là con thứ
mấy trong gia đình ? em
có được bố mẹ quan tâm,
chăm sóc nhất nhà
không ?khi được cả nhà
quan tâm nhiều, em có
nghĩ mình là người quan
trọng nhất (chúa tể) của
gia đình không ?
Em có cách cư xử với mọi
người như thế nào ?
Kết luận : sống yêu
thương, hòa thuận với
mọi người chính là KNS
biết giao tiếp, ứng xử có
văn hóa, chung sống hòa
độ ấy?
- Hành động, thái độ:
(?) Ở thế giới mới này,
ếch đã nhận được kết cục
như thế nào? Kết cục này
có đau đớn, đáng thương,
đáng tiếc hay không?
+ Nhâng nháo nhìn bầu trời
(?) Theo em, Ếch có thể
không bị chết như vậy
không?
+ Nghênh ngang đi lại khắp nơi
+ Cất tiếng kêu ồm ộp
Thái độ, nhận thức không thay
đổi.
Cá nhân phát biểu
- Kết cục bị một con trâu giẫm bẹp
Đau đơn, đáng thương, đáng tiếc
Chốt lại: Chúng ta cũng
như con Ếch kia nếu
không biết mình thì phải
biết người, tức là nếu
Kỹ năng giao tiếp, kỹ
năng tự nhận thức, kỹ
năng hợp tác, kỹ năng thể
hiện sự tự tin
Khuyên nhủ con người không nên
chủ quan, kiêu ngạo, phải mở rộng
tầm hiểu biết của mình
Thảo luận kỹ thuật3. Bài học
khăn trải bàn:
- Dù môi trường, hoàn cảnh sống
Đại diện ba nhómhạn hẹp, khó khăn vẫn phải cố
treo bảng
gắng mở rộng sự hiểu biết của
mình, cần biết nhìn xa trông rộng
Các nhóm khác nhận
xét chéo
- Không được chủ quan, kiêu ngạo,
coi thường xung quanh.
- Không chủ quan,
kiêu
ngạo,
coi- Kẻ chủ quan, kiêu ngạo dễ bị trả
thường xung quanh giá đắt, thậm chí bằng cả tính
mạng
- Cần biết chung
sống hòa bình, hợp
tác có văn hóa với
mọi người
- Cần biết tích cực
Kiến thức cần đạt
III. Hướng dẫn tổng kết III. Tổng kết
III. TỔNG KẾT
Giáo viên chiếu câu hỏi:
Dòng nào nêu đúng
những nghệ thuật đặc sắc
của truyện?
1. Nghệ thuật
1. Biện pháp nghệ thuật
nhân hóa sinh động hấp
dẫn.
- Hình tượng ẩn dụ gần gũi với đời
sống, giàu ý nghĩa tượng trưng
2. Hình tượng ẩn dụ, giàu
ý nghĩa tượng trưng
- Biện pháp nghệ thuật nhân hóa
sinh động hấp dẫn.
- Lối kể bất ngờ, hài hước, kín đáo
- Lời văn ngắn gọn, giản dị
3. Lối kể bất ngờ, hài
hước, kín đáo
4. Nhiều chi tiết tưởng
tượng kỳ ảo ( ko đúng)
- Phương pháp : Vấn đáp, thuyết trình
- Kĩ thuật : Thảo luận nhóm
Thầy
Trò
IV. Hướng dẫn luyện IV. Luyện tập
tập
Yêu cầu đọc bài tập
Quan sát, thực hiện
Cá nhân phát biểu
Nhận xét
Kiến thức cần đạt
IV. LUYỆN TẬP
Bài 1 : Khoanh tròn vào chữ cái đầu
của đáp án đúng
1. Mục đích chủ yếu của truyện ngụ
ngôn là gì ?
A. Kể chuyện
xúc
B. Thể hiện cảm
C. Gửi gắm ý tưởng bài học
D. Truyền đạt kinh nghiệm
2. Con người, con vật, đồ vật đều có
thể là nhân vật trong truyện ngụ ngôn.
A. Đúng
xong truyện này.
- Gợi ý : các KNS giao tiếp, tự nhận thức
IV. Hướng dẫn học bài và chuẩn bị bài
1. Hoàn thành bài tập phần vận dụng
2. Soạn bài “Thầy bói xem voi” – Suy nghĩ về các KNS trong văn bản
2.5. Hiệu quả của SKKN
Trong quá trình dạy học, bản thân tôi đã cố gắng vận dụng tích hợp các
KNS và kĩ thuật dạy học tích cực vào một số bài có thể, đặc biệt là các tiết Ếch
ngồi đáy giếng. Kết quả cho thấy, học sinh đã bắt đầu quen với các thao tác của
các kĩ thuật dạy học, biết cách vận dụng các KNS vào tiết học làm cho tiết học sôi
nổi, hào hứng, cởi mở và đạt kết quả cao hơn.
Học sinh hứng thú học tập, được hoạt động một cách tích cực. các em nắm
vững lí thuyết biết vận dụng vào thực hành làm bài.Tôi rất phấn khởi vì các em
không chỉ có kiến thức mà còn có ý thức học tập yêu thích học môn Ngữ văn.
Kết quả KNS sau khi áp dụng Sáng kiến kinh nghiệm:
19
Lớp
Tổng
Hs
Chưa biết
Nhận biết
Hiểu các
Vận dụng
KNS
được KNS
KNS
SL
Tỉ lệ SL
Tỉ lệ
6C1
35
5
13.5%
14
37.8%
17
45.9%
1
2.8%
6C2
36
3
8.3%
12
34,3%
1
2,9%
6C2
36
9
25%
15 41,7%
11
30,5 %
1
2.8%
Trên đây là kết quả khảo sát hai lớp 6C1, 6C2. Khi chưa áp dụng SKKN,
nhìn chung các em mới chỉ dừng lại ở việc nhận biết được một số Kĩ năng sống,
thậm chí còn có em không phát hiện được các kĩ năng sống cơ bản, số em hiểu và
vận dụng Kĩ năng sống vào thực tế rất ít. Kết quả học tập của học sinh chưa cao,
điểm khá, giỏi của các em còn ít, chủ yếu đạt điểm trung bình. Điều đó chứng tỏ
các em chưa thấy hết được ý nghĩa giáo dục của truyện ngụ ngôn cũng như chưa
thấy được truyện ngụ ngôn giúp các em hình thành kĩ năng sống rất tốt.
Đối chiếu kết quả khảo sát khi đã áp dụng đề tài này, tôi thấy các em không
chỉ nhận biết được các Kĩ năng cơ bản mà còn hiểu và áp dụng các kĩ năng đã học
vào thực tế. Chất lượng học tập các văn bản truyện ngụ ngôn của hai lớp 6C1, 6C2
nâng lên rõ rệt. Kết quả điểm khá, giỏi, trung bình phản ánh đúng năng lực của các
em. Điều quan trong, các em say mê và hứng thú với văn chương, nhất là với Văn
học dân gian và truyện ngụ ngôn, thấy môn Ngữ văn không chỉ là những bài học
triết lí, đạo đức mà còn là giúp hình thành những kĩ năng vô cùng cần thiết cho
thực tế cuộc sống của các em.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
chuyên đề tích hợp các KNS thong qua các bộ môn xã hội, nhất là môn Ngữ văn.
Đề tài này đã được dạy thực nghiệm và đạt được kết quả nhất định. Trong
phạm vi của đề tài không tránh khỏi những hạn chế, tôi rất mong nhận được sự
góp ý của các bạn đồng nghiệp để việc dạy phần truyện ngụ ngôn Ếch ngồi đáy
giếng, đặc biệt là tích hợp nó với giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 6 và học
sinh THCS đạt hiệu quả cao nhất.
Tôi xin trân trọng cảm ơn !
Quảng Xương , ngày 26 tháng 4 năm 2018
Xác nhận của chuyên môn
Người viết:
Phó Trưởng Phòng GD&ĐT
Lê Hữu Quang
Nguyễn Hồng Cường
21
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Khắc Phi ( Tổng chủ biên) – “Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 6” – Tập
một – Nhà xuất bản Giáo dục
2. “Sách giáo viên Ngữ văn lớp 6” – Tập một – Nhà xuất bản Giáo dục
3. “Văn học dân gian Việt Nam” – Sách giáo trình Cao đẳng sư phạm – Nhà xuất
bản Giáo dục – 1998
4.Trương Chính – “Bình giải ngụ ngôn Việt Nam” – Nhà xuất bản Giáo dục –
1997
5. Ths tâm lí Đinh Đoàn – “Tài liệu tập huấn cho Tập huấn viên về Kĩ năng sống
cho trẻ em” – tài liệu của tổ chức World vision ( Tổ chức Tầm nhìn thế giới).
6. “Tài liệu tập huấn Xây dựng câu lạc bộ, tăng cường Kĩ năng sống cho học sinh
1.4. Phương pháp nghiên cứu
3
1.5. Những điểm mới của SKKN
3
2. NỘI DUNG SKKN
3
2.1 Cơ sở lí luận của SKKN
3
23
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng SKKN
4
2.2.1. Thuận lợi
2.2.2. Khó khăn
2.3 Các giải pháp sử dụng để giải quyết vấn đề
5
2.4. Thiết kế giáo án thực nghiệm: Ếch ngồi đáy giếng