LV thạc sĩ QHCC xây DỰNG và QUẢNG bá THƯƠNG HIỆU CHƯƠNG TRÌNH CHUYỂN ĐỘNG 24h của đài TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM - Pdf 50

DANH MỤC HÌNH ẢNH VÀ BẢNG BIỂU
Trang

Hình 2.1: Logo chương trình truyền hình Chuyển động 24h

38
38

Hình 2.2: Watermark chương trình truyền hình Chuyển động 24h

39

Hình 2.3: Nhạc hiệu và hình hiệu của Chuyển động 24h
Hình 2.4: Các thành viên của ê-kíp và đại biểu trong lễ ra mắt “Cặp lá

40

Biểu đồ 2.1: Đánh giá về Tên gọi chương trình Chuyển động 24h

yêu thương”
Hình 2.5: Giao diện vị trí của Chuyển động 24htrên website vtv.vn

43

Hình 2.6: Giao diện fanpage “Trung tâm Tin tức VTV2”

44
46

Hình 2.7: Hình hiệu “Cặp lá yêu thương” khi lên sóng truyền hình


:Weaknesses

(Điểm

yếu),

Opportunities (Cơ hội) và Threats (Thách thức) - là một mô hình nổi
tiếng trong phân tích lập kế hoạch truyền thông.


MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH ẢNH VÀ BẢNG BIỂU...............................................................................1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT............................................................................................2
MỤC LỤC...............................................................................................................................3
MỞ ĐẦU.................................................................................................................................1
CHƯƠNG 1..........................................................................................................................14
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU CHƯƠNG
TRÌNH TRUYỀN HÌNH.........................................................................................................14
1.1. Khái quát về xây dựng thương hiệu.........................................................................14
1.2. Xây dựng và quảng bá thương hiệu truyền hình......................................................18
1.3. Cách thức xây dựng và quảng bá thương hiệu chương trình truyền hình..............26
1.4.Vài nét về chương trình Chuyển động 24h................................................................38
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1........................................................................................................41
CHƯƠNG 2:.........................................................................................................................42
THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VÀ QUẢNG BÁ THƯƠNG HIỆU CHƯƠNG TRÌNH
“CHUYỂN ĐỘNG 24H” CỦA ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM............................................42
2.1.Thực trạng xây dựng thương hiệu và quảng bá hình ảnh chương trình Chuyển
động 24h của Đài Truyền hình Việt Nam.........................................................................42
2.2.Đánh giá về các hoạt động xây dựng thương hiệu Chuyển động 24h.....................63
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2........................................................................................................68

Đô… ngành PR ở Việt Nam đang tăng trưởng rất nhanh, ước tính 30% với
hơn 20 công ty chuyên về quan hệ công chúng và tổ chức sự kiện (PR/Event)
cùng hàng trăm công ty quảng cáo cùng tham gia hoạt động; 66% các công ty
tự tổ chức hoạt động này và 77% công ty thuê các công ty khác tổ chức. [2]
Mặc dù có sức mạnh, tốc độ phát triển mạnh mẽ như vậy, nhưng PR tại
Việt Nam mới chỉ có hơn 20 năm tuổi đời, còn rất non trẻ, và là một ngành
nghề mới mẻ tại Việt Nam. Hầu hết, các cơ quan tổ chức đang vận hành
“chiếc đũa thần kì” PR trong các chiến dịch truyền thông thương hiệu và
quảng bá hình ảnh đều thuộc lĩnh vực kinh doanh; chỉ một số ít các cơ quan
nhà nước có sự đầu tư để sử dụng PR trong các chiến lược truyền thông
1


thương hiệu; thậm chí, ngay cả lĩnh vực báo chí (phát thanh – truyền hình)
cũng không phải là trường hợp ngoại lệ trong công tác xây dựng thương hiệu.
Đánh giá được xu thế phát triển, cũng như thách thức cạnh tranh trong
lĩnh vực phát thanh – truyền hình ngày càng lên cao, với những ưu điểm vượt
trội của ngành PR, Đài truyền hình Việt Nam đã có những nỗ lực nhất định
trong việc xây dựng thương hiệu, quảng bá hình ảnh với công chúng trong và
ngoài nước. Chiến lược định vị thương hiệu của Đài Quốc gia: mỗi chương
trình truyền hình là “một thương hiệu con” cùng chung sức góp thành
“thương hiệu mẹ” Đài Truyền hình Việt Nam ngày càng hùng mạnh. Do đó,
mỗi chương trình truyền hình của Đài Quốc gia đều có chiến lược định vị
thương hiệu riêng, xuyên suốt với định hướng chung của Đài, và chiến lược
quảng bá hình ảnh cho chương trình “Chuyển động 24h” cũng nằm trong
định hướng chiến lược dài hạn của Đài truyền hình Việt Nam.
Chuyển động 24h - chương trình thời sự tương tác mới, phản ánh chân
thực về mọi mặt đời sống xã hội, chính thức lên sóng VTV1 và VTV2 từ ngày
10/10/2014.
Chuyển động 24h là chương trình do Trung tâm Tin tức – VTV24, Đài

"chăm sóc" hình ảnh để ngày càng hoàn thiện hơn trong mắt công chúng, thiết
lập đội ngũ "fan" riêng, là một nhu cầu thiết thực và quan trọng. Đó là một
phần không thể thiếu bên cạnh các biện pháp mang tính nghiệp vụ.
Trực tiếp nắm trong tay nhiều phương tiện truyền thông, Đài Truyền
hình Việt Nam mặc nhiên có lợi thế hơn hẳn so với các tổ chức khác khi thực
hiện các chiến dịch truyền thông xây dựng thương hiệu và quảng bá thương
hiệu chương trình Chuyển động 24h. Tuy nhiên, Đài đã tận dụng được thế
mạnh này hay chưa và hoạt động tự PR hiện nay của một cơ quan đang nắm
quyền lực thứ tư đã chuyên nghiệp đến mức độ nào? Với mong muốn làm
3


sáng rõ những vấn đề này, tác giả lựa chọn đề tài: “Xây dựng và quảng bá
thương hiệu chương trình Chuyển động 24h của Đài Truyền hình Việt
Nam” làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Quan hệ công chúng, nhằm đưa ra
những cái nhìn tổng quan nhất việc ứng dụng PR trong các hoạt động xây
dựng thương hiệu và quảng bá thương hiệu. Đồng thời, thông qua đó, tác giả
đưa ra một số giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động xây dựng thương hiệu
và quảng bá hình ảnh cho chương trình truyền hình Chuyển động 24h của
Đài Truyền hình Việt Nam nhằm tăng cường tiếp cận và nhận được sự ủng hộ,
tin tưởng của công chúng nhiều hơn nữa trong thời gian tới.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trên thế giới, vai trò của truyền thông và sử dụng truyền thông trong
xây dựng thương hiệu được quan tâm từ khá sớm. Đặc biệt, giai đoạn từ đầu
thập kỉ 20 (thế kỉ XX) cho đến nay đã xuất hiện nhiều tác giả, nhiều công
trình nghiên cứu mới về hoạt động PR, xây dựng thương hiệu trên thế giới nói
chung và tại Việt Nam nói riêng. Có nhận định cho rằng hoạt động PR du
nhập vào Việt Nam từ những năm 1990, muộn hơn rất nhiều so với thế giới.
Trong quá trình du nhập và Việt Nam, PR không chỉ góp phần thay đổi các
chiến lược kinh doanh truyền thống mà còn tạo ra một làn sóng mới về xu

với Quảng cáo.
- PR kiến thức cơ bản và đạo đức nghề nghiệp – Tác giả TS. Đinh Thị
Thúy Hằng chủ biên, NXB Lao động Xã hội, 2007. Cuốn sách giới thiệu khái
quát về PR: khái niệm, lịch sử phát triển, các hoạt động chuyên nghiệp của
PR, các mối quan hệ của PR với truyền thông, những chiến lược trong PR
chuyên nghiệp.
- Xây dựng thương hiêu – Tác giả TS. Lý Quốc Trung, NXB Trẻ, 2007.
Cuốn sách chia sẻ những kiến thức cơ bản, quan điểm, nhìn nhận của tác giả
về xây dựng thương hiệu như: tìm hiểu những khái niệm cơ bản về thương
5


hiệu, 6 yếu tố chính trong thiết kế thương hiệu, cách thức xây dựng thương
hiệu, tận dụng sức mạnh thương hiệu… là những ví dụ từ chính các công ty,
tổ chức trong và ngoài nước. Trong cuốn sách, tác giả đã đặc biệt chú ý tới
cách xây dựng thương hiệu cho các doanh nghiệp, tổ chức Việt Nam hiện nay.
- Cuốn sách “Quy luật mới của PR và tiếp thị” của David Meerman
Scott, xuất bản năm 2008, được xây dựng từ một chương trình PR trên blog.
Tác giả cuốn sách này cho rằng ranh giới giữa tiếp thị và PR trên Internet đã
xóa nhòa đến mức khó có thể nhận ra nhau. Tác giả cho rằng các loại hình
truyền thông trực tuyến khác nhau như: blog, posdcast, diễn đàn trực tuyến,
mạng cộng đồng… đều phát triển rất nhanh và có quan hệ hỗ trợ lẫn nhau. Và
quy luật mới nằm ở chỗ không phải khi cần có sự kiện lớn mà thông cáo báo
chí đến các website, mạng xã hội của công ty, sử dụng công cụ tìm kiếm để dễ
dàng được tìm thấy, công bố thông các báo chí qua dịch vụ phân phối tin tức.
Thêm vào đó, độc giả còn có thể tìm thấy ở đây những bí quyết vận dụng
Internet như công cụ để chạm đến ngưỡng của thành công trong lĩnh vực PR.
- PR lí lận và ứng dụng –Tác giả TS. Đinh Thị Thúy Hằng chủ biên,
NXB Lao động Xã hội, 2008. Cuốn sách bao quát toàn bộ các ứng dụng của
PR giúp nhà hoạt động PR phân tích, nắm bắt và giải quyết các vấn đề cốt lõi

lập, xây dựng, bảo vệ một thương hiệu vững mạnh. Trong nền kinh tế thị
trường hiện nay, sự khác iệt của doanh nghiệp, tổ chức của bạn là một lợi thế
so với các đối thủ cạnh tranh. Những doanh nghiệp, tổ chức có thương hiệu
mạnh thường mất rất ít các chi phí cho quảng cáo. Và việc xây dựng thương
hiệu ngày càng trở nên quan trọng trong nền kinh tế thị trường hiện nay.
- Thông qua cuốn sách “PR theo kiểu Mỹ” của Robert L. Dilenschneider
do Nhà xuất bản Lao động Xã hội phát hành năm 2012, những người quan
tâm đến truyền thông và PR được tiếp cận với những “tuyệt chiêu” trong nghề
của các chuyên gia Quan hệ công chúng Mỹ. Tác giả đã đề cập khá chi tiết
7


những thay đổi của hoạt động PR ở Mỹ trong thời kì bùng nổ Internet và các
phương tiện truyền thông mới hiện nay. Qua hàng loạt ví dụ minh hoạt thực
tiễn, Dilenschneider đã cho thấy sức mạnh của truyền thông trong việc quảng
bá hình ảnh thương hiệu doanh nghiệp, tổ chức trong thời kì bùng nổ các kênh
truyền thông mới hiện nay (mạng xã hội, website, truyền hình online…)
- Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Quan hệ công chúng, Học viện báo
chí và tuyên truyền “Ứng dụng quan hệ công chúng trong xây dựng thương
hiệu hội nhà báo Việt Nam” của tác giả Nguyễn Đồ Họa Mi, năm 2013. Luận
văn đã đề cập đến vai trò của việc xây dựng thương hiệu của cơ quan báo chí
nói chung và của Hội nhà báo Việt Nam nói riêng. Tuy nhiên, luận văn mới
chỉ dừng lại ở cấp cơ quan, tổ chức, chưa đi sâu nghiên cứu vào chiến lược
xây dựng một chương trình truyền thông quảng bá hình ảnh cụ thể, do đó
chưa có sự tương đồng với việc ứng dụng PR vào xây dựng thương hiệu một
chương trình truyền hình.
- Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành truyền thông đại chúng “Nâng cao
chất lượng hình ảnh chương trình thời sự của Đài truyền hình Việt Nam
(Khảo sát chương trình thời sự 19h của Đài truyền hình Việt Nam từ 01/2013
– 03/2013) của tác giả Nguyễn Việt Anh. Luận văn đã đề cập đến các yêu cầu

Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội có luận văn:
Quan hệ công chúng và báo chí - những vấn đề lý luận và thực tiễn, tác giả
Nguyễn Thị Thanh Huyền (2000); Quan hệ công chúng ngành Bưu chính viễn
thông - Tác già Trịnh Thúy Hòa (2004). Các luận văn này tập trung vào việc
nhận diện PR trong phạm vi phân tích, ảnh hưởng của nghề PR đến hoạt động
của truyền thông đại chúng nói chung và vai trò của PR trong ngành Bưu chính
viễn thông nói riêng. Phần tổng thuật về PR được nhấn mạnh trong hai luận văn
bảo vệ tại trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, còn những khảo sát thực
trạng mối quan hệ PR và báo chí chưa được xem xét một cách hệ thống.
9


Qua nghiên cứu của tác giả, các đề tài này mới chỉ dừng lại ở việc
nghiên cứu các hoạt động PR và vai trò của PR với xây dựng thương hiệu nói
chung nhưng chưa có công trình nào đề cập tới việc ứng dụng PR trong xây
dựng thương hiệu cho một chương trình truyền hình cụ thể như chương trình
Chuyển động 24h của Đài truyền hình Việt Nam. Do đó, luận văn Thạc sỹ
“Xây dựng và quảng bá thương hiệu chương trình Chuyển động 24h của
Đài Truyền hình Việt Nam” hướng đến việc đánh giá thực trạng ứng dụng
PR trong xây dựng và phát triển thương hiệu chương trình truyền hình
Chuyển động 24h. Đồng thời đề xuất những giải pháp, kế hoạch truyền
thông, xây dựng thương hiệu cho chương trình truyền hình Chuyển động 24h
trong thời gian tới.
Vì vậy, có thể nói rằng, sau khi hoàn thành luận văn sẽ không chỉ là
cuốn tài liệu bổ khuyết phần nào đó sự thiếu hụt của các công trình nghiên
cứu trước đây về ứng dụng PR xây dựng thương hiệu mà còn có giá trị thực
tiễn đối với Đài truyền hình Việt Nam trong lộ trình xây dựng và phát triển
chương trình Chuyển động 24h sau này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu

nghiệp được ứng dụng trong xây dựng thương hiệu và quảng bá thương hiệu
của chương trình Chuyển động 24h - Đài Truyền hình Việt Nam, từ tháng
10/2014 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện dựa trên nền tảng khoa học duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử, quan điểm của Đảng và Nhà nước. Đồng thời, luận
văn được nghiên cứu và phát triển dựa trên kế thừa hệ thống lý thuyết về
truyền thông, truyền thông xây dựng, quảng bá thương hiệu đã được công bố.
5.2 Phương pháp nghiên cứu
11


- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Đề tài sử dụng các tài liệu nghiên
cứu về PR nói chung và ứng dụng PR trong hoạt động xây dựng thương hiệu
nói riêng, các thông tin báo chí, truyền hình và các tài liệu nghiên cứu trước
đây về vấn đề này. Tác giả luận văn cũng đi sâu phân tích các phân tích các
hoạt động PR cụ thể từ đó tìm ra các thông điệp chính của từng hoạt động,
phát hiện những khó khăn, tồn tại trong quá trình triển khai hoạt động PR của
Đài Truyền hình Việt Nam với chương trình Chuyển động 24h và bước đầu
đề xuất một số giải pháp để ứng dụng hiệu quả PR trong xây dựng thương
hiệu các chương trình truyền hình nói chung và chương trình Chuyển động
24h nói riêng trong thời gian tới.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi Anket: Được áp dụng thông qua
việc khảo sát bảng hỏi đối với công chúng, dung lượng mẫu: 300. Triển khai
phát phiếu khảo sát trực tiếp và online tại Hà Nội, cho công chúng độ tuổi từ
18 – 60 tuổi. Các câu hỏi trong phiếu khảo sát tập trung khảo sát nhận thức
của công chúng đối với các hoạt động xây dựng thương hiệu chương trình
truyền hình Chuyển động 24h của Đài Truyền hình Việt Nam, từ đó tìm ra
tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động PR đối với việc xây dựng, phát triển

trình Chuyển động 24h Đài Truyền hình Việt Nam
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng quảng bá thương hiệu chương trình
Chuyển động 24h - Đài Truyền hình Việt Nam.

13


CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG
THƯƠNG HIỆU CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH

1.1. Khái quát về xây dựng thương hiệu
1.1.1 Thương hiệu
Tại Việt Nam, thuật ngữ “Thương hiệu” mới xuất hiện trong thời kì đổi
mới kinh tế của những năm 90. Khái niệm “thương hiệu” là tâm điểm của lý
thuyết và nghệ thuật marketing hiện đại. Có rất nhiều quan điểm và định
nghĩa khác nhau xoay quanh thuật ngữ này.
Dưới góc độ marketing, khái niệm “thương hiệu” được nhiều tổ chức
và chuyên gia trên thế giới định nghĩa như sau:
Thương hiệu – theo định nghĩa của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới
(WIPO): là một dấu hiệu (hữu hình và vô hình) đặc biệt để nhận biết một sản
phẩm hàng hóa hay một dịch vụ nào đó được sản xuất hay được cung cấp bởi
một cá nhân hay một tổ chức. [1]
Thương hiệu – theo định nghĩa của Hiệp hội nhãn hiệu thương mại
quốc tế ITA – International Trademark Association: Bao gồm những từ ngữ,
tên gọi, biểu tượng hay bất kì sự kết hợp nào giữa các yếu tố trên được dùng
trong thương mại để xác định và phân biệt hàng hóa của các nhà sản xuất
hoặc người bán với nhau và để xác định nguồn gốc của hàng hóa đó. [2]
Theo Philip Kotler – “cha đẻ” của marketing hiện đại: Thương hiệu có
thể được hiểu như là tên gọi, thuật ngữ, biểu tượng, hình vẽ hay sự phối hợp

báo chí nên gắn với văn hóa quốc gia hoặc văn hóa địa phương.
- Tính cách thương hiệu (Personality). Thương hiệu có thể coi là thể
hiện nhân cách của người sử dụng thương hiệu… những nguồn gốc quan
trọng này đều trở thành ưu thế khác biệt hóa của thương hiệu.
15


- Người sử dụng thương hiệu (Users). Thương hiệu còn thể hiện người
sử dụng sản phẩm là những người có đặc điểm như thế nào.
Để hiểu rõ hơn về thương hiệu, ta cần hiểu rõ những thành tố của
thương hiệu – tức là các yếu tố cấu thành cho việc định vị hình ảnh thương
hiệu trong tâm trí người tiêu dùng cũng như để nhận sự bảo hộ của luật pháp.
Một thương hiệu càng đầy đủ các yếu tố trên bao nhiêu thì càng chặt chẽ và
sâu sắc bấy nhiêu. Các yếu tố cấu thành của thương hiệu bao gồm:
- Tên thương hiệu (Brand name): là phần đọc lên được của thương
hiệu, như Café Trung Nguyên, Báo Tuổi trẻ, Sữa đậu nành Vinasoy, Sữa tươi
Mộc Châu…
- Dấu hiệu/biểu tượng (Brand mark): là một phần của thương hiệu
nhưng không đọc được, chẳng hạn như một biểu tượng, mẫu vẽ, hoặc một
kiểu chữ và màu sắc riêng biệt, như hình con sư tử của xe hơ Peugeot Pháp,
hay logo hình con thỏ của Tạp chí Playboy….
- Câu khẩu hiệu (Slogan): một đoạn văn ngắn, chứa đựng truyền đạt
các thoogn tin mang tính mô tả và thuyết phục thương hiệu. Câu khẩu hiệu
thường xuất hiện trên truyền hình, đài phát thanh, các trang báo mạng điện tử,
áp – phích, pa-nô. Câu khẩu hiệu được xem là công cụ ngắn gọn, xúc tích và
rất hữu hiệu trong tạo dựng giá trị thương hiệu.
- Nhạc hiệu: Một yếu tố cấu thành của thương hiệu, được thể hiện
bằng âm nhạc. Thực ra đây là một hình thức mở rộng của câu khẩu hiệu. Chỉ
cần nghe đoạn nhạc, có thể nhận biết được đó là thương hiệu gì, vậy nên đoạn
nhạc cũng là một đặc điểm nhận biết của thương hiệu. Nhạc hiệu có ý nghĩa

phẩm của tổ chức.
Trong vấn đề phát triển thương hiệu thì phát triển thương hiệu trực
tuyến là một phần trong chiến lược phát triển thương hiệu chung của mọi tổ
chức. Làm thương hiệu trực tuyến đòi hỏi một chiến lược tổng thể, kết hợp
17


giữa rất nhiều cách thức khác nhau. Do tính vô hình của hoạt động trên
Internet nên những chiến lược để phục vụ như con người, quy trình và chứng
cứ hữu hình có vai trò rất quan trọng để xây dựng lòng tin. Khi tất cả các
thương hiệu được có độ thỏa dụng như nhau thì sự nhận biết thương hiệu trở
nên vô cùng quan trọng trong quá trình tiếp thị thương hiệu. Sự nhận biết
thương hiệu ở góc độ này sẽ chỉ tập trung vào những thương hiệu mà được
người tiêu dùng nhắc đến đầu tiên, có thể là nhân tố quyết định trong việc lựa
chọn thương hiệu. Những thương hiệu đứng đầu trong tâm trí, đôi khi được
đánh giá bằng những gì mà các nhà nghiên cứu gọi là khả năng trụy cập vào
bộ nhớ; tức là một trong quá trình lựa chọn, tên của một số thương hiệu có
khả năng dễ đến với khách hàng hơn một số thương hiệu khác. Mức độ nhận
biết cao của một thương hiệu, thường là kết quả của một quá trình quảng bá
rộng rãi và rầm rộ.
Rõ ràng là việc phát triển thương hiệu trong bối cảnh hiện nay là vô
cùng quan trọng. Trong xu hướng phát triển của xã hội, mỗi thương hiệu cần
có một chiến lược tổng thể để phát triển, tạo ra được những giá trị bền vững
trong lòng công chúng.
1.2. Xây dựng và quảng bá thương hiệu truyền hình
1.2.1.Khái niệm truyền hình và chương trình truyền hình
Truyền hình là một loại hình truyền thông đại chúng chuyển tải thông
tin bằng hình ảnh và âm thanh về một vật thể hoặc một cảnh đi xa bằng sóng
vô tuyến điện.
Theo Từ điển Tiếng Việt, động từ “truyền hình” được định nghĩa là

mới cho người tiêu dùng.
Truyền hình kỹ thuật số (DTV) là một hình thức công nghệ phát sóng
mới, tiên tiến, giúp truyền hình ảnh dưới dạng dữ liệu qua sóng không khí như
máy tính. DTV cung cấp hình ảnh và âm thanh trong trẻo, nhiều kênh hơn và
19


thậm chí cả truyền hình chất lượng cao (HDTV) cho khách hàng dùng vô
tuyến chất lượng cao. DTV cho phép nhiều dịch vụ hơn hẳn so với truyền
hình phát sóng miễn phí.
Ngoài ra, còn có Truyền hình kĩ thuật số mặt đất là truyền hình chất
lượng cao nhờ công nghệ chuyển đổi từ tín hiệu analog sang digital. Truyền
hình kỹ thuật số mặt đất có khả năng thu cố định hoặc xách tay, thu di động
trên các phương tiện giao thông công cộng như ô tô, tàu hỏa, máy bay. Để sử
dụng được dịch vụ này, người dùng phải bỏ một khoản tiền mua đầu thu kỹ
thuật số và không mất tiền thuê bao hàng tháng.
Truyền hình ngay từ khi ra đời đã thể hiện được vị trí quan trọng của
mình trong hệ thống các phương tiện thông tin đại chúng. So với các loại hình
khác, truyền hình có nhiều ưu điểm vượt trội. Truyền hình có khả năng đến
với tất cả các tầng lớp dân chúng rộng rãi nhất, thậm chí đến tận các tầng lớp
nằm bên ngoài ảnh hưởng của các phương tiện thông tin đại chúng khác.
Truyền hình có khả năng đó là do những đặc điểm cơ bản về bản chất vật lý
của nó. Những đặc điểm ấy quyết định tính chất đặc thù của truyền hình với
tư cách là phương tiện tạo ra và truyền tải thông tin:
Thứ nhất, đó là khả năng của những dao động điện từ - mang tín hiệu
truyền hình được máy thu hình tiếp nhận – xâm nhập vào mọi điểm không
gian (trong khu vực của đài phát sóng). Đó được gọi là khả năng hiện diện
khắp nơi.
Thứ hai, đó là khả năng truyền tải thông tin dưới hình thức những hình
ảnh chuyển động, có kèm âm thanh. Thuộc tính này còn được gọi là tính chất

Một chương trình truyền hình cũng như một “tin truyền hình” hay một
“phóng sự truyền hình”… đều là tác phẩm, sản phẩm của loại hình báo chí
truyền hình. Tuy nhiên, một chương trình có thể bao gồm nhiều tin, bài,
phóng sự. Cũng giống như các tác phẩm truyền hình, một chương trình truyền
21


hình dù có thời lượng phát sóng ra sao, phạm vi đề tài thế nào… cũng là sản
phẩm lao động của một tập thể.
Như vậy, có thể hiểu “chương trình truyền hình” là một sản phẩm báo
chí có nội dung và hình thức ổn định, mang đặc trưng của truyền hình
(chuyển tải thông tin bằng hình ảnh động và âm thanh). Hầu hết các chương
trình truyền hình đều có tính ổn định về nội dung, hình thức và được phát
sóng theo định kì.
1.2.2.Quảng bá thương hiệu chương trình truyền hình
Cho đến nay, thuật ngữ “quảng bá” được nhắc đến nhiều trên các
phương tiện truyền thông đại chúng, các tài liệu nghiên cứu gắn liền với
quảng bá hình ảnh, quảng bá thương hiệu; song vẫn chưa có một định nghĩa
cụ thể, thống nhất về quảng bá. “Quảng bá” là một từ Hán Việt được ghép từ
chữ “quảng” (có nghĩa là rộng lớn) và chữ “bá” (có nghĩa là làm lan rộng). Vì
vậy, có thể hiểu quảng bá là tuyên truyền rộng rãi.
Theo Từ điển Tiếng Việt thì “Quảng bá là phổ biến rộng rãi bằng các
phương tiện thông tin”. Quảng bá cũng được hiểu là “những hoạt động nhằm
tạo ra hoặc thúc đẩy lợi ích, lợi nhuận cho một cá nhân, một sản phẩm, một tổ
chức.”
Một cách khái quát, quảng bá có thể hiểu là hoạt động truyền bá rộng
rãi hình ảnh của một cá nhân, một tổ chức, một quốc gia tới một đối tượng
nào đó nhằm đạt được một mục đích cụ thể mà chủ thể quảng bá mong muốn.
Có nhiều người nhầm lẫn giữa “quảng bá” và “quảng cáo”. Quảng cáo
là hình thức tuyên truyền được trả phí để thực hiện việc giới thiệu thông tin về


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status