skkn tích hợp kĩ năng sống vào giảng dạy một số bài trong bộ môn giáo dục công dânớp 10 thpt tống duy tân - Pdf 18


TÍCH HỢP KỸ NĂNG SỐNG VÀO GIẢNG DẠY MỘT SỐ BÀI
TRONG BỘ MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 10.
A. PHẦN MỞ ĐẦU:
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Trong điều kiện của nền kinh tế nước ta hiện nay đang phát triển mạnh mẽ bên
cạnh những thành tựu của khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão trên thế giới mở
ra thời kì hội nhập quốc tế làm cho con người tiếp cận với những tri thức nhanh hơn,
hiệu quả hơn…bên cạnh đó mặt trái ngoài xã hội đã tác động không nhỏ đến suy
nghĩ và hành động của HS, cộng với sự phối hợp của các ngành chức năng còn lỏng
lẻo, một mặt các em chưa được sự quan tâm chăm sóc, động viên, giáo dục từ phía
gia đình; mặt khác về phía nhà trường thì nội dung chương trình giáo dục đạo đức -
giáo dục công dân có bài còn nặng về lí thuyết, ít liên hệ với thực tiễn địa phương,
phương pháp giảng dạy của một số giáo viên chậm đổi mới còn nặng về phương
pháp truyền thống nên ít nhiều chưa cuốn hút được học sinh.
Thực tế hiện nay một bộ phận lớn HS còn thiếu hiểu biết về pháp luật, đạo đức, lối
sống. Đặc biệt kĩ năng sống còn kém, chưa biết ứng xử với lối sống có văn hóa và
chưa biết đấu tranh với những văn hóa đồi trụy, phản động, chưa nhận thức được
việc phạm tội, vi phạm đạo đức của mình, chủ yếu là đua đòi phạm tội một cách hồn
nhiên, ít chịu tu dưỡng, rèn luyện, sống buông thả theo thị hiếu tầm thường. Nhiều
em có hoàn cảnh kinh tế khá nhưng thiếu ý chí vươn lên tự buông thả mình và trượt
dài
Trước những yêu cầu thiết thực trên bộ môn GDCD giữ vai trò quan trọng và
trực tiếp trong việc giáo dục cho học sinh ý thức và hành vi người công dân, phát
triển tâm lực và nhân cách con người toàn diện. Đặc biệt là đối với HS lớp 10 mới
1
bước chân vào môi trường mới các em chưa thật sự tự tin, còn rụt rè lúc này các cần
có những mối quan hệ xung quanh như: kết bạn, quan hệ giữa thầy, cô, nhà trường
và xã hội…với những mối quan hệ phức tạp ấy, các em cần những kỹ năng để tiếp
cận trước những lôi cuốn của những bạn bè xấu sẽ ảnh hưởng đến kết quả học tập về
sau.

tiễn. Vì thế, việc ứng dụng nhiều phương pháp dạy học bằng cách nào đó có thể tích
hợp giáo dục KNS vào trong chương trình giảng dạy là vấn đề mà hiện nay nhiều
giáo viên còn băn khoăn, lúng túng. Muốn đạt được hiệu quả của việc tích hợp giáo
dục KNS đòi hỏi người dạy phải kết hợp nhuần nhiễn, hợp lí những phương pháp
nào có khả năng làm cho người nhận kiến thức phải thật sự thu hút, lôi cuốn như
đang đắm mình trong một môi trường thực của cuộc sống đang diễn ra trước mắt.
Đồng thời, việc tích hợp KNS phải được diễn ra liên tục trong những tiết dạy tiếp
theo, làm sao cho HS tích tụ lại kiến thức theo kiểu mưa giầm thấm lâu thì KNS của
các em hình thành, do đó việc sử dụng phương pháp nào lồng ghép vào mục nào
trong bài dạy có ý nghĩa quyết định rất lớn đến chất lượng của HS, góp phần nâng
cao hiệu quả giáo dục tri thức cũng như giáo dục KNS cho HS.
b. Ý nghĩa thực tiễn:
Cung cấp cho HS những kỹ năng sống cơ bản có thể ứng phó với những thách
thức trước yêu cầu phát triển của xã hội; đồng thời làm giảm bớt sự đơn điệu, khô
khan trong tiếp nhận tri thức của người học.
6. Kết cấu đề tài:
A. Phần mở đầu.
1/ Lý do chọn đề tài.
2/ Đối tượng nghiên cứu.
3/ Mục đích, nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu đề tài.
3
4/ Phương pháp nghiên cứu.
5/ Ý nghĩa đề tài.
6/ Kết cấu đề tài.
B. Phần nội dung.
Chương I: Thực trạng và cơ sở lí luận.
Chương II: Thực tiễn ứng dụng tích hợp giáo dục kỹ năng sống vào giảng dạy
một số bài trong chương trình GDCD và một số tiết ngoại khóa.
C. Phần kết luận, kiến nghị.
B. PHẦN NỘI DUNG.

năm 1995-1996, thông qua dự án “ Giáo dục KNS để bảo vệ sức khỏe và phòng
chống HIV/ AIDS dành cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường”, do Quỹ
nhi đồng Liên Hợp Quốc ( UNICEF) phối hợp với BGD& ĐT phối hợp cùng Hội
Chử thập đỏ Việt nam thực hiện.
Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), KNS là hành vi có khả năng thích ứng và tích
cực, giúp cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức cuộc sống
hàng ngày.
2.2 Cơ sở lí luận:
Phương pháp tích hợp KNS vào trong bộ môn GDCD là xuất phát từ yêu cầu đổi
mới của BGD& ĐT, xuất phát từ yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông. Giáo dục
KNS càng trở nên cấp thiết đối với thế hệ trẻ hiện nay, bởi vì: Thế hệ trẻ là chủ nhân
tương lai của đất nước, là những người sẽ quyết định sự phát triển của đất nước
trong tương lai. Nếu không có KNS, các em sẽ không thực hiện tốt trách nhiệm của
bản thân, gia đình và xã hội.
2.3 Cơ sở thực tiễn:
5
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế và thời buổi cơ chế thị trường như hiện nay thì
việc tích hợp KNS vào giảng dạy trong bộ môn GDCD là hết sức cần cấp bách, vì
lứa tuổi HS THPT đang hình thành những giá trị sống với những ước mơ, hoài bão
luôn tìm tòi khám phá… nhưng lại thiếu hiểu biết sâu sắc về kiến thức xã hội, thiếu
KNS nên dễ bị lôi kéo, kích động có những hành vi tiêu cực, bạo lực, sống ích kỉ,
thực dụng và rơi vào phạm tội: Đua xe, nghiện hút, chích ma túy, cãi thậm chí hành
hung cha mẹ…
2.4 Những ưu điểm và hạn chế của việc ứng dụng phương pháp dạy học tích
cực nhằm tích hợp KNS vào bộ môn GDCD lớp 10.
- Ưu điểm:
+ GV có thể sử dụng nhiều phương pháp dạy học tích cực để lồng ghép (Cần nói
thêm là chọn một vài PP phù hợp với nội dung kiến thức cần tích hợp cho từng đề
mục chứ không phải tất cả PP đều áp dụng vào đó).
+ GV dễ dàng đưa vào tích hợp nhiều KNS với những vấn đề nóng bỏng mà xã

Cuộc sống của chúng ta có thể chia làm 3 mặt:
- Thể chất/ sức khỏe.
- Trí tuệ/ thực hành.
- Tình cảm/ tinh thần.
Việc đầu tiên dù giáo viên có sử dụng phương pháp nào, mục nào trong bài dạy
cần tích hợp KNS làm sao cho thật sống động, gần gũi hơn với cuộc sống mà HS có
thể thể thay đổi hành vi của mình từ lý luận biến thành hành vi thực tiễn trong cuộc
sống.
Lứa tuổi HS THPT là lứa tuổi đang có sự thay đổi mạnh mẽ về thể chất lẫn tinh
thần, chính vì có sự biến động về mặt tâm- sinh- lý nên các em rất năng động, luôn
7
tìm tòi, khám phá, có những ước mơ và hoài bảo lớn. Vì thế, độ tuổi này có những
em rất ngoan biết vượt lên số phận, nhưng có những HS rất khó dạy bảo, không
muốn ai chỉ trích nói đến mình ngay cả lời dạy bảo của cha mẹ, HS cho là cổ hữu,
luôn đề cao cái tôi của mình rất lớn, quan niệm sống buông thả, tầm thường, lố bịch,
luôn đua đòi học theo những thị hiếu mà các em cho rằng đó là cái mốt, thời thượng
của một xã hội phát triển đem lại.
Trước những hành vi phản ứng tích cực và tiêu cực của lứa tuổi này chứng tỏ các
em thiếu kiến thức xã hội nên dễ dàng bị lôi kéo vào những lối sống thiếu lành
mạnh, thói quen sống buông thả chính là nguyên nhân đem đến hậu quả khó lường.
Nói cách khác là các em thiếu KNS trước những thách thức và thay đổi nhanh chóng
của hệ quả xã hội phát triển để lại hiện nay.
Tích hợp vào các bài cụ thể:
Bài 1: Thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng:
Chọn mục 1- b/ Thế giới quan duy vật và thế giới quan duy tâm. ( Để tích hợp)
- Phương pháp:
+ Đặt vấn đề và giải quyết vấn đề.
+ Phương pháp tìm hiểu qua mẫu truyện và giải quyết bài tập.
- Bước 1: Cho đại diện HS đứng dậy đọc mẫu truyện “ Thần trụ trời”
- Bước 2: GV: Đặt câu hỏi từ mẫu truyện trên.

- Cả lớp bổ sung, nhận xét.
- GV: Kết luận.
Vận động và phát triển có mối quan hệ mật thiết với nhau, bất kì SV,HT nào
cũng vận động, không có vận động thì không thể phát triển được.
Vậy có ý kiến cho rằng mọi sự vận động đều được xem là phát triển đúng hay
sai?
9
GV đặt thêm câu hỏi để tích hợp KNS.
? Để lên được lớp 10, các em có trãi qua quá trình vận động không? Vậy có được
xem là phát triển? Từ lớp 1->9 có lúc nào gặp khó khăn, thụt lùi?
? Các em học môn Tin học từ tầng trệt lên lầu 3 có xem là vận động? Vận động
đó có gọi là phát triển không? Vì sao?
? Em quan sát cây Bàng ở trường (ở nhà), chăm sóc từ nhỏ, đến lớn rồi ra hoa,
kết trái? Sự lớn lên của cây có được gọi là sự vận động và phát triển không? Vì sao?
=> Từ những câu hỏi nêu trên GV chỉ cho HS hiểu thế nào là phát triển, Từ đó
giúp HS có kỹ năng và thái độ luôn phải vận động không ngừng để đem lại kết quả
cao nhất trong học tập, lao động…Biết vận động theo chiều hướng đi lên (mặc dù có
lúc khúc khửu, quanh co) nhưng với ý chí vươn lên nhất định đến 1 lúc nào đó ta có
thể làm giàu cho bản thân, gia đình và xã hội.
KNS: Loại bỏ tư tưởng bảo thủ không biết cầu tiến, lười vận động…
Vận động trong học tập bằng cách làm bài và học bài đầy đủ trước khi đến lớp.
Sắp xếp thời gian học tập, giải lao hợp lí.
Thực hiện tốt nội quy trường, lớp.
Vận động TDTT lành mạnh không tham gia vào những trò chơi vô bổ, để có sức
khỏe tốt phục vụ cho việc học.
Vận động trong gia đình: Phụ giúp cha mẹ lúc rảnh rỗi bằng những hành động cụ
thể: Nấu cơm, giặt đồ, giúp đỡ em học tập…
Vận động xã hội bằng cách: Tích cực tham gia các hoạt động trong nhà trường,
đoàn trường, và một công tác xã hội khác. ( Hiến máu cứu người, ủng hộ đồng bào
bị thiên tai, lũ lụt, giúp đỡ bạn khi gặp hoạn nạn, khó khăn…)

trôi đi, cứ mỗi ngày em dành thời gian một ít đi chơi với bạn, ngày sau lại tăng thêm
11
1 ít…cứ như thế trò chơi này em đã nghiện từ lúc nào không biết. Kết quả thi HK I
đã rõ có nhiều môn dưới 3,5 khi cha mẹ đi họp PHHS mới vỡ lẽ…
Được gia đình động viên và tự bản thân hứa sẽ cố gắng làm lại từ đầu, bắt đầu từ
HK II, Q đã hạ quyết tâm phải dậy sớm học bài và làm bài để lấy lại kiến thức, Q đã
hành động, 4h 30 sáng Q hẹn đồng hồ báo thức, khi nghe chuông reo…Q ngáp ngủ,
trời lại lạnh,…thôi tắt ngủ thêm xíu nữa,…lúc bật dậy đã là 6h sáng.
Nhóm 2,4: Em có nhận xét gì về mâu thuẫn trong cùng một con người của bạn
Q? Chi tiết nào cho thấy điều đó? Mâu thuẫn đó diễn ra ở đâu? Lấy thêm VD khác
minh họa?
- HS: thảo luận nhóm, đại diện trình bày, cả lớp nhận xét, bổ sung.
- GV nhận xét, kết luận và tích hợp KNS.
Qua câu truyện trên giúp HS phân biệt đâu là mâu thuẫn thông thường, đâu là
mâu thuẫn theo nghĩa triết học. Từ đó, đấu tranh chống lại sự sung đột đối kháng
xung đột thông thường.
KNS: HS cần đấu tranh giải quyết giữa lười học >< Biếng học, phê phán lối sống
ngại va chạm với những bài tập khó trong học tập, trong suy nghĩ, Trong thảo luận
nhóm thì đùn đẩy nhau đứng dậy trình bày…phê phán những bạn quay cóp khi làm
bài kiểm tra, tránh tư tưởng dĩ hòa vi quý trong cuộc sống cá nhân, tập thể.
Bài 10: Quan niệm về đạo đức.
Tích hợp mục 1-b/ Phân biệt giữa đạo đức, pháp luật và phong tục tập quán.
- Phương pháp: Tình huống, đóng vai.
- GV: Giao tình huống cho HS khi kết thúc tiết dạy bài 9, chuẩn bị 4 nội dung
giao về cho 4 tổ thực hiện ( GV gợi ý trước nội dung nào HS thắc mắc). Khi dạy bài
10 cho HS tiến hành tại lớp như sau.
* Cách tiến hành:
Tổ 1: Đóng vai ( Giúp người hoạn nạn, gặp khó khăn khi qua đường: người già,
người tàn tật, trẻ em…)
12

ngang trên đường, không nói tục chửi thề, không cải lời cha mẹ… đấu tranh loại bỏ
những hủ tục: Bói toán, cờ bạc, mê tín dị đoan: Đi lễ cầu xin được học giỏi trong khi
đó không chịu học bài,…
Bài 11: Nghĩa vụ.
1-a/ khái niệm nghĩa vụ:
- Phương pháp: Động não, so sánh, hình ảnh trực quan.
- GV: Đưa ra bài tập tình huống cho HS so sánh, Sau đó cho HS bài tập để làm rõ
khái niệm nghĩa vụ. Từ đó liên hệ nghĩa vụ của bản thân đối với bản thân, gia đình
và xã hội.
* Cách tiến hành:
- Bước 1: Em hãy so sánh điểm giống và khác nhau giữa cha mẹ nuôi con và vật
nuôi ở nhà nuôi con?
- Bước 2: Đưa ra câu hỏi hoặc bài tập có tình huống cho HS giải thích.
Bài tập: Trong xã hội hiện nay có một số người sống theo kiểu “ Đèn nhà ai, nhà
ấy rạng”. Em có suy nghĩ và nhận xét gì? Em có đồng tình với kiểu sống của một số
người như trên không? Vì sao?
- Bước 3: Chiếu hình ảnh trực quan về “Nghĩa vụ” cho các em liên hệ thực tế.

( Thanh niên lên đường nhập ngũ) ( Canh gác hải đảo)
? Muốn có được cuộc sống hòa bình, hạnh phúc, không có chiến tranh thì nghĩa
vụ đặt ra chúng ta cần phải làm gì?
( Nghĩa vụ đối với xã hội)
- Bước 4: Nhận xét, kết luận và rút ra KNS cho HS.
=> KNS:
14
Giúp HS hiểu được nghĩa vụ là gì, xác định được nghĩa vụ của bản thân cần phải
làm gì?
Trong gia đình làm con, HS phải biết nghĩa vụ ngoan ngoãn, vâng lời ông bà cha
mẹ, chăm sóc và phụng dưỡng khi cha mẹ già yếu, biết phụ giúp gia đình những
công việc phù hợp với bản thân, sức khỏe…

? Em có đồng tình với quan niệm trên hay không? Nếu là em, em sẽ thể hiện
quan niệm tình yêu của mình như thế nào?
KNS: HS Trình bày quan niện sống của mình về tình yêu, tất nhiên có rất nhiều
quan điểm khác nhau được nêu ra, GV cần lắng nghe và tôn trọng tất cả các ý kiến
trên (không nên phủ nhận). Cần có thái độ tế nhị, chia sẽ kiến thức như một người
bạn đáng tin cậy để HS có thể bọc lộ tâm tư, tình cảm của mình khi chia sẽ vấn đề
này. từ đó giúp các em hiểu sâu sắc ý nghĩa của tình yêu trong sáng, lành mạnh phù
hợp với quan niệm đạo đức xã hội. có trách nhiệm sống nghiêm túc với bản thân.
- GV: Sau khi HS thể hiện hết ý kiến của mình, GV nhận xét và đưa ra những
dẫn chứng bằng kinh nghiệm sống của mình dưới nhiều góc độ khác nhau để thuyết
phục. VD: Sống thử trước hôn nhân đặc biệt ở lứa tuổi học trò là vi phạm pháp luật
dù có đồng tình từ 2 phía nhưng chưa tới độ tuổi pháp luật cho phép, “Sống thử” có
thể để lại nhiều vấn đề phức tạp như có thai ngoài ý muốn, mất khả năng làm mẹ,
quan hệ tình dục không an toàn dẫn đến HIV/ AIDS. Đặc biệt, phái nữ sẽ bị thiệt
thòi và chịu nhiều tai tiếng…
Các giá trị truyền thống cho tới nay vẫn còn có ý nghĩa nhất định và tình yêu
chân chính không nhất thiết phải chứng minh bằng sống thử trước hôn nhân.
Không đổ lỗi cho hoàn cảnh xã hội, gia đình sau khi hiểu rõ tác hại của việc yêu
sớm và sống thử hay chạy theo mốt yêu nhiều người mới chứng tỏ mình với bạn
16
khác phái…Các em hãy tập trung học tập thật tốt, sau khi có công việc ổn định tuổi
tác đã chửng trạc thì xác định yêu và tiến tới hôn nhân vẫn chưa muộn màng.
Biết đấu tranh chống lại tư tưởng về lối sống buông thả vi phạm chuẩn mực đạo
đức xã hội, biết cách bảo vệ mình và làm chủ được danh dự và nhân phẩm của chính
mình, đừng để sự việc xảy ra mới hối hận muộn màng.
Tích hợp KNS vào bài kiểm tra thu được kết quả sau:
STT LỚP SỈ SỐ LIÊN HỆ VÀ ỨNG DỤNG VÀO
THỰC TIỄN
KHÔNG LIÊN HỆ VÀ ỨNG
DỤNG VÀO THỰC TIỄN

đỡ về những vướng mắc, khó khăn trong phương pháp học tập, chọn nghề hay một
số vấn đề khác trong cuộc sống mà các em đang trăn trở.
So với năm học trước, việc học sinh gây mâu thuẫn dẫn tới đánh nhau của trường
THPT Tống Duy Tân bị đưa ra hội đồng kỷ luật đã giãm một cách rõ rệt, không còn
tình trạng kết thành băng nhóm đánh nhau ngoài cổng trường như những năm trước
đây, mặc dù tình trạng xích mích dẫn tới mâu thuẫn là không thể tránh khỏi nhưng
tính chất và mức độ đã có nhiều chuyển biến giảm rõ rệt. Đó được xem là kết quả
mà tập thể sư phạm nhà trường nói chung và việc giáo dục KNS cho HS bộ môn
GDCD nói riêng trong việc định hướng, giúp HS biết cách kìm chế những xung đột,
có thái độ tích cực hơn trong học tập và cuộc sống hằng ngày.
C. PHẦN KẾT LUẬN KIẾN NGHỊ.
KẾT LUẬN:
Thời gian gần đây dư luận xã hội len án mạnh mẽ về hành vi bạo lực trong HS,
mọi người không khỏi ngỡ ngàng khi chứng kiến cảnh hờ hững của những người
xung quanh đứng nhìn. Câu chuyện về về giáo dục đạo đức lối sống cho HS cho tới
18
nay không phải là vấn đề mới đưa vào; tuy nhiên việc thiếu ý thức và cách hành xử
của một bộ phận HS nêu trên phải làm cho những ngành giáo dục phải có cách nhìn
nhận mới hơn trong một xã hội đầy năng động nhưng không kém phần phức tạp như
hiện nay. Điều đó sẽ đặt ra trách nhiệm nặng nề hơn cho những người làm công tác
giáo dục mà người thầy là con thuyền định hướng cho cả một thế hệ trong tương lai.
Nhìn nhận một cách thực tế hiện nay HS thiếu KNS một cách báo động, HS thiếu
kiến thức, suy nghĩ nông cạn, lối sống thực dụng, thiếu hiểu biết để đối phó với
những nảy sinh diễn ra hằng ngày trong cuộc sống. Muốn giáo dục KNS cho HS cần
nhiều yếu tố phối hợp như: Gia đình, nhà trường, xã hội…mà cốt lõi bản chất của
từng cá nhân; Trong đó:
Gia đình phải giáo dục thương yêu định hướng cho con mính tránh xa những
biểu hiện tiêu cực trong xã hội, biết lắng nghe khi con cần chia sẽ, giúp đỡ…
Nhà trường cần quan tâm rèn luyện KNS ngoài dạy chữ, luôn quan tâm đến đời
sống tâm tư nguyện vọng của các em để có hướng giáo dục KNS cho phù hợp.

càng hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn!
Vĩnh Tân ngày 02 tháng 05 năm 2013
Người thực hiện:
Lê Trung Kiên
20

21
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1/ Tài liệu giáo dục KNS môn GDCD THPT của BGD&ĐT – Nxb giáo dục Việt
Nam.
2/ Sách giáo khoa, sách giáo viên GDCD 10,12.
3/ Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình SGK lớp 10,12 THPT nhà
xuất bản giáo dục năm 2006.
4/ Một số tư liệu, hình ảnh từ sách báo, Internet…
22
23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status