Nghiên cứu xây dựng và quảng bá thương hiệu du lịch Việt Nam đối với thị trường khách du lịch Nhật Bản đến năm 2020 - Pdf 30

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ BÍCH HẠNH
NGHIÊN CỨU
XÂY DỰNG VÀ QUẢNG BÁ THƢƠNG HIỆU DU LỊCH
VIỆT NAM ĐỐI VỚI THỊ TRƢỜNG KHÁCH DU LỊCH
NHẬT BẢN ĐẾN NĂM 2020 LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH

Hà Nội, 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
5. Phương pháp nghiên cứu 5
6. Cấu trúc của đề tài: Gồm 3 chương 5
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG VÀ QUẢNG BÁ THƢƠNG
HIỆU ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH 6
1.1. Thương hiệu 6
1.1.1. Khái niệm về thương hiệu 6
1.1.2. Thương hiệu và nhãn hiệu 8
1.1.3. Vai trò của thương hiệu 9
1.1.4. Giá trị của thương hiệu 12
1.1.5. Các bước cơ bản của xây dựng và phát triển thương hiệu 14
1.2. Thương hiệu điểm đến du lịch 15
1.2.1. Điểm đến du lịch 15
1.2.2. Thương hiệu điểm đến du lịch 18
1.2.3 . Xây dựng thương hiệu điểm đến du lịch 20
1.2.4. Quảng bá thương hiệu điểm đến du lịch 25
1.3. Kinh nghiệm của một số nước trong việc xây dựng thương hiệu điểm đến du
lịch 26
1.3.2. Kinh nghiệm xây dựng thương hiệu điểm đến đối với Việt Nam 35
Tiểu kết chương 1 36
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VÀ QUẢNG BÁ THƢƠNG HIỆU DU
LỊCH VIỆT NAM ĐỐI VỚI THỊ TRƢỜNG KHÁCH DU LỊCH NHẬT BẢN 37
2.1. Tổng quan về du lịch Việt Nam 37
2.1.1.Vị trí điạ lý 37

2.1.2. Tài nguyên du lịch Việt Nam 37
2.1.3. Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch 40
2.2. Tổng quan về thị trường khách du lịch Nhật Bản 42
2.2.1. Vài nét khái quát về đất nước Nhật Bản 42

du lịch Nhật Bản đến năm 2020 77
3.2. Kiến nghị 83
3.2.1. Đối với Bộ Văn hóa, Tthể thao và Du lịch Việt Nam 83
3.2.2. Đối với Tổng cục Du lịch Việt Nam 84
3.2.3. Đối với các công ty lữ hành quốc tế tại Việt Nam 84
Tiểu kết chương 3 84
KẾT LUẬN 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC 89
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

1. JNTO: Cơ quan Du lịch quốc gia Nhật Bản
2. JATA: Hiệp hội doanh nghiệp lữ hành Nhật Bản DANH MỤC BẢNG BIỂU
Danh mục bảng
Bảng 1.1: Dạng thức của thương hiệu thông qua sản phẩm 7

pháp lý về du lịch ngày càng được cải thiện nhưng ngành du lịch Việt Nam
vẫn đang tiềm ẩn nguy cơ phát triển không bền vững, tốc độ phát triển chậm,
có khả năng giảm dần, sản phẩm du lịch chưa phong phú, hoạt động tuyên
truyền và quảng bá còn thiếu, yếu, chưa tập trung và dàn trải…
Vấn đề suy thoái kinh tế thế giới đang tác động đến cầu du lịch và có tác
động không nhỏ đến việc tăng trưởng lượng khách quốc tế vào Việt Nam nói
riêng và các nước trên thế giới nói chung. Chính vì vậy, nhiều quốc gia hiện nay
đang tích cực xây dựng và quảng bá thương hiệu du lịch quốc gia, coi du lịch
như một trong những trụ cột chính của đất nước.
Trong bối cảnh nêu trên, Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm
2020, tầm nhìn 2030 đã đặt ra yêu cầu phải phát triển du lịch có trọng tâm, trọng
điểm, có hiệu quả, có thương hiệu và khả năng cạnh tranh. Do đó, có thể nói việc
xây dựng và quảng bá thương hiệu du lịch Việt Nam là một nhiệm vụ mang tính
chiến lược trong giai đoạn hiện nay và trong thời gian tới. Điều đó góp phần lớn
trong việc ổn định nguồn khách quốc tế Việt Nam, tăng doanh thu cho đất nước.
Thị trường khách du lịch Nhật Bản được coi là một trong những thị
trường khách lớn nhất trên thế giới với lượng khách đi du lịch nước ngoài hàng
năm rất lớn. Những năm gần đây, có năm lên đến 18 triệu lượt khách một năm
(năm 2011 đạt trên 17 triệu lượt khách). Theo kết quả được tiến hành khảo sát
với 15000 chủ khách sạn trên khắp Châu Âu và được đăng trên trang web du lịch

2
nổi tiếng Expedia thì khách du lịch Nhật Bản được xem là „những khách du lịch
tốt nhất thế giới’ và họ được đánh giá cao vì sự lịch sự, gọn gàng và khả năng
chi tiêu cao.
Đối với du lịch Việt Nam, trong những năm gần đây, lượng khách du
lịch Nhật Bản đến Việt Nam ngày càng tăng và trở thành một trong những
nước có lượng khách inbound vào Việt Nam lớn nhất, với 481.519 lượt
khách vào năm 2011, chỉ đứng sau Trung Quốc, và Hàn Quốc. Tuy chưa có
số liệu thống kê chính thức của các cơ quan quản lý nhà nước công bố về thu

* Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu xây dựng và quảng bá thương hiệu du lịch Việt Nam đối với
thị trường khách du lịch Nhật Bản đến năm 2020
* Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Phạm vi quốc gia.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2020.
- Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu phần nội hàm của thương hiệu
và quảng bá thương hiệu đối với thị trường khách Nhật Bản đến năm 2020.
4. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề thương hiệu có ý nghĩa quan trọng đối với du lịch mỗi quốc gia
nói chung và Việt Nam nói riêng. Để khẳng định vị trí thương hiệu cần có sự nỗ
lực rất nhiều từ tất cả chủ thể tham gia trong hoạt động du lịch của mỗi một quốc
gia. Một trong những vấn đề quan trọng của thương hiệu du lịch Việt Nam đó là
xây dựng và quảng bá thương hiệu du lịch Việt Nam đối với thị trường khách
tiềm năngLiên quan đến đề tài có những tài liệu sau:
Về mặt lý luận, vấn đề xây dựng và quảng bá thương hiệu du lịch Việt
Nam dựa trên lý luận về thương hiệu quốc gia hay điểm đến du lịch. Theo
Viện nghiên cứu du lịch bang Michigan- Hoa Kỳ đề cập: “Một thương hiệu
điểm đến là làm thế nào để du khách cảm nhận được điểm đến đó trong tư duy
của chính họ”, hay nói một cách khác “một thương hiệu điểm đến được ví như
chiếc chìa khóa nhằm cung cấp các thông tin chủ yếu cho biết nơi đó, địa

4
điểm đó như thế nào, có thể cung cấp được gì và cho du khách những trải
nghiệm gì (Branding & Market Development). Ngoài ra lý luận về thương
hiệu điểm đến du lịch bao gồm khái niệm, quy trình xây dựng và phát triển
thương hiệu điểm đến du lịch còn được chỉ rõ trong một số bài báo, tạp chí du
lịch của ngành.
Trước vấn đề cấp bách cần có chiến lược cụ thể cho sự phát triển thương
hiệu của du lịch Việt Nam, hội thảo xây dựng thương hiệu điểm đến diễn ra vào

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Điều tra khách du lịch Nhật Bản
(600 phiếu)
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn chuyên gia du lịch.
6. Cấu trúc của đề tài: Gồm 3 chƣơng
Chương 1. Cơ sở lý luận về xây dựng và quảng bá thương hiệu điểm đến du lịch
Chương 2. Thực trạng xây dựng và quảng bá thương hiệu du lịch Việt Nam đối
với thị trường khách du lịch Nhật Bản
Chương 3.Giải pháp xây dựng và quảng bá thương hiệu du lịch Việt Nam đối với
thị trường khách du lịch Nhật Bản đến năm 2020.
6
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG VÀ QUẢNG BÁ
THƢƠNG HIỆU ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH
1.1. Thƣơng hiệu
1.1.1. Khái niệm về thương hiệu
Có nhiều quan điểm về thương hiệu. Có thể chia ra thành hai quan điểm
chính, đó là quan điểm truyền thống và quan điểm tổng hợp.
Đối với quan điểm truyền thống, theo tác giả Bennett PD – Hiệp Hội
Marketing Hoa Kỳ thì cho rằng: “Thương hiệu là một cái tên, biểu tượng, ký
hiệu, kiểu dáng hay một sự phối hợp của các yếu tố trên nhằm mục đích để nhận
dạng sản phẩm hay dịch vụ của một nhà sản xuất và phân biệt với các thương
hiệu của đối thủ cạnh tranh” [1, tr17]. Quan điểm này tồn tại trong một thời gian
dài, đến cuối thế kỷ 20 quan điểm về thương hiệu đã có nhiều thay đổi, các nhà
nghiên cứu trong lĩnh vực này cho rằng quan điểm này không thể giải thích được
vai trò của thương hiệu trong nền kinh tế toàn cầu và cạnh tranh gay gắt.
Do đó, quan điểm thứ hai ra đời – quan điểm này còn gọi là quan điểm tổng
hợp về thương hiệu. Quan điểm cho rằng: “Thương hiệu không chỉ là một cái tên
hay biểu tượng mà nó phức tạp hơn nhiều”. Nó là tập hợp các thuộc tính cung cấp

trình phát triển này có thể được mô tả vắn tắt như sau:
Bảng 1.1: Dạng thức của thƣơng hiệu thông qua sản phẩm
Sản phẩm đơn lẻ,
tự sản xuất, tự tiêu dùng.
Không đảm bảo về chất
lượng.

Sản phẩm
(Product)

Hàng hóa
(Commodity)

Thương phẩm, sản
xuất để kinh doanh, bảo
đảm về chất lượng. Lý
tính
Thƣơng hiệu
(Brand)

Thương phẩm
hoàn chỉnh. Sản phẩm trị
thức và thẩm mỹ. Bảo
đảm chất lượng cả về lý

(tên gọi, mùi vị, biểu tượng, âm thanh ) dùng để chỉ định sản phẩm, dịch vụ của
mình hoặc chính mình trên thị trường. Nó có thể là cả những yếu tố không được
pháp luật bảo hộ và những yếu tố được pháp luật bảo hộ nhưng không dưới danh
nghĩa nhãn hiệu như tên thương mại, chỉ dẫn địa lý
Nhãn hiệu (Trademark) là thuật ngữ pháp lý dùng để chỉ các yếu tố bên
trong hoặc bản thân thương hiệu được pháp luật thừa nhận và có thể bảo hộ
độc quyền.
Để rõ hơn về vấn đề này, tác giả tóm tắt ba điểm khác biệt chủ yếu giữa
nhãn hiệu và thương hiệu:

9
Trademark
(nhãn hiệu đã đƣợc kiểm chứng)
Brand
(Thƣơng hiệu)
Hiện diện trên văn bản, tài liệu in ấn
Hiện diện trong tâm trí khách hàng
Là phần xác
Là phần hồn
Đăng ký là có được
Khách hàng công nhận, quyết định
Như vậy trong thương hiệu sẽ bao gồm các thành tố chính: Sản phẩm (có
sự định vị rõ ràng với những giá trị độc đáo/đặc thù và chất lượng), nhãn hiệu -
biểu tượng - khẩu hiệu của sản phẩm, sự nhận biết và tín nhiệm của khách hàng.
1.1.3. Vai trò của thương hiệu
Nếu nhãn hiệu giúp phân biệt sản phẩm này với sản phẩm kia thì thương
hiệu giúp phân biệt nhãn hiệu nào là nhãn hiệu tốt, uy tín.
Nhiều cuộc nghiên cứu chứng minh rằng người tiêu dùng thiên vị hẳn về
phía sản phẩm có nhãn hiệu mà họ đã từng biết, từng nghe nói đến nhiều hơn.
Một cuộc khảo sát gần đây trong lĩnh vực tiêu dùng hàng hóa dịch vụ cho thấy

1.1.3.1. Vai trò của thương hiệu đối với doanh nghiệp
Có thể nói, thương hiệu là tất cả sự cảm nhận của người tiêu dùng hay
khách hàng mục tiêu về sản phẩm hay doanh nghiệp.
Đối với khách hàng, thương hiệu đại diện cho một sự cuốn hút, tổng thể
giá trị hay những thuộc tính giúp cho người tiêu dùng nhận thức và phân biệt đối
với sản phẩm khác. Như vậy, một thương hiệu sẽ lớn hơn một sản phẩm rất
nhiều. Sản phẩm chỉ có thể trở thành thương hiệu khi nó là biểu tượng của các
yếu tố hữu hình, vô hình và tâm lý của sản phẩm và doanh nghiệp. Nói cách
khác, thương hiệu chỉ tồn tại khi và chỉ khi được người tiêu dùng thừa nhận.
Theo giáo sư David A.Aaker, giá trị thương hiệu gồm có bốn yếu tố cấu
thành: “Sự trung thành của khách hàng đối với thương hiệu, việc khách hàng
nhận ra thương hiệu một cách mau chóng, chất lượng sản phẩm hay dịch vụ
cung cấp trong nhận thức của khách hàng, những liên tưởng của khách hàng
khi nghe hoặc nhìn thấy thương hiệu”
6
. Nói cách khác, thương hiệu chính là
hình thức bên ngoài, tạo ra ấn tượng và thể hiện cái bên trong cho sản phẩm
hoặc doanh nghiệp.

11
Như vậy, có thể tóm gọn lại thương hiệu có vai trò rất đặc biệt đối với
doanh nghiệp như sau:
Thứ nhất, xây dựng một thương hiệu mạnh mang đến cho doanh nghiệp
lợi thế rất to lớn, không chỉ vì nó tạo ra hình ảnh của sản phẩm và doanh nghiệp
mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo ra uy tín cho sản phẩm, thúc đẩy
việc tiêu thụ hàng hóa và là vũ khí sắc bén trong cạnh tranh.
Thứ hai, Thương hiệu mạnh có thể làm tăng thêm giá trị của sản phẩm,
giảm được chi phí, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Có thể nói đây là một công
cụ quản lý nhằm tạo ra những giá trị gia tăng của sản phẩm.
Thứ ba, với một thương hiệu mạnh, doanh nghiệp sẽ có được thế đứng

tạo cho họ sự an tâm về thông tin xuất xứ, tin tưởng vào chất lượng sản phẩm,
tiết kiệm thời gian tìm kiếm thông tin, giảm rủi ro. Vì vậy, nếu muốn chiếm lĩnh
thị trường và phát triển sản xuất – kinh doanh, doanh nghiệp cần đầu tư bài bản
cho việc xây dựng và phát triển thương hiệu.
- Thương hiệu còn có vai trò khẳng định tính cách, cá tính, hình ảnh riêng
của từng người tiêu dùng trong con mắt người khác, nó tạo cho người sử dụng
một phong cách riêng. Thương hiệu phần nào phản ánh sở thích và cả tính cách,
hoàn cảnh của người sử dụng sản phẩm đó trên thị trường.
- Thương hiệu còn có khả năng ảnh hưởng đến người tiêu dùng về khía
cạnh đạo đức và ý thức trách nhiệm về một số mặt trong cuộc sống xã
hội Thông qua việc quảng cáo hấp dẫn và có văn hóa, nó có tác dụng không
nhỏ trong việc nâng cao ý thức, mở mang tầm nhìn cho người tiêu dùng về
những tác động sinh thái học, việc làm với tư cách công dân. Qua đó hướng cho
người tiêu dùng đến cái tốt, cái đẹp và tính tích cực cũng như sáng tạo trong
công việc và đời sống.
1.1.4. Giá trị của thương hiệu
Giá trị thương hiệu được hiểu là những giá trị đặc thù mà thương hiệu
mang lại cho những đối tượng liên quan (bản thân doanh nghiệp, khách hàng, cổ
đông, nhân viên ). Khi nói về giá trị thương hiệu thì chúng ta lại quan tâm đến
hai khía cạnh.

13
Thứ nhất, giá trị cảm nhận là những cảm xúc, tình cảm của người tiêu
dùng đối với thương hiệu.
Thứ hai, giá trị tài chính là hành vi của người tiêu dùng – họ chọn dùng
thương hiệu của tổ chức hay là những đối thủ cạnh tranh.
David Aaker (1991) đã đưa ra bốn thành phần của giá trị thương hiệu gồm:
- Lòng trung thành thương hiệu (brand loyalty).
- Nhận biết thương hiệu (brand awateness).
- Chất lượng cảm nhận (perceied quality).

- Giá trị cảm nhận (Perceived value).
- Ấn tượng về thương hiệu (brand image).
- Lòng tin về thương hiệu (trustworthiness).
- Cảm tưởng của khách hàng về thương hiệu (Commitment).
Tại Việt Nam, Nguyễn Đình Thọ (2002), Dương Hữu Hạnh (2005), Lý
Quý Trung (2006) đều đã đưa ra ba thành phần của giá trị thương hiệu gồm:
- Nhận biết thương hiệu.
- Chất lượng cảm nhận.
- Lòng đam mê thương hiệu bao gồm thích thú, có xu hướng tiêu dùng và
trung thành với thương hiệu.
Các quan điểm về giá trị thương hiệu trên đây có những điểm tương đồng
nhưng cũng có sự khác biệt, vì giá trị thương hiệu là một khái niệm đa thành
phần. Do đó, cho thấy rằng giá trị thương hiệu là một khái niệm phức tạp và hiện
nay chưa có sự thống nhất cao về các thành phần của giá trị thương hiệu. Sự
khác biệt này còn thể hiện trong thị trường sản phẩm hữu hình và thị trường sản
phẩm dịch vụ.
1.1.5. Các bước cơ bản của xây dựng và phát triển thương hiệu
Các bước cơ bản của xây dựng và phát triển thương hiệu của một doanh
nghiệp/ một sản phẩm gồm 3 bước cơ bản sau:
Bước 1 - Tạo dựng thương hiệu: Định vị giá trị cốt lõi (sự khác biệt) của
doanh nghiệp/sản phẩm.

15
Bước 2 - Phát triển thương hiệu: Tổ chức các chiến lược xúc tiến và
quảng bá, tiếp thị thường xuyên đối với hình ảnh, giá trị cốt lõi của doanh
nghiệp/sản phẩm đã được tạo dựng.
Bước 3 - Quản trị thương hiệu: Hoạt động củng cố, đảm bảo hình ảnh, giá
trị đã được tạo dựng về doanh nghiệp/sản phẩm không thay đổi, cân đo “sức
khỏe” của thương hiệu, và có những điểu chỉnh phù hợp để giữ cho thương hiệu
bền vững.

+ Điểm đến trung gian (intermediate destination) hoặc nơi ghé thăm
(enroute) là địa điểm mà du khách dành thời gian ngắn hơn để nghỉ ngơi qua
đêm hoặc viếng thăm một điểm hấp dẫn.
Một điểm đến du lịch có thể được định nghĩa, hay được hiểu theo nhiều
cách khác nhau. Khái niệm tổng quát đầu tiên về một điểm đến du lịch xem nó
như một không gian vật chất mà trong đó diễn ra các hoạt động về du lịch.
Từ quan điểm này, khách du lịch là người tích cực tham gia vào việc xây
dựng các không gian du lịch, tích cực hoạt động trong không gian du lịch, tác
động đến không gian du lịch và đóng góp để không gian du lịch được duy trì.
Một điểm đến du lịch có thể được xem là một hỗn hợp của sản phẩm, tiện
nghi và dịch vụ tạo nên sự trải nghiệm du lịch. Do đó, điểm đến du lịch chỉ là
một phần của sản phẩm du lịch và bản thân nó không được xem là một sản
phẩm. Đơn giản, nó chỉ một khu vực địa lý trong đó các sản phẩm du lịch được
mua và bán.
Theo tác giả Bodlenderetal đưa ra một định nghĩa về điểm đến du lịch là
tập hợp các yếu tố vật chất và dịch vụ cùng với sự kết hợp các biểu tượng nhằm
đáp ứng trọn vẹn nhu cầu của khách hàng. Các điểm đến du lịch vừa là các
không gian giải trí dành cho khách, không gian ở và làm việc của các cơ sở cung
ứng dịch vụ.
Các cách tiếp cận khác nhau để hiểu khái niệm điểm đến du lịch được tóm
tắt tại định nghĩa của UNWTO (2004): “Một điểm đến du lịch là một không gian
vật chất mà du khách ở lại ít nhất là một đêm. Nó bao gồm các sản phẩm du lịch
như các dịch vụ hỗ trợ, các điểm đến và tuyến điểm du lịch trong thời gian một
ngày. Nó có các giới hạn vật chất và quản lý giới hạn hình ảnh, sự quản lý xác
định tính cạnh tranh thị trường. Các điểm đến du lịch địa phương thường bao

17
gồm nhiều bên hữu quan như một cộng đồng tổ chức và có thể kết nối lại với
nhau để tạo thành một điểm đến du lịch lớn hơn”
Như vậy, có thể hiểu rằng điểm đến du lịch chính là sự kết hợp các yếu tố

cung cấp một số tiện nghi nhất định (giải trí, thể thao )
e. Các dịch vụ bổ sung
Các hoạt động bổ sung được tạo ra để giúp du khách sẽ có “một cái gì đó để
làm khi chẳng thể làm cái gì”, dịch vụ bổ sung là một trong những cách làm thỏa
mãn tối đa nhu cầu của khách du lịch và làm tăng tính hấp dẫn của điểm du lịch.
Các điểm hấp dẫn, giao thông đi lại, nơi ăn nghỉ, tiện nghi và dịch vụ hỗ
trợ, các hoạt động bổ sung là những tiêu chuẩn cho sự tồn tại của một nơi đến du
lịch. Tùy thuộc vào mỗi cá nhân, các yếu tố này có thể có rất nhiều cách kết hợp
khác nhau ở các mức độ khác nhau. Sự quyến rũ của nơi đến du lịch mang lại
tính chất chủ quan của người tham quan. Những gì khiến du khách này thích thú
có thể không là mối quan tâm của du khách khác. Tuy nhiên, tất cả các nơi đến
du lịch nói chung đều cần phải có năm yếu tố cấu thành nói trên.
1.2.2. Thương hiệu điểm đến du lịch
Thương hiệu đã trở thành một trong những tài sản có giá trị nhất của một
quốc gia, một vùng du lịch với tư cách là điểm đến du lịch.
Theo Viện nghiên cứu của du lịch bang Michigan – Hoa kỳ đề cập: “Một
thương hiệu điểm đến là làm thế nào để du khách cảm nhận được điểm đến đó
trong tư duy của chính họ”.
Trên thực tế có nhiều cách giải thích khác nhau về thương hiệu điểm đến,
nhưng một trong những định nghĩa phổ quát thường được sử dụng đó là
“Thương hiệu điểm đến là tập hợp những cảm nhận của du khách dựa trên sự
trải nghiệm thực tế, nghe kể lại, hoặc tiềm thức của họ đối với những giá trị đích
thực của một điểm đến du lịch. Nó tác động tới thái độ và cảm xúc của họ đối
với điểm đến. Một biểu trưng, một sản phẩm, một khẩu hiệu hoặc một chiến dịch
tiếp thị truyền thông không được xem là một thương hiệu” [25]
Cùng với định nghĩa như trên, thương hiệu điểm đến gồm các thuộc tính
cơ bản sau:

Trích đoạn Xây dựng thương hiệu điểm đến du lịch Quảng bá thương hiệu điểm đến du lịch Kinh nghiệm xây dựng thương hiệu điểm đến đối với Việt Nam Tài nguyên du lịch Việt Nam Giải pháp quảng bá thương hiệu du lịch Việt Nam đối với thị trường khách
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status