XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HÓA HỌC PHẦN LƯU HUỲNH VÀ NI TƠ ĐỂ CỦNG CỐ ,PHÁT TRIỂN THỨC VÀ RÈN LUYỆN KỶ NĂNG CHO HỌC SINH THPT - Pdf 50

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

PHẠM THỊ HƯƠNG

XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HÓA HỌC
PHẦN LƯU HUỲNH VÀ NI TƠ ĐỂ CỦNG CỐ ,
PHÁT TRIỂN THỨC VÀ RÈN LUYỆN KỶ NĂNG
CHO HỌC SINH THPT

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

VINH – 2012


2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

PHẠM THỊ HƯƠNG

XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HÓA HỌC
PHẦN LƯU HUỲNH VÀ NI TƠ ĐỂ CỦNG CỐ ,
PHÁT TRIỂN THỨC VÀ RÈN LUYỆN KỶ NĂNG
CHO HỌC SINH THPT

Chuyên ngành: Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn hóa học
Mã số: 60.14.10

Phạm Thị Hương


4

BẢNG KÍ HIỆU VIẾT TẮT

Kí hiệu viết tắt
CTPT
CTCT
GV
HS
ĐC
đktc
dd
THPT
PTN
TN
PTPƯ

Ôxh
CT e

Nghĩa
Công thức phân tử
Công thức cấu tạo
Giáo viên
Học sinh
Đối chứng
điều kiện tiêu chuẩn

sinh qua bộ môn hóa học................................................................................................7
1.1.2.1. Năng lực nhận thức............................................................................................7
1.1.2.2. Những nhiệm vụ phát triển năng lực nhận thức của học sinh...........................8
1.2. BÀI TẬP HÓA HỌC VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NHẬN THỨC CỦA
HỌC SINH................................................................................................................... 10
1.2.1. Khái niệm về bài tập hóa học..............................................................................10
1.2.2. Ý nghĩa, tác dụng của bài tập hóa học ở trường phổ thông................................11
1.2.2.1. Ý nghĩa trí dục..................................................................................................11
1.2.2.2. Ý nghĩa phát triển............................................................................................12
1.2.2.3. Ý nghĩa giáo dục...............................................................................................12


6

1.2.2.4. Tác dụng giáo dục kĩ thuật tổng hợp….....................................................12
1.2.2.5. Ý nghĩa đánh giá phân loại học sinh................................................................12
1.2.3. Phân loại bài tập hóa học..................................................................................13
1.3. SỬ DỤNG BÀI TẬP NHƯ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC ĐỂ NÂNG CAO HIỆU
QUẢ HỌC TẬP...........................................................................................................15
1.3.1. Sử dụng bài tập hóa học để kiểm tra kiến thức...................................................15
1.3.2. Sử dụng bài tập hóa học để hình thành các khái niệm hóa học cơ bản, cung cấp
và truyền thụ kiến thức................................................................................................16
1.3.3. Sử dụng bài tập hóa học để phát triển kiến thức lý thuyết khi nghiên cứu tài liệu
mới............................................................................................................................... 17
1.3.4. Sử dụng bài tập hóa học để hình thành và phát triển kĩ năng............................18
1.3.4. 1. Khái niệm về kỹ năng....................................................................................19
.1.3.4.2. Kỹ năng giải bài tập......................................................................................19
1.3.4.3. Rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho học sinh trong quá trình dạy học hóa
học................................................................................................................................ 20
1.4. ĐIỀU TRA THỰC TRẠNG SỬ DỤNG BÀI TẬP TRONG GIẢNG DẠY HÓA

HỌC............................................................................................................................. 60
2.4. HỆ THỐNG BÀI TẬP ĐỂ CŨNG CỐ , PHÁT TRIỂN KIẾN THỨC VÀ RÈN
LUYỆN KỶ NĂNG CHO HS PHẦN NI TƠ VỀ HỢP CHẤT CỦA NI TƠ...............72
2.4.1.HỆ THỐNG BÀI TẬP CŨNG CỐ VÀ PHÁT TRIỂN KIÊN THỨC.................72
2.4.2 : HỆ THỐNG BÀI TẬP HOÁ HỌC RÈN LUYỆN KỶ NĂNG GIẢI TOÁN
HOÁ HỌC CHO HỌC SINH....................................................................................107
2.5 . ĐỀ XUẤT QUI TRÌNH SỬ DỤNG BÀI TẬP HÓA HỌC CỦNG CỐ , PHÁT
TRIỂN KIẾN THỨC VÀ RÈN LUYỆN KỶ NĂNG TRONG QUÁ TRÌNH GIẢNG
DẠY........................................................................................................................... 120
2.5.1. ĐỐI VỚI BÀI TẬP HÓA HỌC CỦNG CỐ VÀ PHÁT TRIỂN KIẾN THỨC...120
2.5.1.1. Sử dụng để tổ chức hoạt động dạy-học ở trên lớp..........................................120
2.5.1.1.1Quy trình dạy học sinh bằng cách sử dụng bài tập củng cố và phát triển kiến
thức trong các bài nghiên cứu tài liệu mới.................................................................121
2.5.1.1.2. Quy trình dạy học sinh bằng cách sử dụng bài tập củng cố và phát triển kiến
thức trong các bài luyện tập, ôn tập...........................................................................122


8

2.5.1.1.3. Quy trình dạy học sinh bằng cách sử dụng bài tập củng cố và phát triển
kiến thức trong các bài thực hành...........................................................................122
2.5.1.2. Sử dụng để tổ chức hoạt động tự học ở nhà cho học sinh.........................123
2.5.2 .ĐỐI VỚI BÀI TẬP RÈN LUYỆN KỶ NĂNG GIẢI BÀI TẬP HOÁ HỌC.....124
2.5.2.1. Quy trình sử dụng trong khi dạy các bài ôn tập ,luyện tập.........................124
2.5.2.2. Quy trình sử dụng trong khi dạy bài mới....................................................124
2.5.2.3. Sử dụng hệ thống bài tập rèn kỹ năng giải bài tập giúp học sinh tự học ở
nhà............................................................................................................................. 124
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2.............................................................................................125
CHƯƠNG 3...............................................................................................................127
THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM...................................................................................127

học sinh , phù hợp với đặc điểm từng lớp học , môn học , bồi dưỡng phương pháp tự
học , rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn , tác động đến tình cảm, đem
lại niềm vui , hứng thú học tập cho học sinh “.
Xuất phát từ tinh thần đó , hiện nay ở các nhà trường nói chung , trường trung học
phổ thông nói riêng đa số các giáo viên đã và đang thực hiện đổi mới phương pháp dạy
học theo định hướng trên . Bản thân cá nhân tôi cũng không nằm ngoài số các giáo
viên đó. Bởi , tôi cũng là một giáo viên trung học phổ thông . Qua nhiều năm công tác ,
tôi nhận thấy rằng trong quá trình học tập , học sinh tỏ ra rất hứng thú và nhớ rất lâu
những kiến thức khi chính các em là người khám phá ra . Còn nếu như bắt các em phải
ghi nhớ kiến thức một cách thụ động thì gây nên tâm lý ỷ lại , chán nản , lười học ...
Chính vì vậy việc phát huy nội lực của người học là nhiệm vụ rất quan trọng của người
giáo viên trong thời đại ngày nay .
Trong bộ môn hoá học có rất nhiều vấn đề cần khai thác để làm tích cực hoá hoạt
động nhận thức của học sinh . Trong đó có sử dụng các dạng bài tập theo hướng tích
cực để giúp học sinh củng cố, tìm tòi và phát triển kiến thức cho riêng mình đang là


2

một vấn mới được nhiều giáo viên quan tâm và dễ áp dụng trên lớp ở các trường trung
học phổ thông. Đây là dạng bài tập đòi hỏi học sinh không chỉ tái hiện lại kiến thức mà
còn phải tìm tòi, phát hiện kiến thức mới, từ đó phát triển kiến thức và tư duy. Chúng ta
có thể sử dụng một hệ thống bài tập nhận thức môn hóa học cho các khối lớp để hỗ trợ
quá trình tổ chức hoạt động dạy học theo xu hướng đổi mới hiện nay.
Mặt khác , xét về hoá nguyên tố phần phi kim thì Lưu huỳnh và Ni tơ là những
nguyên tố quan trọng , cố nhiều hợp chất và phức tạp hơn là sự biến đổi qua lại giữa
đơn chất và hợp chất chất của chúng . Quả thật chúng là những nguyên tố “ rắc rối “
trong phạm vi chương trình hoá học phổ thông.
Từ những lập luận trên, chúng tôi đã chọn đề tài: ” Xây dựng hệ thống bài tập
hóa học phần Lưu huỳnh và Ni tơ để củng cố, phát triển kiến thức và rèn luyện kỷ

Tuyển chọn, thiết kế các bài tập hóa học và nghiên cứu cách sử dụng các bài tập đó
theo hướng tích cực nhằm củng cố , phát triển thêm kiến thức và rèn luyện kỷ năng cho
học sinh, nâng cao hiệu quả dạy học hóa học ở trường trung học phổ thông hiện nay.
4. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của đề tài: Lí luận về nhận thức, hoạt động nhận
thức của học sinh trong quá trình dạy học hóa học nói chung và quá trình giải bài tập
nói riêng, từ đó làm cơ sở để xây dựng tiến trình giải bài tập hóa học theo hướng tích
cực hóa nhằm củng cố , phát triển kiến thức và rèn luyện kỷ năng cho học sinh.
- Xây dựng cơ sở lí thuyết theo hướng củng cố, phát triển kiến thức và rèn
luyện kỷ năng cho bài tập hóa học.
- Xây dựng hệ thống bài tập hóa học theo hướng củng cố, hoàn thiện ,phát
triển nhận thức và rèn luyện kỷ năng.
- Thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá chất lượng của hệ thống bài tập hóa
học đã xây dựng và khả năng áp dụng hệ thống bài tập đó vào quá trình tổ chức hoạt
động dạy học hóa học ở lớp 10 ( phần Lưu huỳnh ) và ở lớp 11( phần Ni tơ ) trung học
phổ thông .
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1. Các phương pháp phân tích và tổng hợp lí thuyết:


4

-Nghiên cứu các văn bản và chỉ thị của Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo Dục
và Đào tạo có liên quan đến đề tài.
- Nghiên cứu tài liệu liên quan về lí luận dạy học, tâm lí dạy học, giáo
dục học và sách giáo khoa, tài liệu tham khảo phục vụ đề tài. Đặc biệt chú trọng đến
cơ sở lí luận của bài tập hóa học và ý nghĩa, tác dụng của loại bài tập hóa học củng cố ,
phát triển kiến thức và rèn luyện kỷ năng đối với hoạt động dạy học .
5.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Điều tra cơ bản :

8. CÁI MỚI CỦA ĐỀ TÀI
8.1. Về lý luận:
Góp phần tiếp tục hoàn thiện lý luận về tác dụng của bài tập hóa học trong việc
củng cố , phát triển kiến thức rèn luyện kỷ năng cho học sinh trong dạy học hóa học.
8.2. Về thực tiễn: Xây dựng hệ thống các bài tập củng cố , phát triển kiến thức
rèn luyện kỷ năng phần Lưu huỳnh ( lớp 10 ) , phần Ni tơ ( lớp 11 ) chương trình hóa
học trung học phổ thông cho học sinh. Trong đó có một số các bài tập theo hướng phát
triển, không chỉ giúp các em tái hiện lại kiến thức mà còn giúp các em tìm tòi, tự tìm ra
kiến thức trong quá trình tự học. Ngoài hệ thống bài tập rèn luyện kỷ năng giải bài tập
hoá học , một số phần chúng tôi cũng xây dựng thêm một số bài tập rèn luyện kỷ năng
liên hệ thực tế để phát triển kiến thức thực tiễn cho học sinh.
9. CẤU TRÚC CỦA NỘI DUNG LUẬN VĂN
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
Chương 1 : Cơ sở lý luận về phát triển năng lực nhận thức và bài tập hoá học
Chương 2 : Xây dựng hệ thống bài tập hoá học phần Lưu huỳnh và Ni tơ để
cũng cố phát triển kiến thức và rèn luyện kỷ năng cho học sinh trung học phổ thông
Chương 3 : Thực nghiệm sư phạm
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


6

PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỂN
1.1. VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NHẬN THỨC[25],[28],[29],[34],[36].
1.1.1. Vấn đề cơ bản về nhận thức.
1.1.1.1. Con đường biện chứng của quá trình nhận thức

tiêu chuẩn để xác định chân lý. Tất cả những hiểu biết của con người được khảo
nghiệm trở lại trong thực tiễn mới trở nên sâu sắc và vững chãi được. Thông qua hoạt
động thực tiễn thì trình độ nhận thức của con người ngày càng phong phú và trở thành
hệ thống lý luận.
1.1.2. Năng lực nhận thức và những nhiệm vụ phát triển năng lực nhận thức của học
sinh qua bộ môn hóa học
1.1.2.1. Năng lực nhận thức
Năng lực nhận thức được đánh giá qua việc thực hiện các thao tác tư duy : phân
tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá. Được chia ra thành bốn trình độ nắm vững kiến
thức, kĩ năng và bốn cấp độ năng lực tư duy.
Bốn trình độ nắm vững kiến thức kĩ năng : Bậc một là trình độ tìm hiểu hay ghi
nhớ sự kiện, học sinh nhận biết xác định, phân biệt những kiến thức cần tìm. Bậc hai là
trình độ tái hiện tức là tái hiện lại thông báo theo trí nhớ. Bậc ba là trình độ vận dụng
tức là vận dụng kiến thức vào thực tiễn trong các tình huống quen thuộc. Bậc bốn là
trình độ biến hoá tức là biết vận dụng kiến thức vào thực tiễn trong những đối tượng
quen thuộc đã bị biến đổi hoặc chưa quen biết.
Bốn cấp độ của năng lực tư duy : Tư duy cụ thể là suy luận từ thực thể cụ thể
này đến thực thể cụ thể khác, tư duy logic là suy luận theo một chuỗi có logic khoa học
có phê phán có nhận xét có sự diễn đạt các quá trình giải quyết vấn đề theo một logic
chặt chẽ, Tư duy hệ thống là suy luận một cách có hệ thống có cách nhìn bao quát hơn
khái quát hơn, tư duy trừu tượng là biết suy luận vấn đề một cách sáng tạo ngoài khuôn
khổ định sẵn.
Với bộ môn hoá học thì nét đặc thù là bộ môn khoa học tự nhiên, lại là môn
khoa học lý thuyết gắn liền với thực nghiệm. Quá trình nhận thức của học sinh trong bộ
môn hoá học được thể hiện qua việc quan sát, mô tả, giải thích các hiện tượng, các quá


8

trình biến đổi của chất, tư duy hoá học được hiểu là kĩ năng quan sát hiện tượng hoá

9

Tích cực hoá tất cả các dạng hoạt động nhận thức của học sinh : trong quá trình
dạy học hoá học học sinh cần phát triển cả hoạt động nhận thức tái hiện, sao chép và
hoạt động tích cực, chủ động bằng sự kết hợp hợp lý phương tiện và phương pháp dạy
học. Sự kết hợp hai yếu tố này giúp người giáo viên tích cực hoá được các dạng nhận
thức hoá học cho học sinh từ đơn giản đến phức tạp. Thực tế đã xác nhận rằng sự dạy
học hoá học tiến hành theo phương pháp dạy học nêu vấn đề sẽ làm tăng tính tích cực
nhận thức của học sinh vì trong các bước đi của dạy học nêu vấn đề - ơrixtic, học sinh
tích cực bắt tay vào hoạt động độc lập tìm kiếm kiến thức một cách sáng tạo.
Thường xuyên phát triển hứng thú nhận thức của học sinh : Trong lí luận
dạy học chỉ ra rằng hứng thú nhận thức là nguyên nhân - động cơ đầu tiên của hoạt
động nhận thức trong học sinh. Lí thuyết về giáo dục học và cả các nghiên cứu về
phương pháp dạy học chỉ ra rằng nếu không phát triển hứng thú của học sinh với hoá
học thì năng lực nhận thức của học sinh sẽ giảm đột ngột, đặc biệt là ở học kì một lớp
10, khi nghiên cứu hoá học hoàn toàn bằng kiến thức lí thuyết trừu tượng. Giáo viên
phải làm cho học sinh hiểu rõ mục đích, ý nghĩa các hoạt động của mình từ đó mới
hình thành được động cơ học tập. Việc kích thích hứng thú nhận thức của học sinh
được thực hiện bằng cách nghiên cứu các kiến thức lí thuyết xen kẽ với thí nghiệm,
tăng cường mối liên hệ lí thuyết với thực tế, sử dụng tích cực thí nghiệm với các tư
liệu lịch sử hoá học, tính hấp dẫn của các tình huống và tính chất các nguyên tố, tăng
cường mối liên hệ liên môn ...
Tăng dần mức độ phức tạp của hoạt động nhận thức học tập : Quy luật tâm
lý học về sự thống nhất hoạt động và nhận thức đã tạo ra các điều kiện để nâng cao tính
tích cực và tự giác của học sinh trong qúa trính giảng dạy. Trước hết là thường xuyên
đưa ra ý nghĩa và khả năng hoạt động, đặt ra mục đích học tập rõ ràng và đưa học sinh
vào hoạt động nhận thức. Yếu tố quan trọng để kích thích hoạt động nhận thức của học
sinh là đưa chúng tham gia vào giải quyết hệ thống phức tạp của các dạng bài tập nhận
thức hoá học và dần dần nâng cao tính độc lập của học sinh trong học tập.


sinh không chỉ đơn thuần là vận dụng kiến thức cũ mà cả tìm kiếm kiến thức mới và
vận dụng kiến thức cũ trong những tình huống mới.


11

1.2.2. Ý nghĩa, tác dụng của bài tập hóa học ở trường phổ thông
Trong quá trình dạy-học hoá học ở trường phổ thông, không thể thiếu bài tập.
Bài tập hoá học là một biện pháp hết sức quan trọng để nâng cao chất lượng dạy - học,
nó giữ một vai trò lớn lao trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo : Bài tập vừa là mục
đích, vừa là nội dung, lại vừa là phương pháp dạy học hiệu nghiệm. Nó cung cấp cho
học sinh kiến thức, con đường giành lấy kiến thức và cả hứng thú say mê nhận thức.
Bài tập hoá học có những ý nghĩa tác dụng to lớn về nhiều mặt :
1.2.2.1. Ý nghĩa trí dục
- Làm chính xác hoá các khái niệm hoá học. Củng cố, đào sâu và mở rộng kiến
thức một cách sinh động, phong phú, hấp dẫn. Chỉ khi vận dụng được kiến thức vào
giải bài tập thì học sinh mới thực sự nắm được kiến thức một cách sâu sắc.
- Ôn tập, hệ thống hoá kiến thức một cách tích cực nhất. Khi ôn tập học sinh dễ
rơi vào tình trạng buồn chán nếu chỉ yêu cầu họ nhắc lại kiến thức. Thực tế cho thấy
học sinh rất thích giải bài tập trong các tiết ôn tập.
- Rèn luyện kĩ năng hoá học như cân bằng phương trình phản ứng, tính toán
theo công thức hoá học và phương trình hoá học... Nếu là bài tập thực nghiệm sẽ rèn
các kĩ năng thực hành, góp phần vào việc giáo dục kĩ thuật tổng hợp cho học sinh.
- Rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống lao động sản
xuất bảo vệ môi trường.
- Rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ hoá học và các thao tác tư duy. Bài tập
hoá học là một phương tiện có tầm quan trọng đặc biệt trong việc phát triển tư duy hoá
học của học sinh, bồi dưỡng cho học sinh phương pháp nghiên cứu khoa học. Bởi vì
giải bài tập hoá học là một hình thức làm việc tự lực căn bản của học sinh. Trong thực
tiễn dạy học, tư duy hoá học được hiểu là kĩ năng quan sát hiện tượng hoá học, phân

Bài tập hoá học còn là phương tiện rất có hiệu quả để kiểm tra kiến thức, kĩ
năng của học sinh một cách chính xác. Trong quá trình dạy học, khâu kiểm tra đánh giá
và tự kiểm tra đánh giá việc nắm vững tri thức, kĩ năng kỹ xảo của học sinh có một ý
nghĩa quan trọng. Một trong những biện pháp để kiểm tra đánh giá kết quả học tập của
mình đó là làm bài tập. Thông qua việc giải bài tập của học sinh, giáo viên còn biết
được kết quả giảng dạy của mình, từ đó có phương pháp điều chỉnh, hoàn thiện hoạt
động dạy của mình cũng như hoạt động học của học sinh


13

1.2.3. Phân loại bài tập hóa học
Hiện nay, có nhiều cách phân loại bài tập khác nhau. Vì vậy, cần có cách nhìn tổng
quát về các dạng bài tập dựa vào việc nắm chắc các cơ sở phân loại
+ Dựa vào nội dung toán học của bài tập
- Bài tập định tính (không có tính toán).
- Bài tập định lượng (có tính toán)
+ Dựa vào nội dung của bài tập hóa học
- Bài tập định lượng.
- Bài tập lý thuyết.
- Bài tập thực nghiệm.
- Bài tập tổng hợp.
+ Dựa vào tính chất hoạt động học tập của học sinh
- Bài tập lý thuyết (không có tiến hành thí nghiệm).
- Bài tập thực nghiệm (có tiến hành thí nghiệm).
+ Dựa vào chức năng của bài tập
- Bài tập tái hiện kiến thức (hiểu, biết, vận dụng).
-Bài tập rèn luyện tư duy độc lập, sáng tạo (phân tích, tổng hợp, đánh giá )
+ Dựa vào kiểu hay dạng bài tập
- Bài tập xác định CTPT , CTCT của hợp chất.

- Bài tập mẫu.
- Bài tập tương tự xuôi ngược.
- Bài tập có biến đổi.
- Bài tập tổng hợp.
Ngoài ra, có thể dựa vào đặc điểm của hoạt động nhận thức có thể chia thành:
- Bài tập tái hiện: Bài tập yêu cầu HS nhớ lại, tái hiện kiến thức, kĩ năng đã học.
- Bài tập sáng tạo: Bài tập yêu cầu HS phải áp dụng những kiến thức, kĩ năng đã học
để giải quyết vấn đề trong tình huống mới, phải vận dụng phối hợp các kiến thức để
giải quyết vấn đề. Ở mức độ cao hơn, bài tập sáng tạo đòi hỏi HS giải quyết vấn đề
theo một hướng mới, một kĩ thuật mới, một phương pháp mới.
Trong thực tế dạy học, có hai cách phân loại bài tập có ý nghĩa hơn cả là phân
loại theo nội dung và theo dạng bài.


15
+

1.3. SỬ DỤNG BÀI TẬP NHƯ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC ĐỂ NÂNG CAO
HIỆU QUẢ HỌC TẬP[24],[26],[27],[28],[43],[44].
1.3.1. Sử dụng bài tập hóa học để kiểm tra kiến thức
Ở bất cứ công đoạn nào của quá trình dạy học đều có thể sử dụng bài tập. Khi
dạy học bài mới có thể dùng bài tập để vào bài, để tạo tình huống có vấn đề, để chuyển
tiếp từ phần này sang phần kia, để củng cố... Khi ôn tập củng cố và kiểm ta đánh giá thì
nhất thiết phải dùng bài tập.
Để phát triển kĩ năng và tính sáng tạo của học sinh, nâng cao tính tích cực độc
lập trong việc nắm vững kiến thức hoá học được thực hiện qua các dạng bài tập nhận
thức sau :
Bài tập mô tả : Bản chất là sự mô tả các đối tượng và hiện tượng nghiên cứu. Để
giải dạng bài tập này trong giảng dạy cần rèn luyện các kĩ năng và phương pháp quan
sát, đo đạc thực nghiệm hoá học. Dạng bài tập này có đặc điểm học sinh phải có thao

được phương pháp nhận ra vấn đề mới trong các tình huống quen thuộc hoặc thấy được
chức năng mới của đối tượng quen thuộc. Ví dụ: Viết phương trình phản ứng điều chế
khí NO từ các hoá chất sau : Cu, dung dịch NaHSO 4, dung dịch NaNO3 ? Thông
thường học sinh sẽ nghĩ đến phản ứng giữa Cu với HNO 3 loãng. Sau khi giải xong bài
tập học sinh sẽ rút ra tính oxi hoá của ion NO 3- trong môi trương axit cũng tương tự
như HNO3 loãng.
1.3.2. Sử dụng bài tập hóa học để hình thành các khái niệm hóa học cơ bản, cung
cấp và truyền thụ kiến thức
Ngoài việc dùng bài tập hoá học để củng cố kiến thức, rèn luyện kĩ năng hoá
học cho học sinh người giáo viên có thể dùng bài tập để tổ chức, điều khiển quá trình
nhận thức của học sinh hình thành khái niệm mới. Trong bài dạy hình thành khái niệm
học sinh phải tiếp thu, lĩnh hội kiến thức mới mà học sinh chưa biết hoặc chưa biết một
cách chính xác rõ ràng. Giáo viên có thể xây dựng, lựa chọn hệ thống bài tập phù hợp
để giúp học sinh hình thành khái niệm mới một cách vững chắc. Chẳng hạn để hình
thành khái niệm bazơ theo thuyết Bronsted (Lớp 11) thường thì giáo viên nêu định
nghĩa, cho học sinh vận dụng vào giải một số bài tập để hiểu đầy đủ khái niệm này, với
hình thức hoạt động này quá trình tiếp thu của học sinh vẫn mang tính thụ động. Để


17

tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh giáo viên có thể sử dụng bài tập sau để cho
học sinh tìm kiếm, hình thành khái niệm.
Đề bài :( GV đặt tình huống ) Nhúng 1 mẫu quỳ tim vào dd NH 3 thì quỳ tím
chuyển sang màu xanh . Em có kết luận gì về dd NH 3 . Hãy giải thích và viết ptpưv
chứng minh ?
Học sinh kết luận dd NH3 là một bazo vì có khả năng làm xanh quỳ tím , tức là NH3 đã
tác dụng với Nước tạo ion OH - . Trong phản ứng đó NH3 đã nhận proton ( H+) của
nước.
Từ đó học sinh tự rút ra khái niệm : Bazơ chất có khả năng nhận proton .


?

+ ?

+

?



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status