UỶ BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
TƢƠNG TÁC BIỂU TƢỢNG
TRONG CA TỪ TRỊNH CÔNG SƠN
Mã số đề tài: SV2014-09
Nhóm ngành: Khoa học xã hội
Chủ nhiệm đề tài: Tiêu Thị Lan
Thành viên tham gia:
1. Tiêu Thị Lan
2. Huỳnh Thịnh
3. Ngô Hoàn Toàn
4. Quách Khiếu Mi
5. Võ Thị Hoài Hân
Giáo viên hướng dẫn: TS. Trần Thị Phƣơng Lý
TP. Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2015
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................. 1
1. Lí do chọn đề tài ................................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề .................................................................................... 3
2.1 Lịch sử nghiên cứu biểu tượng ................................................................ 3
2.2 Lịch sử nghiên cứu tương tác biểu tượng ................................................ 5
2.3 Lịch sử nghiên cứu Trịnh Công Sơn ....................................................... 6
2.2.1. Tìm hiểu biểu tượng “Biển” .............................................................. 44
2.2.2. Sự tương tác giữa cặp đôi biểu tượng “Sông-Biển” và “BiểnNúi” ........................................................................................................................ 47
2.3.Cặp đôi biểu tượng “Dòng sông-Con đường” .................................................. 49
2.3.1. Tìm hiểu về biểu tượng “Con đường” ............................................... 49
2.3.2. Sự tương tác giữa cặp đôi biểu tượng “Con đường” với biểu
tượng “Dòng sông” và “Núi” ................................................................................. 50
2.4. Sự tương tác giữa biểu tượng “Con đường” và biểu tượng “Vườn” ............... 54
2.4.1. Tìm hiểu về biểu tượng “Vườn” ........................................................ 54
2.4.2. Sự tương tác giữa biểu tượng “Con đường” và “Vườn” ................... 55
2.5. Biểu tượng “Hoa” và tương tác giữa chuỗi biểu tượng phái sinh của nó........ 57
2.5.1. Biểu tượng “Hoa” .............................................................................. 57
2.5.2. Quan hệ đồng quy giữa chuỗi biểu tượng phái sinh của “Hoa” ........ 58
2.6. Biểu tượng “Núi” trong tương tác với “Vực thẳm” ........................................ 61
2.6.1. Biểu tượng “Vực thẳm” ..................................................................... 61
2.6.2. Sự tương tác giữa biểu tượng “Núi” và “Vực thẳm” ........................ 62
2.7. Biểu tượng “Lửa” và sự tương tác giữa chuỗi biểu tượng phái sinh của
nó ............................................................................................................................ 64
2.7.1. Biểu tượng “Lửa” .............................................................................. 64
2.7.2. Sự tương tác giữa chuỗi biểu tượng phái sinh của “Lửa” và
các biểu tượng văn hóa khác .................................................................................. 66
CHƯƠNG 3 : GIÁ TRỊ CỦA TƯƠNG TÁC BIỂU TƯỢNG
TRONG CA TỪ TRỊNH CÔNG SƠN
3.1. Giá trị thẩm mỹ ................................................................................................ 69
3.1.1. Tính biểu hiện .................................................................................... 69
3.1.2. Tính biểu cảm .................................................................................... 74
3.2. Giá trị phong cách ngôn ngữ ........................................................................... 80
3.2.1. Sáng tạo nên những biểu tượng mới lạ .............................................. 80
học giả khoa học hiện nay.
1.2. Từ ngàn xưa âm nhạc là một món ăn tinh thần không thể thiếu trong mỗi
đời sống của mỗi con người, riêng bản thân âm nhạc đem lại cho chúng ta những thú
vị về cảm xúc, về đời sống tinh thần qua những ca từ du dương của từng dòng nhạc.
“Tình khúc Trịnh Công Sơn”, “Những bài ca đi cùng năm tháng” hay “Tôi chỉ
là một tên hát rong đi qua miền đất này để hát lên những linh cảm của mình về những
1
giấc mơ đời hư ảo...” là những từ ngữ mà người ta thường hay dùng khi nhắc đến cái
tên Trịnh Công Sơn – người nhạc sĩ cùng những ca khúc vượt thời gian, du dương, da
diết, như ru con người ta đi vào giấc ngủ để chiêm nghiệm, để yêu thương tha thiết.
Nhắc đến Trịnh Công Sơn, một nhạc sĩ tạo dựng được cho mình một hình ảnh độc lập
bởi ca từ trong từng ca khúc và bởi giai điệu mang tên Trịnh Công Sơn, người ta vẫn
thường gọi ông cùng với các ca khúc của ông bằng tên gọi bình dị “Nhạc Trịnh”.
Là “tên mục đồng lãng du của thời đại”, Trịnh Công Sơn được xem là một
trong những nhạc sĩ viết lời ca hay nhất. Nhạc ngữ Trịnh rất mới và điều làm nên cái
mới lạ của con người Trịnh Công Sơn phần chính là nhờ vào vẻ đẹp của ca từ và các
biểu tượng ngôn ngữ, bởi qua đó ta có thể thấu hiểu tường tận thế giới quan, nhân sinh
quan và những triết lí sống của người nghệ sĩ này. Ca từ Trịnh Công Sơn có thể nói là
nơi chứa đựng một số lượng khá nhiều các biểu tượng thành một hệ thống và có mối
quan hệ tương tác lẫn nhau. Chính sự tương tác đặc sắc ấy đã hấp dẫn và lôi cuốn
hàng triệu trái tim người đọc. Để nhận xét về mối quan hệ giữa ca từ và âm nhạc của
Trịnh Công Sơn, nhạc sĩ Văn Cao từng viết: “Với những lời, ý đẹp và độc đáo đến bất
ngờ, hôn phối cùng một kết cấu đặc biệt như một hình thức của dân ca hầu như không
thay đổi, Trịnh Công Sơn đã chinh phục hàng triệu con tim...” [19] và nếu đi sâu hơn
vào các khía cạnh tu từ trong tác phẩm Trịnh Công Sơn, nhà phê bình Đặng Tiến từ
Paris trong một bài viết mới đây có nêu lên đặc điểm rằng: “lời ca ấy sử dụng nhiều
hình ảnh, biểu tượng bị xé lẻ, đi thẳng vào tâm tưởng người nghe, mà không đòi hỏi
họ phải hiểu nghĩa chính xác” [19]. Tìm hiểu tương tác biểu tượng trong ca từ Trịnh
của hai tác giả Jean Chevalier và Alain Gheerbrant đã tập hợp và giải thích ý nghĩa
các biểu tượng của thế giới thuộc các lĩnh vực khác nhau và bao quát được nhiều khu
vực văn hóa trên thế giới liên quan đến các phương diện: dân tộc học, xã hội học, tâm
lí học, thần thoại học, tôn giáo học,… Ngoài ra còn có một số cuốn từ điển khác cũng
đề cập đến các biểu tượng chung của thế giới như: Adictionary of symbols (Tom
Chetwynd), Diccionario de symbolos (Eduardo Cirlot), The migration of symbols
(Goblet d’ Alviella),… Ngoài ra sức hút của biểu tượng cũng được tiểu thuyết gia Dan
Brown thể hiện qua những sáng tác gây nhiều tiếng vang: Mật mã Da Vinci (The Da
Vinci code), Pháo đài số (Digital Fortress), Thiên thần và ác quỷ (Angels and
demons), Biểu tượng đánh mất (The lost symbol). Các tác phẩm này có một sức hấp
dẫn lớn bởi những bí ẩn được tạo ra từ các biểu tượng Cơ đốc giáo.
3
Ở Việt Nam có nhiều công trình nghiên cứu vấn đề biểu tượng: Kíhiệu học –
một số vấn đề cơ bản (Nguyễn Đức Dân) (Dẫn theo [26]), Tín hiệu và biểu trưng
trong tác phẩm Cuộc sống ở trong ngôn ngữ (Hoàng Tuệ) [22], Ý nghĩa biểu trưng
của các con số trong tiếng Việt (Đỗ Thị Hồng Nhung) (Dẫn theo [26]), Biểu tượng
nước trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp (Nguyễn Thị Hồng Ngân) (Dẫn theo [26]),
Tìmhiểu những nhân tố tác động đến ý nghĩa của biểu tượng (Nguyễn Thị Ngân Hoa)
(Dẫn theo [26]), Biểu tượng nước trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp (Nguyễn
Thị Hồng Ngân) (Dẫn theo [27]), Nhân học biểu tượng và các tiếp cận lí thuyết trong
nhân học biểu tượng (Đinh Hồng Hải) (Dẫn theo [27]), Biểu tượng “nước” trong thơ
ca dân gian và thơ ca hiện đại các dân tộc ít người (Nguyễn Thị Thanh Lưu) (Dẫn
theo [27]).Trên trang web thegioidienanh.vn cũng có đăng bài Một số biểu trưng trong
phim Việt Nam ở nước ngoài.
Trịnh Công Sơn - Ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật của tác giả Bùi Vĩnh
Phúc được xem là cuốn sách xuất sắc nói về ca từ trong âm nhạc của Trịnh Công Sơn.
Trong tập sách này, tác giả sử dụng phương pháp xếp chồng văn bản (superposition)
thêm những ý niệm của Mead. Tác phẩm được thừa nhận như là phát ngôn cho viễn
tưởng về thuyết tương tác biểu tượng.
Blumer cùng đồng nghiệp của mình là Everett Hughes có một sự ảnh hưởng
quan trọng đến một nhóm sinh viên mà ông đào tạo tại trường Đại học Chicago những
năm 40, 50. Nhóm người này, gồm cả một số học giả trứ danh như: Howard Becker,
Erving Goffman, và Anselm L. Strauss, đã phát triển hơn nữa viễn tưởng thuyết tương
tác biểu trưng. Blumer đưa ra 3 tiền đề trung tâm và chúng đã cung cấp phần cốt lõi
cho viễn tượng lí thuyết của họ. Blumer nhấn mạnh rằng các nghĩa của sự vật phái
sinh từ và xuất hiện thông qua sự tương tác xã hội. Con người biết được các sự vật có
nghĩa gì khi họ tương tác với nhau. Khái niệm lí thuyết tương tác biểu trưng là quan
điểm cho rằng các cá nhân trong quá trình tương tác qua lại với nhau không phản ứng
đối với các hành động trực tiếp của người khác mà đọc và lí giải chúng. Theo khái
niệm thì chúng ta luôn tìm được những ý nghĩa gán cho mỗi hành động cử chỉ đó tức
là các biểu tượng. Chỉ khi chúng ta đặt mình vào vị trí của đối tượng tương tác, ta mới
có thể hiểu hết ý nghĩa của những phát ngôn, những cử chỉ, hành động của họ. Ngôn
ngữ nói và viết được xem là hệ thống biểu tượng quan trọng bậc nhất của lí thuyết
tương tác biểu tượng.
5
Và chính các tác giả C.S.Peice, W.Jame, John Dewey,… là những người đã
đưa ra môt định hướng nghiên cứu mới: Sự tương tác biểu tượng trong phạm vi các
tác phẩm nghệ thuật ngôn từ. Theo đó, sự tương tác biểu tượng trong một tác phẩm
văn học được hiểu là mối quan hệ tác động qua lại giữa hệ thống các biểu tượng nhà
văn sử dụng. Các kiểu kết hợp, quan hệ khác nhau của các biểu tượng sẽ tạo ra những
ý nghĩa khác nhau, và phụ thuộc vào tài năng sáng tạo, sự trải nghiệm đời sống mang
đậm dấu ấn cá nhân của từng chủ thể.
Ở Việt Nam, số công trình khoa học nghiên cứu về lí thuyết tương tác biểu
tượng không nhiều. Người viết chủ yếu tìm thấy những bài dịch về lí thuyết tương tác
biểu tượng (biểu trưng) của tác giả Đinh Hồng Phúc từ những công trình khoa học của
Các công trình nghiên cứu của tác giả ngoài nước có thể kể đến như: luận văn
tiến sĩ của Yoshi Michiko (Dẫn theo [26]), một nhà nghiên cứu nữ của Nhật Bản, đã
dành tất cả đam mê để viết về ca từ của Trịnh và Ca khúc da vàng của ông. Luận văn
bảo vệ thành công với đồng loạt các điểm 10 tại ĐH Paris. Tiếp theo là những bài báo,
nhận định của những học giả tên tuổi như Mary Heibert (Mỹ) với bài viết Trịnh Công
Sơn, người sáng tác và trình diễn ca khúc, một Bob Dylan của Việt Nam ngày
06/05/1993 (Dẫn theo [26]); Patrich Sabatier (Pháp) với bài Kẻ du ca bất khuất – tạp
chí Libération năm 1994 (Dẫn theo [26]); Jean Claudepomonti (Pháp) với bài Trịnh
Công Sơn, người du ca của Việt Nam trên tạp chí Lemonde số ra ngày 04/04/2001
(Dẫn theo [26]). Và không thể không kể đến những bài báo khác của John Schafer
(Mỹ) với Ở xứ người xa xôi nhớ anh Trịnh Công Sơn (Dẫn theo [26]).
Những nhận định hầu hết bày tỏ sự yêu mến dành đến Trịnh Công Sơn và sự
ảnh hưởng của âm nhạc Trịnh đến tâm hồn người nghe. Đặc biệt là nỗi xúc động sâu
sắc trước lời ca của Trịnh. Có thể nói, Trịnh Công Sơn chiếm được một tình cảm đặc
biệt ưu ái từ báo chí và giới nghiên cứu ngoài nước. Nhạc ngữ của ông cũng được
đánh giá là những tác phẩm nghệ thuật đích thực làm lay động trái tim triệu con
người.
Ở trong nước, Trịnh Công Sơn được đánh giá là một nhạc sĩ thiên tài mà tên
tuổi của ông có ảnh hướng lớn đến đời sống âm nhạc, văn hóa của người Việt Nam.
Minh chứng là có hàng trăm bài báo, hàng chục cuốn sách dày dặn viết về ông. Đó là
Trịnh Công Sơn và cây đàn lya của hoàng tử bé của tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường,
xuất bản năm 2005 [23]. Đây là một tạp bút thể hiện cách cảm nhận về Nhạc phản
chiến, Tình ca Trịnh Công Sơn, Khônggian Huế trong
7
nhạc phẩm Trịnh Công
Sơncũng những câu chuyện kỉ niệm mà người bạn thân Hoàng Phủ Ngọc Tường có
dịp trải qua cùng nhạc sĩ.
Biểu tượng là vấn đề được nhiều học giả Việt Nam quan tâm, đặc biệt là ý
nghĩa biểu trưng của các con số và màu sắc. Có thể nói tác giả Bích Hạnh với công
trình Trịnh Công Sơn hạt bụi trong cõi thiên thu là người đi được xa nhất về việc
nghiên cứu biểu tượng trong ca từ, cụ thể là trong ca từ Trịnh Công Sơn.
Từ tổng quan lịch sử vấn đề nghiên cứu kể trên, chúng tôi nhận thấy rằng việc
có nhiều học giả, trong đó có các học giả Việt Nam đang tìm hiểu và nghiên cứu về
biểu tượng đủ cho thấy sự mới mẻ, hấp dẫn và cần thiết của việc nghiên cứu vấn đề
này trong giai đoạn hiện nay. Đồng thời, tương tác biểu tượng cũng là một lí thuyết
còn nhiều vấn đề cần được nghiên cứu, đặc biệt là tương tác biểu tượng trong tác
phẩm văn học nghệ thuật. Việc làm này trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết bởi đây là
một con đường mới và hiệu quả trong việc đi tìm cái hay cái đẹp của ngôn ngữ nghệ
thuật.
Có thể thấy rằng, sức hấp dẫn lạ kì của nhạc ngữ Trịnh Công Sơn đối với các
học giả là điều không cần bàn cãi, nhưng cho đến nay vẫn chưa có công trình khoa
học nào đi nghiên cứu về tương tác biểu tượng trong ca từ của ông. Từ sức hút của
biểu tượng, của tương tác biểu tượng đến vẻ đẹp chưa được khám phá hết trong ca từ
của Trịnh, tất cả những điều trên đòi hỏi phải có những nghiên cứu về tương tác biểu
tượng trong ca từ Trịnh Công Sơn. Lựa chọn đề tài nghiên cứu này, đề tài mong muốn
sẽ góp phần xác nhận khả năng ứng dụng của lí thuyết tương tác biểu tượng vào để
phân tích ngôn ngữ nghệ thuật, giúp khám phá những giá trị mới trong nhạc ngữ của
Trịnh, từ đó đánh giá đúng tầm phong cách nghệ thuật của Trịnh Công Sơn trong sáng
tạo ca từ.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, nghiên cứu của chúng tôi hướng đến những mục đích sau
đây:
- Xác nhận khả năng ứng dụng của lí thuyết tương tác biểu tượng vào để phân
tích ca từ Trịnh Công Sơn;
- Khám phá những giá trị mới trong nhạc ngữ của Trịnh Công Sơn;
9
10
6. Cấu trúc đề tài nghiên cứu
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, đề tài gồm có 3 chương như sau:
Chương 1. Những vấn đề lí thuyết liên quan đến đề tài
Chương 2. Khảo sát các tương tác biểu tượng trong ca từ Trịnh Công Sơn
Chương 3. Giá trị của tương tác biểu tượng trong ca từ Trịnh Công Sơn
Ở đề tài nghiên cứu này, vì đặc thù của đề tài, nên dung lượng chương 2 sẽ
được chúng tôi triển khai với số lượng trang viết dày hơn so hai chương còn lại.
11
NỘI DUNG CHÍNH
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Lí thuyết biểu tƣợng
1.1.1. Nguồn gốc hình thành biểu tƣợng
Biểu tượng là một khái niệm đang được đẩy mạnh nghiên cứu trên thế giới bởi
đến nay khái niệm biểu tượng vẫn là một lĩnh vực chứa đựng nhiều bí ẩn. Thuật ngữ
biểu tượng (symbol /symbole) bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp có nghĩa là hợp lại, tập trung
lại, tụ họp lại.
Ban đầu ý nghĩa của biểu tượng như là dấu hiệu để nhận diện. Nó là một vật
được cắt làm đôi. Ý nghĩa của thuật ngữ ngày có lẽ bắt nguồn từ tập tục của người Hi
Lạp cổ đại. Vào thời đó, người ta dùng một miếng đất sét nung, chia làm hai, mỗi
thành viên giữ một mảnh, sau này ráp hai mảnh lại thì cha mẹ con cái, hai người bạn,
chủ và khách, người cho vay và người đi vay sẽ nhận ra nhau. Các hội kín khi kết nạp
thành viên cũng sử dụng cách thức này. Mỗi thành viên sẽ được giao cho các mảnh vỏ
Biểu tượng trong tiếng Việt là một từ gốc Hán được dùng khá trừu tượng.
Theo Từ điển Tiếng Việt, biểu tượng có hai nghĩa, nghĩa thứ nhất là: “hình ảnh tượng
trưng,” nghĩa thứ hai là: “hình thức của nhận thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh
của sự vật còn giữ lại trong đầu óc khi tác động của sự vật vào giác quan ta đã chấm
dứt” [11,26]. Còn theoTừ điển tâm lí học của Vũ Dũng- NXB KHXH – 2000- cho
rằng: "Biểu tượng là hình ảnh các vật thể, cảnh tượng và sự kiện xuất hiện trên cơ sở
nhớ lại hay tưởng tượng. Khác với tri giác, biểu tượng có thể mang tính khái quát.
Nếu tri giác chỉ liên quan đến hiện tại, thì biểu tượng liên quan đến quá khứ và tương
lai." Còn symbol trong tiếng Anh là một từ bắt nguồn từ ngôn ngữ cổ ở châu Âu
(symbolus trong tiếng La Mã và symbolon trong tiếng Hy Lạp). Theo Từ điển Biểu
tượng của C.G.Liungman thì “những gì được gọi là biểu tượng khi nó được một nhóm
người đồng ý rằng nó có nhiều hơn một ý nghĩa là đại diện cho chính bản thân nó”.
Biểu tượng có tính đa nghĩa nhưng chúng ta có thể chia làm hai nghĩa chính là biểu
hình và biểu ý. Trên thế giới, thuật ngữ symbology được nhiều từ điển giải thích với
các ý nghĩa: là 1-Việc nghiên cứu hoặc sử dụng các biểu tượng và 2-Tập hợp các biểu
tượng (1: the study or use of symbols. 2: symbols collectively). Các từ điển nghệ thuật
có thêm một ý nghĩa là: 3-Nghệ thuật sử dụng các biểu tượng để nhắc đến một trào
13
lưu nghệ thuật thịnh hành ở châu Âu vào thế kỷ XIX. Như vậy, thuật
ngữ symbology trong tiếng Anh tương đương với nghiên cứu biểu tượng (hoặc biểu
tượng học) trong tiếng Việt.
Như vậy, biểu tượng là những hình ảnh của những sự vật, hiện tượng của thế
giới xung quanh, được hình thành trên cơ sở các cảm giác và tri giác đã xảy ra trước
đó, được giữ lại trong ý thức hay là những hình ảnh mới được hình thành trên cơ sở
những hình ảnh đã có từ trước. Biểu tượng không phải hoàn toàn là thực tế, bởi vì nó
là sự xây dựng lại thực tế sau khi đã được tri giác. Tuy nhiên, những hình ảnh đó cũng
không hoàn toàn là kết quả chủ quan xuất phát từ những hoạt động tâm trí của chủ thể.
Biểu tượng chính là hiện tượng chủ quan của đối tượng về hiện tượng khách quan đã
Trong quá trình tồn tại và phát triển, biểu tượng không hề giảm vai trò quan
trọng của nó vì chúng tiếp tục xuất hiện trong phim ảnh, văn học. Không những thế,
biểu tượng còn cho thấy tầm quan trọng trong lĩnh vực tâm lí học. Biểu tượng của giấc
mơ là một sản phẩm của ngành tâm lí học, các học giả cho rằng con người tri giác thế
giới không chỉ bằng các giác quan mà còn bằng tiềm thức. Biểu tượng của giấc mơ, nó
trở thành liệu pháp để điều trị các căn bệnh liên quan đến tâm lí. Khi giải thích được ý
nghĩa các biểu tượng trong giấc mơ thì chúng ta có thể chữa bệnh: bệnh suy nhược
thần kinh, bệnh mất trí nhớ.
Biểu tượng có vai trò nối kết con người ở những thế hệ khác nhau, bởi mỗi tập
thể người, mỗi thời đại, mối quốc gia có những biểu tượng của riêng mình. Khi chúng
ta rung động trước một biểu tượng nghĩa là chúng ta đã tham gia vào tập thể người,
vào thời đại hay quốc gia ấy mà không cần thông qua ngôn ngữ nói hay viết. Jean
Chevalier và Alain Gheerbrant khẳng định vai trò của biểu tượng: “Thời đại không có
biểu tượng là thời đại chết; xã hội thiếu biểu tượng là xã hội chết. Một nền văn minh
không còn có biểu tượng thì sẽ chết; nó chỉ còn thuộc về lịch sử” [2,XXXIII].
1.1.3. Những cách hiểu khác nhau về thuật ngữ “biểu tƣợng”
Từ trước đến nay có nhiều cách hiểu về thuật ngữ “symbol”. “Sự lẫn lộn này
khiến biểu tượng bị yếu đi, thoái hóa thành một dạng tu từ, thành kinh viện hay tầm
thường” [2, XVIII]. Chính việc có nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ dẫn đến
nhiều nhẫm lẫn đáng tiếc, cụ thể: khi thuật ngữ logo chưa ra đời thì symbol trong tiếng
Anh và symbole trong tiếng Pháp cũng được dùng để chỉ chung cho cả logo và biểu
tượng. Khi định nghĩa logo, Wikipedia Việt Nam cũng dùng từ biểu trưng để chỉ khái
niệm này, khiến cho người đọc nhầm tưởng khái niệm symbol và logo là một.Không
16
chỉ có sự nhầm lẫn giữa biểu tượng với logo mà người ta còn nhẫm lẫn thuật ngữ này
với khái niệm kí hiệu. Nguyên nhân là do các tác giả dùng thuật ngữ symbol như một
kí hiệu. Vì thế mà thuật ngữ symbol được Peirce và Saussure dùng theo hai cách khác
nhau. Đối với Saussure, ông dùng từ symbole với kí hiệu toán học, đại số học, khoa
đồ họa, biểu tượng còn có thể được hiện thực hóa thông qua sự tri nhận của con người
hoặc qua những sự vật cụ thể trong đời sống. Mỗi lĩnh vực có những định nghĩa khác
nhau về biểu tượng.
Tuy nhiên, dù khái niệm biểu tượng có nhiều cách hiểu khác nhau và không dễ
dàng gì định nghĩa nó, cuối cùng chúng ta cũng cần xác định lại thế nào là biểu tượng.
Vì vậy, Nguyễn Đức Dân trong Kíhiệu học một số vấn đề cơ bản, đề tài khoa học cấp
đại học quốc gia – TP.Hồ Chí Minh cho rằng: “Biểu tượng có thể là một đối tượng,
hình ảnh, từ ngữ, âm thanh hay những dấu hiệu đặc biệt dùng để biểu hiện những đối
tượng khác thông qua sự liên tưởng, sự giống nha, hay do qui ước.
Biểu tượng được dùng trong những ngành nghệ thuật, những tổ chức xã hội,
tôn giáo, những phạm trù tinh thần, tâm linh,…” (Dẫn theo [21]).
Biểu tượng luôn mang tính đa trị. Cấp độ đầu tiên của các biểu tượng là mẫu
gốc, khi đi vào đời sống thì các mẫu gốc có thể sản sinh ra nhiều biểu tượng khác
nhau. Khi nghiên cứu biểu tượng trước hết chúng ta cần lập một danh mục các biểu
tượng sau đó liệt kê các kiểu giải thích tiêu biểu nhất về các biểu tượng cụ thể.
1.2. Lí thuyết tƣơng tác biểu tƣợng
1.2.1. Sự chuyển hóa từ biểu tƣợng văn hóa sang biểu tƣợng ngôn từ nghệ
thuật
Biểu tượng đến với ta dưới dạng biến thể, không phải là một hằng số bất biến,
trừu tượng. Đó là kết quả của các quá trình chuyển hóa không ngừng giữa các cấp độ
của biểu tượng, từ khởi nguyên là các mẫu gốc (biểu tượng mẹ, cố định trong vô thức
tập thể) đến các biểu tượng văn hóa, biểu tượng nghệ thuật, biểu tượng ngôn từ).
Đi vào nghệ thuật ngôn từ - văn học, ca từ, biểu tượng (symbol) chuyển hóa
thành các từ - Biểu tượng (word symbol), hay là các biểu tượng ngôn từ nghệ thuật.
Như vậy, biểu tượng ngôn từ nghệ thuật (trong đó có ca từ) chính là kết quả của quá
trình hiện thực hóa các mẫu gốc biểu tượng trong đời sống tinh thần của nhân loại
bằng cái vỏ âm thanh hoặc chữ viết của ngôn ngữ, dưới sự tác động tích cực của một
chủ thể - tác giả, người sở hữu kinh nghiệm xã hội và trải nghiệm cá nhân riêng tư.
18
-
Thứ hai, những ý nghĩa vượt ra khỏi sự kiểm soát xã hội.
19
-
Thứ ba, ý nghĩa của sự vật được biến đổi thông qua quá trình tự phản ánh (self-
reflections) và tương tác (interaction) trong tư duy biểu tượng của mỗi cá nhân.
-
Thứ tư, con người sáng tạo lại thế giới theo sự trải nghiệm đời sống của chính
-
Thứ năm, những ý nghĩa này thoát ra khỏi sự tương tác nói trên, hình thành bởi
nó.
sự tự phản ánh mà mỗi cá nhân đem lại cho những cảnh huống (situation) của nó.
-
Thứ sáu, quá trình tương tác tự thân (self-interation) này gắn kết với những
tương tác xã hội và đến lượt chúng, ảnh hưởng tới sự tương tác xã hội đó. Điều này có
nghĩa là sự tương tác biểu tượng (symbolic interation), sự thống nhất và kết hợp giữa
mặt tự nó và mặt xã hội, là ý nghĩa chủ yếu mà qua đó bản thể của con người cố gắng
những ngữ cảnh cụ thể, gắn với những chủ thể tinh thần nhất định. Ý nghĩa của các
biểu tượng, hệ biểu tượng không phải là một mẫu chung sẵn có mà luôn là những biến
số nảy sinh trong quá trình tương tác với hàng loạt yếu tố khác. Sự gặp nhau giữa các
giá trị và ý nghĩa tạo nên những vùng hội tụ, giao thoa về nghĩa chứ không phải sự
diễn dịch từ một ý nghĩa sẵn có. Mỗi người nghệ sĩ, đặc biệt là nghệ sĩ ngôn từ, khi sử
dụng ngôn ngữ như một mã sẵn có, đã phải tìm cách tạo ra những lực tương hỗ mới để
thốt lên được một tiếng nói của riêng mình trong thế giới của các mã, các tín hiệu đã
được dùng đi dùng lại không biết bao nhiêu lần.
1.3. Vài nét về cuộc đời của Trịnh Công Sơn
Trịnh Công Sơn sinh ngày 28 tháng 2 năm 1939, mất ngày 1 tháng 4 năm 2001,
được xem là một trong những nhạc sĩ lớn nhất của Tân nhạc Việt Nam với nhiều tác
phẩm rất phổ biến. Theo thống kê chưa đầy đủ thì cho số tác phẩm để lại của ông ước
chừng không dưới 600 ca khúc và phần lớn là tình ca. Trong đó, số ca khúc của ông
được các thế hệ người hâm mộ biết đến rộng rãi là 236 ca khúc (cả lời và nhạc). Nhạc
của Trịnh Công Sơn được nhiều ca sĩ thể hiện, nhưng thành công hơn cả là Khánh Ly.
Ngoài ra sáng tác nhạc, ông còn tham gia vào lĩnh vực thơ ca, hội họa nhưng dấu ấn
không sâu đậm như mảng âm nhạc.
Ông sinh ra ở làng Minh Hương, tổng Vĩnh Tri, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa
Thiên-Huế. Ông lớn lên tại Huế,theo học các trường Lyceè Francais và Provindence
và sau vào Sài Gòn theo học triết học trường Tây Lycée Jean Jacques Rousseau Sài
Gòn và tốt nghiệp tú tài tại đây.
Đến năm 17 tuổi, ông sáng tác tác phẩm đầu tiên là bài Sương đêm và Sao
chiều vào. Nhưng tác phẩm được công bố đầu tiên của ông là Ướt mi, do nhà xuất bản
An Phú in năm 1959, được Thanh Thúy trình bày. Từ đó, tên tuổi của ông được nhiều
người biết đến hơn.
21